Thứ tư 23/09/2026 09:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.

Abstract: Sexual harassment in the workplace seriously affects the physical, mental and psychological health of workers, causing their work efficiency to decrease and the working environment to become unsafe. Therefore, international law and the laws of many countries have provisions to ensure a healthy working environment as well as protect the rights of workers. Vietnamese law has also set out provisions to prevent and limit sexual harassment in the workplace. This article focuses on clarifying the legal issues on preventing and combating sexual harassment in the workplace from the perspective of international law and Vietnamese law, thereby proposing some recommendations to improve the law on this issue in Vietnam.

Đặt vấn đề

Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới giúp thị trường lao động phát triển ngày càng mạnh mẽ, bên cạnh đó, cũng làm nảy sinh nhiều quan hệ xã hội trong lĩnh vực lao động cần được pháp luật điều chỉnh để bảo đảm các quan hệ này phát triển theo mục đích, định hướng của Nhà nước. Trong đó, phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc là vấn đề được pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam quan tâm. Trên thực tế, quấy rối tình dục tại nơi làm việc đã và đang diễn ra không ít, đặt ra nhiều vấn đề cần phải xử lý, giải quyết và ngăn chặn những hành vi này, hướng đến bảo vệ quyền lợi của người lao động.

1. Khái quát về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc

Phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc không chỉ được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật quốc gia mà còn được ghi nhận trên phương diện pháp luật quốc tế như Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 (UDHR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 (ICESCR) của Liên hợp quốc… Theo đó, Điều 3 UDHR quy định: "Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể"[1]; Điều 7 ICESCR quy định, mọi người được hưởng "những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh"[2]. Như vậy, trên cơ sở một số văn kiện pháp lý quốc tế, có thể hiểu, con người hay cụ thể hơn là người lao động, không chỉ được bảo đảm về tính mạng, sức khỏe, an toàn lao động trong công việc mà còn được hưởng điều kiện làm việc an toàn, lành mạnh, tức là người lao động sẽ được bảo vệ khỏi những hành vi xâm phạm đến thân thể mà người đó không mong muốn làm ảnh hưởng đến tâm lý, phẩm giá của con người.

Bên cạnh đó, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối năm 2019 (Công ước số 190). Công ước này khẳng định, mọi người đều có quyền làm việc trong một môi trường không có bạo lực và quấy rối, bao gồm cả bạo lực và quấy rối trên cơ sở giới; quấy rối tình dục tại nơi làm việc có thể cấu thành hành vi vi phạm quyền con người, đó cũng là mối đe dọa đối với những cơ hội bình đẳng, là hành vi không thể chấp nhận được và không phù hợp với một môi trường việc làm bền vững. ILO cũng nhấn mạnh, các quốc gia thành viên có trách nhiệm quan trọng trong việc thúc đẩy một môi trường làm việc không khoan nhượng đối với quấy rối tình dục nhằm tạo điều kiện cho việc ngăn ngừa những hành vi đó và tất cả các chủ thể trong môi trường làm việc đều có trách nhiệm phải kiềm chế, ngăn chặn và giải quyết vấn đề này. Bởi vì, quấy rối tình dục tại nơi làm việc sẽ làm ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe, nhân phẩm của con người nói chung và của người lao động nói riêng; nó cũng có thể làm cản trở người lao động phát triển trong thị trường lao động[3].

Ngoài ra, khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: "Quấy rối tình dục tại nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận. Nơi làm việc là bất kỳ nơi nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động". Như vậy, hành vi quấy rối tình dục có thể biểu hiện ở những dạng thức khác nhau, như bằng lời nói, không bằng lời nói, tác động đến tâm lý hoặc thể chất, cũng có thể gồm giao tiếp bằng văn bản và thông qua phương tiện điện tử hay theo dõi trên mạng... đồng thời, người bị xâm phạm không mong muốn hay chấp nhận hành vi này. Mặt khác, khái niệm này đã nêu ra vấn đề như thế nào được gọi là nơi làm việc và đã được hướng dẫn cụ thể tại Điều 84 Nghị định số 145/2020/ NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động (Nghị định số 145/2020/NĐ-CP). Theo đó, nơi làm việc là bất cứ địa điểm nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động, gồm cả những địa điểm hay không gian có liên quan đến công việc như các hoạt động xã hội, hội thảo, tập huấn, chuyến đi công tác chính thức, bữa ăn, hội thoại trên điện thoại...

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc là những biện pháp hạn chế, ngăn ngừa và xử lý những hành vi mang tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận tại nơi làm việc do pháp luật quy định.

2. Quy định của pháp luật quốc tế về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc

Pháp luật quốc tế đã có sự quan tâm, ghi nhận về vấn đề phòng, chống quấy rối tình dục, đặc biệt, Công ước số 190 là văn bản pháp lý quan trọng để các quốc gia thành viên nội luật hóa và đưa ra các biện pháp phòng ngừa đồng bộ. Phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế gồm những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, nhận diện về quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Việc xác định thế nào là quấy rối tình dục tại nơi làm việc sẽ giúp các chủ thể nhận diện được vấn đề và bảo vệ bản thân trước tình huống quấy rối xảy ra hoặc nhờ các cơ quan công quyền giúp đỡ. Trong Công ước số 190[4] đã đề cập đến việc nhận diện quấy rối tình dục tại nơi làm việc và biểu hiện của quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

- Về hành vi được xác định là hành vi quấy rối tình dục: những hành vi bạo lực và quấy rối trực tiếp nhằm vào con người do tính dục hay giới tính của họ, hay tác động tới con người thuộc tính dục và giới tính khác nhau mức độ khác nhau có thể là quấy rối tình dục. Những hành vi quấy rối không được chấp nhận hay những mối đe dọa từ hành vi đó có thể xảy ra một lần hoặc nhiều lần với mục đích gây ra hoặc có khả năng gây ra những tác hại về thể chất, tâm lý, tinh thần của con người tại nơi làm việc đều cần được loại bỏ. Hành vi này có thể thực hiện một cách trực tiếp, như những cử chỉ vuốt ve, động chạm, lời yêu cầu quan hệ tình dục... hoặc được thực hiện bằng những hình thức khác như gửi hình ảnh khiêu dâm, tin nhắn, email... Như vậy, hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc có thể được thực hiện bởi bất kỳ chủ thể nào và không giới hạn về chủ thể thực hiện hành vi đó.

- Về giới hạn xác định nơi làm việc: cần xác định rõ địa điểm nào được coi là nơi làm việc. Điều 3 Công ước số 190 nhấn mạnh về nơi làm việc gồm cả những không gian công và tư nơi diễn ra công việc; nơi người lao động được trả công, nghỉ ngơi hay nghỉ ăn ca, hay sử dụng phòng vệ sinh, tắm gội và thay đồ; trong các chuyến công tác hoặc di chuyển có liên quan đến công việc, khi đào tạo, trong các sự kiện hay các hoạt động xã hội; thông qua trao đổi thông tin có liên quan đến công việc gồm cả các hành vi được thực hiện thông qua công nghệ thông tin và truyền thông; tại nơi ở do người sử dụng lao động bố trí; khi di chuyển từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại.

Như vậy, quấy rối tình dục tại nơi làm việc có thể xảy ra khi thực hiện công việc hay những hoạt động liên quan đến công việc. Kẻ quấy rối có thể xác định mình thuộc bất kỳ giới tính nào và có bất kỳ mối quan hệ nào với nạn nhân, gồm người quản lý, đồng nghiệp hay cũng có thể là khách hàng.

Thứ hai, những biện pháp hạn chế và ngăn ngừa quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Quấy rối tình dục tại nơi làm việc có ảnh hưởng tiêu cực đến nạn nhân, một số người sẽ phải đối mặt với các vấn đề về sức khỏe, cảm xúc, thể chất hoặc tinh thần như rơi vào trầm cảm, mất động lực, mệt mỏi[5]..., từ đó làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc, ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động, người sử dụng lao động và xã hội. Để hạn chế và ngăn ngừa tình trạng này, không chỉ các chủ thể trong quan hệ lao động, gồm người sử dụng lao động, người lao động, tổ chức đại diện của người lao động mà Nhà nước cũng cần chung tay thực hiện. Công ước số 190[6] đã nêu rõ trách nhiệm của mỗi quốc gia phải quy định trách nhiệm của các chủ thể để thực hiện phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc: (i) với Nhà nước, cần phải ban hành luật quy định nghiêm cấm và các biện pháp ngăn chặn quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Cùng với đó, Nhà nước quy định trách nhiệm của các cơ quan công quyền, người sử dụng lao động, người lao động và tổ chức đại diện của người lao động về vấn đề này; (ii) với người sử dụng lao động, cần phải ban hành nội quy, quy chế về quấy rối tình dục tại nơi làm việc và khi ban hành, cần tham khảo ý kiến của người lao động, tổ chức đại diện của họ; triển khai các biện pháp ngăn ngừa quấy rối tình dục tại nơi làm việc; cung cấp cho người lao động và các chủ thể có liên quan những thông tin về quấy rối tình dục tại nơi làm việc bằng cách tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo; (iii) với người lao động và tổ chức đại diện của người lao động, phải đóng góp ý kiến cho người sử dụng lao động khi họ xây dựng nội quy, quy chế về quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Một số nước trên thế giới đang ghi nhận trách nhiệm chính trong việc phòng ngừa quấy rối tình dục tại nơi làm việc thuộc về người sử dụng lao động:

- Tại Hoa Kỳ, Mục VII Đạo luật Dân quyền năm 1964 quy định, người sử dụng lao động không được phép để bất kỳ ai bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc bởi bất kỳ ai khác, bất kể giới tính hoặc khuynh hướng tình dục. Như vậy, quy định này đặt ra để áp dụng cho người sử dụng lao động, theo đó, người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm cung cấp một môi trường làm việc không có quấy rối tình dục và các loại phân biệt đối xử khác.

- Tại Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Đạo luật Bảo vệ người lao động năm 2023 (sửa đổi Đạo luật Bình đẳng năm 2010) quy định, mọi người sử dụng lao động phải thực hiện các biện pháp hợp lý để ngăn chặn hành vi quấy rối tình dục đối với nhân viên của mình, cùng với đó, Tòa án sẽ có thẩm quyền tăng mức bồi thường lên tới 25% nếu họ phát hiện người sử dụng lao động đã vi phạm nghĩa vụ này.

- Tại Úc, theo Đạo luật Công bằng lao động, một cá nhân hoặc công ty có thể phải chịu trách nhiệm về hành vi quấy rối tình dục do nhân viên hoặc đại lý thực hiện liên quan đến công việc, bao gồm cả trường hợp họ có liên quan đến hành vi vi phạm của chủ sử dụng lao động. Điều này sẽ không áp dụng khi cá nhân hoặc công ty có thể chứng minh họ đã thực hiện mọi biện pháp hợp lý để ngăn chặn hành vi quấy rối tình dục.

Thứ ba, những biện pháp thực thi và xử lý quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Khi đặt ra các quy định về quấy rối tình dục tại nơi làm việc, các quốc gia cần phải có cơ chế giám sát thực thi pháp luật. Bên cạnh đó, phải có biện pháp xử lý những chủ thể thực hiện hành vi quấy rối và răn đe các chủ thể khác trong xã hội. Điều 10 Công ước số 190 quy định về việc thực thi và xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc như sau: bảo đảm việc dễ dàng tiếp cận với các biện pháp xử lý phù hợp và hiệu quả; các cơ chế thủ tục báo cáo và giải quyết khiếu nại trong trường hợp xảy ra bạo lực và quấy rối tại nơi làm việc như: thủ tục tố cáo và xác minh cũng như các cơ chế giải quyết khiếu nại tại nơi làm việc nếu thích hợp; các cơ chế giải quyết khiếu nại bên ngoài nơi làm việc; Tòa án... quy định các hình thức kỷ luật thích đáng đối với các trường hợp bạo lực và quấy rối tại nơi làm việc... Đó cũng là những chỉ dẫn để các quốc gia quy định về vấn đề này.

Những biện pháp xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc có thể được thực hiện bởi các chủ thể như cơ quan công quyền, người sử dụng lao động. Giải quyết quấy rối tình dục tại nơi làm việc có thể thực hiện qua các hình thức như gửi đơn khiếu nại, tố cáo hay đơn kiện đến các cơ quan công quyền được trao quyền xử lý quấy rối tình dục tại nơi làm việc; người sử dụng lao động quy định những hình thức xử lý kỷ luật làm căn cứ để tiến hành giải quyết khi có hành vi vi phạm xảy ra. Cùng với đó, người lao động đưa ra những viện dẫn hợp lý để chứng minh những nguy cơ bạo lực và quấy rối có thể xảy ra ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe hay sự an toàn của họ thì có thể từ chối làm việc để bảo vệ bản thân.

Như vậy, quy định của pháp luật quốc tế về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc là những chỉ dẫn, gợi mở để các quốc gia vận dụng phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của từng đất nước.

3. Quy định của pháp luật Việt Nam về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số vướng mắc, bất cập

Việc quy định về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc không chỉ nhằm bảo đảm quyền con người đối với người lao động mà còn thể hiện sự hội nhập của pháp luật Việt Nam với xu hướng pháp luật thế giới. Tại thời điểm Việt Nam ban hành văn bản hướng dẫn liên quan đến quấy rối tình dục tại nơi làm việc thì Công ước số 190 chưa có hiệu lực (Nghị định số 145/2020/NĐ-CP có hiệu lực vào tháng 02/2021, còn Công ước số 190 có hiệu lực vào tháng 6/2021), điều này cho thấy, pháp luật Việt Nam đã có những bước tiến trong vấn đề bảo vệ quyền của người lao động. Hiện nay, Việt Nam chưa phê chuẩn Công ước số 190 nhưng những văn bản pháp lý của Việt Nam đã phần nào cụ thể hóa tinh thần của Công ước này.

Thứ nhất, về nhận diện hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Pháp luật Việt Nam đã có những quy định về việc nhận diện hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc khá tương đồng với quy định của Công ước số 190. Cụ thể, khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 và khoản 3 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP đã chỉ rõ hành vi như thế nào được coi là quấy rối tình dục tại nơi làm việc và nơi làm việc gồm những địa điểm nào. Theo đó, pháp luật Việt Nam cũng xác định chủ thể thực hiện quấy rối tình dục tại nơi làm việc có thể là bất kỳ ai như: người sử dụng lao động, người quản lý, đồng nghiệp, khách hàng và chủ thể bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc cũng tương tự như vậy.

Mặc dù đã được tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc nhưng trên thực tế, nhận thức của người lao động về vấn đề này còn hạn chế, bởi vậy, họ chưa biết cách để xử lý khi xảy ra quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Theo khảo sát của tổ chức Women in News (WIN) tại Việt Nam, khi được hỏi, liệu tổ chức của họ có chính sách quấy rối tình dục hay không, 63% người tham gia nói không và chỉ 2,1% nói có và nhận thức được điều đó[7]. Do vậy, để xác định, nhận diện quấy rối tình dục tại nơi làm việc còn gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, về các biện pháp hạn chế và ngăn ngừa hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Tương tự như Công ước số 190, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận trách nhiệm của người sử dụng lao động, người lao động và tổ chức đại diện người lao động trong việc ngăn ngừa quấy rối tình dục tại nơi làm việc trong các đạo luật, văn bản hướng dẫn cụ thể.

Theo Điều 118 Bộ luật Lao động năm 2019 và Điều 85 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động phải quy định cụ thể về quấy rối tình dục tại nơi làm việc trong nội quy lao động của đơn vị hoặc quy định trong phụ lục ban hành kèm theo nội quy lao động. Tuy nhiên, người sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao động trở lên mới phải ban hành nội quy lao động bằng văn bản, còn với đơn vị sử dụng lao động dưới 10 người thì không bắt buộc ban hành nội quy lao động bằng văn bản[8]. Do vậy, những đơn vị sử dụng dưới 10 người lao động không ban hành nội quy lao động mà xảy ra quấy rối tình dục tại nơi làm việc sẽ giải quyết trên cơ sở quy định của pháp luật. Trong khi đó, pháp luật lao động hiện nay quy định về quấy rối tình dục tại nơi làm việc chỉ mang tính định hướng cho các đơn vị sử dụng lao động nên những đơn vị dưới 10 người lao động không có nội quy lao động sẽ gặp nhiều khó khăn khi giải quyết vấn đề quấy rối tình dục tại nơi làm việc nếu tình trạng này xảy ra.

Với người lao động và tổ chức đại diện của người lao động, để ngăn ngừa quấy rối tình dục tại nơi làm việc, pháp luật cũng ghi nhận trách nhiệm của các chủ thể này tại các khoản 2, 3 Điều 86 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP: người lao động cần tuân thủ, xây dựng môi trường làm việc không có quấy rối tình dục và tố cáo khi có hành vi này xảy ra tại nơi làm việc nhằm tạo nên môi trường làm việc an toàn. Tổ chức đại diện người lao động với vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động cần chung tay thực hiện ngăn ngừa quấy rối tình dục tại nơi làm việc bằng cách tham gia giám sát, xây dựng các quy định về phòng ngừa quấy rối tình dục tại nơi làm việc, tuyên truyền, phổ biến các quy định này, tư vấn, hỗ trợ cho người lao động bị xâm phạm quyền lợi. Tuy nhiên, các hoạt động này chưa phát huy được hiệu quả, bởi lẽ, về phía người lao động, còn e dè trong việc tố cáo hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc vì lo sợ sẽ ảnh hưởng đến danh dự, bên cạnh đó, nhận thức của người lao động về quấy rối tình dục tại nơi làm việc còn hạn chế; về phía tổ chức đại diện người lao động tại cấp cơ sở, chủ yếu là người lao động làm nhiệm vụ kiêm nhiệm nên chưa thực sự sát sao trong vấn đề này, đồng thời, có thể bị chi phối, ảnh hưởng từ phía người sử dụng lao động.

Thứ ba, về các biện pháp xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã có những quy định để xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc nhằm bảo vệ quyền của người lao động. Khi người lao động bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc, họ có thể tố cáo đến người sử dụng lao động hoặc gửi đơn tố cáo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền như thanh tra lao động để được bảo vệ quyền lợi.

- Về biện pháp xử lý trong lĩnh vực lao động: khi người lao động thực hiện hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc sẽ bị người sử dụng lao động xử lý kỷ luật lao động ở mức cao nhất là sa thải[9] (làm chấm dứt quan hệ lao động). Cùng với đó, Nhà nước cũng giao cho người sử dụng lao động quy định về bồi thường thiệt hại cho nạn nhân và biện pháp khắc phục hậu quả, do vậy, các quy định này sẽ mang ý chí chủ quan của người sử dụng lao động, dẫn đến các quy định có thể chưa đủ tính răn đe. Có thể thấy, trong phạm vi doanh nghiệp, pháp luật trao quyền cho người sử dụng lao động áp dụng chế tài với người lao động có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, nếu người thực hiện hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc là khách hàng, đối tác hay chính người sử dụng lao động thì không thể áp dụng chế tài này, bởi khách hàng, đối tác không chịu sự quản lý của người sử dụng lao động, còn người sử dụng lao động là chủ doanh nghiệp nên không thể sa thải họ. Như vậy, pháp luật lao động Việt Nam mới chỉ phòng ngừa quấy rối tình dục tại nơi làm việc trong phạm vi doanh nghiệp (giữa người sử dụng lao động với người lao động và giữa người lao động với người lao động) mà chưa điều chỉnh việc quấy rối tình dục tại nơi làm việc từ bên thứ ba (khách hàng, đối tác). Hơn nữa, nếu hành vi quấy rối tình dục do chính người sử dụng lao động thực hiện cũng chưa có chế tài phù hợp để giải quyết thực sự triệt để. Do vậy, cần có những quy định cụ thể hơn về nghĩa vụ của người sử dụng lao động phải bảo đảm môi trường làm việc an toàn, lành mạnh và trách nhiệm của họ khi để quấy rối tình dục tại nơi làm việc diễn ra.

- Về biện pháp xử lý hành chính: khi xảy ra quấy rối tình dục tại nơi làm việc, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền xử phạt hành chính với mọi chủ thể thực hiện hành vi vi phạm ở mức từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự[10]. Như vậy, với biện pháp xử lý hành chính thì có thể áp dụng với mọi đối tượng vi phạm, cả người sử dụng lao động, người lao động, khách hàng, đối tác hay bất kỳ ai.

Có thể thấy, pháp luật Việt Nam đã có sự tương thích ở mức độ nhất định với pháp luật quốc tế. Nhưng còn một số hạn chế cần khắc phục để quy định pháp luật có tính khả thi và bảo đảm hơn nữa quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động.

4. Một số kiến nghị

Để bảo đảm quyền được làm việc trong môi trường an toàn, lành mạnh cho người lao động, cần hoàn thiện pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục ở một số khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần xem xét, phối hợp với tổ chức đại diện của người sử dụng lao động (như Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam…), người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) tuyên truyền pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của người lao động về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc để họ có thể hiểu rõ, tự bảo vệ bản thân và quyền lợi của mình. Có thể tổ chức ngày phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc để nhấn mạnh hơn về vấn đề này.

Thứ hai, về các biện pháp hạn chế và ngăn ngừa hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Để ngăn ngừa hiệu quả tình trạng quấy rối tình dục tại nơi làm việc, người sử dụng lao động cần xây dựng quy tắc ứng xử phù hợp thực tiễn của doanh nghiệp và tham khảo Bộ Quy tắc ứng xử về quấy rối tình dục tại nơi làm việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội Vụ), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (nay là Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) công bố.

Bên cạnh đó, với những đơn vị không có nội quy lao động, pháp luật cần quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động phải thỏa thuận với người lao động về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trong hợp đồng lao động làm căn cứ để xử lý khi có hành vi vi phạm xảy ra nhằm bảo đảm quyền của người lao động.

Thứ ba, hoàn thiện chế tài trong việc phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Trong lĩnh vực lao động, pháp luật nên quy định cụ thể về bồi thường thiệt hại và các biện pháp khắc phục hậu quả khi hành vi quấy rối tình dục gây ra làm tổn thương về thể chất, tinh thần của người bị quấy rối. Bổ sung quy định xử lý hành vi quấy rối tình dục bởi các chủ thể ở phạm vi ngoài doanh nghiệp (đối tác, khách hàng...) và quy định trách nhiệm pháp lý của người sử dụng lao động nếu không thực hiện đầy đủ các biện pháp ngăn ngừa hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, như người sử dụng lao động sẽ phải bồi thường cho người lao động nếu không bảo đảm được môi trường làm việc không có quấy rối tình dục và bị xử phạt hành chính nếu không thực hiện đúng quy định về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Cùng với đó, biện pháp xử lý hành chính nên được nâng cao, có thể tăng gấp hai, gấp ba lần mức phạt hiện nay để tạo tính răn đe mạnh mẽ hơn nữa đến các chủ thể.

Thứ tư, nâng cao kỹ năng ứng phó với các tình huống quấy rối tình dục tại nơi làm việc cho người lao động thông qua đào tạo, hướng dẫn người lao động cách xử lý hay can thiệp an toàn khi chứng kiến hành vi không phù hợp. Thiết lập đường dây nóng (phản hồi, tố cáo, trao đổi thông tin…) để thường xuyên trao đổi, hướng dẫn cho người lao động, người sử dụng lao động khi gặp khó khăn, vướng mắc trong việc phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Thứ năm, Việt Nam nên nghiên cứu xem xét việc phê chuẩn Công ước số 190 khi các điều trên đã bảo đảm. Tăng cường hợp tác quốc tế, nhất là với các quốc gia có kinh nghiệm tốt trong việc hoàn thiện thể chế và ứng phó với tình trạng quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Chủ động, tích cực, tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ, thông lệ quốc tế; nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật của các nước để vận dụng phù hợp vào thực tiễn nước ta.

Thứ sáu, tăng cường thanh tra, kiểm tra nội quy lao động, việc thực hiện nội quy lao động, các quy định và thực hiện các quy định về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Kết luận

Giải quyết vấn đề về quấy rối tình dục tại nơi làm việc là thách thức đối với Việt Nam hiện nay nhằm bảo đảm môi trường làm việc an toàn, lành mạnh, hướng đến bảo vệ quyền lợi của người lao động. Để thực hiện được mục tiêu trên, cần nâng cao nhận thức của người lao động đi đôi với tăng cường hiệu quả tích cực trong thực thi pháp luật trong lĩnh vực này.

ThS. LÊ KHẮC THÀNH

Trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội

ThS. NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH

Khoa Luật, Trường Đại học Công đoàn

[1]. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Tuyen-ngon-quoc-te-nhan-quyen-1948-65774.aspx, truy cập ngày 10/02/2025.

[2]. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Cong-uoc-quoc-te-cac-quyen-kinh-te-xa-hoi-va-van hoa-1966-269761.aspx, truy cập ngày 10/02/2025.

[3]. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Cong-uoc-190-Cham-dut-Bao-luc-va-Quay-roi nam-2019-582373.aspx, truy cập ngày 10/02/2025.

[4]. Xem thêm các điều 1, 2, 3 Công ước số 190.

[5]. https://rainn.org/articles/sexual-harassment, truy cập ngày 10/02/2025.

[6]. Xem thêm các điều 7, 8, 9 Công ước số 190.

[7]. https://sexualharassment.womeninnews.org/research/wp-content/themes/win-sh-research-2021/reports/ SexualHarassmentInTheMedia-SEA-VI.pdf, truy cập ngày 10/02/2025.

[8]. Khoản 1 Điều 69 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP. 9. Khoản 2 Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019.

[10]. Khoản 3 Điều 11 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Thị Thanh Trúc & nhóm sinh viên, "Pháp luật về quấy rối tình dục tại nơi làm việc - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện", Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, https:// danchuphapluat.vn/phap-luat-ve-quay-roi-tinh-duc-tai noi-lam-viec-thuc-trang-va-giai-phap-hoan-thien, truy cập ngày 10/02/2025.

2. La Bá Hiền (2022), "Quấy rối tình dục tại nơi làm việc theo pháp luật lao động Việt Nam", Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Meritor Savings Bank v. Vinson, from Part II - The feminist judgments, https://www.cambridge.org/core/ books/abs/feminist-judgments/meritor-savings-bank-v vinson-477-us-57-1986/0E5CDF0AE6CD2B9AD0F4E A36D5069A2D, truy cập ngày 10/02/2025.

4. Nguyễn Hoàng Phương Thảo (2022), "Pháp luật lao động Việt Nam về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc - Thực trạng và hướng hoàn thiện", Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

5. Sexual Harassment, https://rainn.org/articles/ sexual-harassment truy cập ngày 10/02/2025.

6. "Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948", https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/ Tuyen-ngon-quoc-te-nhan-quyen-1948-65774.aspx, truy cập ngày 10/02/2025.

7. "Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966", https://thuvienphapluat.vn/van-ban/ Thuong-mai/Cong-uoc-quoc-te-cac-quyen-kinh-te-xa-hoi va-van-hoa-1966-269761.aspx, truy cập ngày 10/02/2025.

8. "Công ước số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối năm 2019 của ILO", https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen dan-su/Cong-uoc-190-Cham-dut-Bao-luc-va-Quay-roi nam-2019-582373.aspx, truy cập ngày 10/02/2025.

9. "Quấy rối tình dục trong báo chí truyền thông", https://sexualharassment.womeninnews.org/research/ wp-content/themes/win-sh-research-2021/reports/ SexualHarassmentInTheMedia-SEA-VI.pdf, truy cập ngày 10/02/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (425) tháng 3/2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: