Thứ ba 17/02/2026 03:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, tác giả khái quát về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, giải pháp “mềm” của Hiệp ước Basell II đối với vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng, từ đó đưa ra một số giải pháp về cơ chế chính sách, giải pháp về thanh tra, kiểm tra, giám sát và tiếp tục triển khai hiệu quả việc tái cơ cấu các tổ chức tín dụng nhằm quản lý hoạt động tài chính sở hữu chéo và đầu tư chéo trong lĩnh vực ngân hàng trong thời gian tới.

Sở hữu chéo từng là vấn đề nan giải, mang tính lịch sử của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn trước năm 2010. Trong thời gian gần đây, bằng nhiều giải pháp quyết liệt thông qua các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các biện pháp nghiệp vụ, ngân hàng nhà nước đã từng bước giải quyết, kiểm soát được vấn đề. Tuy nhiên, sở hữu chéo trong hệ thống tổ chức tín dụng đặc biệt là trong ngân hàng thương mại cần được xem xét dưới góc độ khoa học pháp lý; bài học kinh nghiệm từ các quốc gia; những phương pháp quản trị mới đặc biệt là xây dựng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và kiểm soát nội bộ theo Basel II để khắc phục triệt để những tác động tiêu cực, hướng đến việc xây dựng hệ thống tín dụng lành mạnh đạt chuẩn quốc tế.

1. Khái quát về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Sở hữu chéo nếu xét về khía cạnh kinh tế là việc huy động và sử dụng tổng hợp các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, nếu sở hữu chéo không được kiểm soát, quản lý chặt chẽ bởi pháp luật và nguyên tắc quản trị tài chính lành mạnh thì sở hữu chéo quá mức sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng, chi phối, gia tăng rủi ro cho toàn hệ thống. Giai đoạn trước năm 2010, kiểm soát tình hình sở hữu chéo, đầu tư chéo trong các TCTD chưa được quan tâm, chú trọng triệt để, quy định về giới hạn sở hữu trong TCTD và hạn chế sở hữu chéo còn chưa đầy đủ. Giai đoạn này đã hình thành các quan hệ sở hữu chéo và có nhiều tác động tiêu cực hơn là tích cực, ảnh hưởng đến thị trường tài chính - tiền tệ quốc gia, cụ thể như: Sở hữu cổ phần, góp vốn lẫn nhau giữa các TCTD, giữa TCTD với doanh nghiệp (sở hữu chéo trực tiếp lẫn nhau); sở hữu cổ phần, góp vốn giữa TCTD và doanh nghiệp thông qua các công ty con của doanh nghiệp hoặc công ty con của công ty con - công ty cháu (sở hữu cổ phần gián tiếp với nhau); một số nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) có sở hữu cổ phần đan xen với nhau và sở hữu cổ phần lẫn nhau; TCTD góp vốn, mua cổ phần của TCTD khác; cổ đông lớn (doanh nghiệp, cá nhân) và người liên quan có vốn góp, cổ phần tại nhiều TCTD.

Theo khoản 2 Điều 16 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Doanh nghiệp, thì hữu chéo là việc đồng thời hai doanh nghiệp có sở hữu phần vốn góp, cổ phần của nhau.

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 không quy định cụ thể khái niệm về sở hữu chéo, đầu tư chéo. Tuy nhiên, Luật này đưa ra một số quy định hạn chế sở hữu chéo, đầu tư chéo và quy định giới hạn sở hữu vốn điều lệ. Những quy định này có tác dụng trong việc hạn chế và xử lý những xung đột lợi ích thiểu số với lợi ích của TCTD, hạn chế rủi ro, thao túng, chi phối ngân hàng. Ngoài ra, để kiểm soát sở hữu chéo, đầu tư chéo được đồng bộ, có hiệu quả thì phải có các quy định đồng bộ điều chỉnh vấn đề này ở khu vực ngân hàng cũng như khu vực doanh nghiệp.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 quy định các biện pháp ngăn ngừa có hiệu quả việc phát sinh mới các TCTD được kiểm soát đặc biệt, xử lý triệt để tình trạng sở hữu chéo, vốn ảo trong hoạt động của TCTD; đồng thời kế thừa, bổ sung thêm các quy định nhằm nâng cao năng lực quản trị điều hành, xử lý tình trạng sở hữu chéo, ngăn ngừa nợ xấu mới, TCTD mới phát sinh, cụ thể:

- Những trường hợp chuyển nhượng phân vốn góp của thành viên góp vốn; chuyển nhượng cổ phần của cổ đông lớn, chuyển nhượng cổ phần dẫn đến cổ đông lớn trở thành cổ đông thường và ngược lại phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện. Ngân hàng Nhà nước căn cứ vào quy định này quản lý các cổ đông và người có liên quan đến cổ đông của các TCTD, phòng ngừa trường hợp mua bán chuyển nhượng cổ phần làm tăng tỷ lệ sở hữu chéo. Ngoài ra, khoản 6, khoản 7 Điều 126 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 quy định: TCTD không được cấp tín dụng để góp vốn, mua cổ phần của TCTD khác bao gồm cả hoạt động mua, đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp. Các quy định này nhằm minh bạch hóa nguồn vốn của cổ đông, ngăn ngừa tình trạng sở hữu chéo, hạn chế sự gia tăng vốn ảo trong hệ thống ngân hàng.

- Quy định trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ; quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với các chức danh quản lý, điều hành của các TCTD (Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc/Giám đốc). Những quy định này vừa ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời nâng cao nâng lực quản trị điều hành của TCTD.

- Quy định về trường hợp chào bán và chuyển nhượng cổ phần của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc) chuyển nhượng cho các nhà đầu tư khác nhằm thực hiện phương án xử lý pháp nhân dưới hình thức sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng toàn bộ vốn góp, cổ phần.

- Quy định thực hiện đặt hay không đặt các TCTD vào kiểm soát đặc biệt và cơ chế thực hiện việc kiểm soát đặc biệt thông qua: căn cứ xác định TCTD để đưa/không đưa vào diện kiểm soát đặt biệt; thẩm quyền, trách nhiệm xử lý, cơ cấu lại TCTD được kiểm soát đặc biệt; xây dựng phương án cơ cấu lại TCTD được kiểm soát đặc biệt; chấm dứt việc kiểm soát đặc biệt tại các TCTD,… Những quy định này nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định hiện hành góp phần xử lý các vướng mắc, bất cập trong quá trình kiểm soát các TCTD trong thời gian qua.

Tuy nhiên, sở hữu chéo là vấn đề có tính lịch sử, do đó việc giải quyết ngay và triệt để vấn đề này gặp nhiều khó khăn bởi các lý do sau:

- Các quan hệ sở hữu chéo đã tồn tại từ trước khi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực. Trong bối cảnh nền kinh tế và thị trường tài chính chưa có nhiều khởi sắc trong những năm gần đây thì việc yêu cầu thoái vốn, điều chỉnh các quan hệ sở hữu chéo, đầu tư chéo, cũng như điều chỉnh tỷ lệ sở hữu đảm bảo giới hạn theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng cũng cần có lộ trình thích hợp.

- Việc nhận diện chủ sở hữu “thực” là rất khó khăn do các quy định của pháp luật còn chưa hoàn thiện, nhất là các quy định về giới hạn sở hữu và kiểm soát sở hữu chéo.

2. Giải pháp “mềm” của Hiệp ước Basell II đối với vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng

Luật sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành là công cụ quan trọng, hữu hiệu để nhà nước quản lý và hạn chế vấn đề sở hữu chéo và đầu tư chéo trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, bên cạnh quy định của pháp luật, thì hệ thống ngân hàng cần nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro và quản lý nội bộ. Hiệp ước về vốn Basel II ra đời năm 2004 với các chuẩn mực tiên tiến đã đáp ứng được yêu cầu tự thân của ngành ngân hàng. Từ năm 2016, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thí điểm áp dụng Hiệp ước Basel II cho 10 ngân hàng: Vietcombank, VietinBank, BIDV, MB, Sacombank, Techcombank, ACB, VPBank, VIB và Maritime Bank.

Basel II là Hiệp ước với nguyên tắc chính dựa vào 03 trụ cột[1]: Yêu cầu vốn tối thiểu, rà soát giám sát, nguyên tắc thị trường - 03 trụ cột cơ bản được vận hành thông qua phương pháp quản lý rủi ro. Nếu các NHTM thực hiện tốt 03 trụ cột này, thì những biểu hiện chính không tốt của sở hữu chéo như tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu quá cao, cơ chế rà soát giám sát yếu do bị các cổ đông và người có liên quan cổ đông chi phối, công bố thông tin ra thị trường thiếu minh bạch cơ bản sẽ được khắc phục.

(i) Trụ cột 1: Hiệp ước Basel II quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) phải duy trì là 08% nhằm bù đắp cho những rủi ro mà ngân hàng đang nắm giữ. Tại thời điểm cuối năm 2017, ở Việt Nam, có một số trường hợp cá biệt có giá trị CAR quá cao như: NCB và EIB có hệ số CAR gần 20%; Dong A Bank, Oceanbank và Saigonbank… có hệ số CAR trên 20%. Trong khi đó, các NHTM lớn như BIDV có hệ số CAR chỉ quanh mức yêu cầu 09%[2]. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ ban hành quy định tỷ lệ an toàn vốn CAR theo phương pháp xếp hạng nội bộ dựa vào mức độ rủi ro của từng ngân hàng cụ thể. Như vậy, các ngân hàng có tỷ lệ an toàn thấp phải tăng tỷ lệ vốn tối thiểu, đồng nghĩa với việc phải tăng lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Điều này có thể làm giảm vị thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, các ngân hàng cần tính toán và hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro nhằm nỗ lực cải thiện tỷ lệ an toàn nội bộ.

(ii) Trụ cột 2: Đòi hỏi hoạt động kiểm soát nội bộ phải đặt ra thường xuyên và liên tục, đi vào hiệu quả thực chất tìm ra và giải quyết triệt để các rủi ro tiềm ẩn.

(iii) Trụ cột 3: Yêu cầu các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường. Hiệp ước Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này cung cấp thông tin minh bạch ra thị trường.

Như vậy, với việc quy định 03 trụ cột nêu trên của Hiệp ước Basel II, nếu xét riêng khía cạnh hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo, thì đã đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Tuy nhiên, qua thực tế hoạt động của các TCTD có thể thấy, tỷ lệ vốn an toàn thấp không đủ bù đắp rủi ro, còn thiếu hoạt động kiểm soát nội bộ để chỉ ra và giải quyết các rủi ro tiềm ẩn trước khi phát sinh. Vì vậy, đến thời điểm hiện tại, việc áp dụng chuẩn mực của Hiệp ước Basel II được xem là giải pháp “mềm” hỗ trợ xử lý các “biến tướng” tiêu cực của sở hữu chéo bên cạnh các quy định “cứng” của văn bản quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

3. Một số giải pháp nhằm quản lý hoạt động tài chính sở hữu chéo và đầu tư chéo trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Thứ nhất, về cơ chế chính sách

- Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các đề án, giải pháp để nâng cao năng lực quản trị rủi ro đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng; tăng cường hơn nữa việc triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 trong cuộc sống. Bên cạnh đó, nghiên cứu đưa khái niệm sở hữu chéo vào Luật để tạo mức độ ổn định, tính khả thi, giá trị pháp lý cao hơn.

- Tập trung xây dựng các văn bản hướng dẫn, phương pháp tiêu chuẩn, chuẩn mực về vốn của Hiệp ước Basel II góp phần xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, đặc biệt tăng cường trụ cột minh bạch hóa hoạt động ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị điều hành phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn hoạt động của các TCTD tại Việt Nam.

Thứ hai, giải pháp về thanh tra, kiểm tra, giám sát

- Tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát, kiểm tra, kiểm soát nội bộ của các TCTD trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về góp vốn, chuyển nhượng vốn, đầu tư tài chính, cho vay đầu tư, kinh doanh cổ phiếu.

- Nâng cao hiệu quả giám sát cổ đông và người có liên quan của cổ đông trong việc sở hữu, chuyển nhượng cổ phần và việc vay vốn. Theo đó, cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống thông tin về giao dịch cổ phiếu cũng như thông tin tín dụng của cổ đông và người có liên quan.

- Xử lý nghiêm các TCTD vi phạm quy định về cấp tín dụng, góp vốn, sở hữu, chuyển nhượng vốn, đầu tư tài chính, cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán.

Thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát để đánh giá việc các TCTD chấp hành quy định của pháp luật, đánh giá thực trạng nguồn vốn, cơ cấu sở hữu, mức độ ảnh hưởng đến vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu của các TCTD, kịp thời phát hiện, ngăn chặn cảnh báo, xử lý những rủi ro và vi phạm pháp luật về góp vốn, chuyển nhượng cổ phần.

Thứ ba, tiếp tục triển khai hiệu quả việc tái cơ cấu các TCTD

Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các văn bản, chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Theo đó, những nội dung chủ yếu cần quan tâm thực hiện trong thời gian tới là:

- Các NHTM nhà nước tiếp tục đóng vai trò chi phối trong hệ thống các TCTD: Thông qua nghiệp vụ tài chính tích cực nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu; sau cổ phần hóa vẫn giữ cổ phần chi phối của nhà nước; đẩy mạnh xây dựng mạng lưới phân phối, trong đó ưu tiên phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, khu vực nông nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và nông thôn.

- Các NHTMCP tập trung củng cố, chấn chỉnh toàn diện trên các mặt tài chính, quản trị và hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh. Tích cực mở rộng quy mô, đẩy mạnh tín dụng, huy động vốn, phát triển các dịch vụ thanh toán, mở rộng dịch vụ bán lẻ, tín dụng tiêu dùng.

- Ngân hàng Nhà nước tăng cường quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các TCTD nước ngoài bảo đảm an toàn hệ thống, đúng pháp luật, đúng với thông lệ quốc tế.

ThS. Nguyễn Quốc Trí
Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương



[1]. Xem thêm tại https://vi.wikipedia.org/wiki/ Basel_II.

[2]. ThS. Hoàng Thị Thu Hường, Hệ số an toàn vốn của các NHTM Việt Nam, Tạp chí Người đồng hành, tháng 10/2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.
Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện và mô hình dưỡng lão chuyên nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Sự kết hợp giữa y học cổ truyền với phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi được xem là hướng đi chiến lược, phù hợp với định hướng lớn của Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là nền tảng vững chắc để đẩy mạnh công tác chuẩn bị và tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, những điểm mới và yêu cầu đối với công tác bầu cử, làm rõ các nhiệm vụ trọng tâm về chuẩn bị nhân sự, công tác tuyên truyền, bảo đảm quyền của cử tri, cơ sở vật chất, hoạt động giám sát, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đồng chí Nguyễn Thị Thanh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định quyết tâm của Đảng ủy Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công cuộc bầu cử là hành động thiết thực để triển khai kịp thời khí thế, tinh thần chỉ đạo mạnh mẽ của Nghị quyết Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 của Bộ Chính trị.
Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: