Chủ nhật 28/06/2026 02:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, tác giả khái quát về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, giải pháp “mềm” của Hiệp ước Basell II đối với vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng, từ đó đưa ra một số giải pháp về cơ chế chính sách, giải pháp về thanh tra, kiểm tra, giám sát và tiếp tục triển khai hiệu quả việc tái cơ cấu các tổ chức tín dụng nhằm quản lý hoạt động tài chính sở hữu chéo và đầu tư chéo trong lĩnh vực ngân hàng trong thời gian tới.

Sở hữu chéo từng là vấn đề nan giải, mang tính lịch sử của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn trước năm 2010. Trong thời gian gần đây, bằng nhiều giải pháp quyết liệt thông qua các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các biện pháp nghiệp vụ, ngân hàng nhà nước đã từng bước giải quyết, kiểm soát được vấn đề. Tuy nhiên, sở hữu chéo trong hệ thống tổ chức tín dụng đặc biệt là trong ngân hàng thương mại cần được xem xét dưới góc độ khoa học pháp lý; bài học kinh nghiệm từ các quốc gia; những phương pháp quản trị mới đặc biệt là xây dựng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và kiểm soát nội bộ theo Basel II để khắc phục triệt để những tác động tiêu cực, hướng đến việc xây dựng hệ thống tín dụng lành mạnh đạt chuẩn quốc tế.

1. Khái quát về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Sở hữu chéo nếu xét về khía cạnh kinh tế là việc huy động và sử dụng tổng hợp các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, nếu sở hữu chéo không được kiểm soát, quản lý chặt chẽ bởi pháp luật và nguyên tắc quản trị tài chính lành mạnh thì sở hữu chéo quá mức sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng, chi phối, gia tăng rủi ro cho toàn hệ thống. Giai đoạn trước năm 2010, kiểm soát tình hình sở hữu chéo, đầu tư chéo trong các TCTD chưa được quan tâm, chú trọng triệt để, quy định về giới hạn sở hữu trong TCTD và hạn chế sở hữu chéo còn chưa đầy đủ. Giai đoạn này đã hình thành các quan hệ sở hữu chéo và có nhiều tác động tiêu cực hơn là tích cực, ảnh hưởng đến thị trường tài chính - tiền tệ quốc gia, cụ thể như: Sở hữu cổ phần, góp vốn lẫn nhau giữa các TCTD, giữa TCTD với doanh nghiệp (sở hữu chéo trực tiếp lẫn nhau); sở hữu cổ phần, góp vốn giữa TCTD và doanh nghiệp thông qua các công ty con của doanh nghiệp hoặc công ty con của công ty con - công ty cháu (sở hữu cổ phần gián tiếp với nhau); một số nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) có sở hữu cổ phần đan xen với nhau và sở hữu cổ phần lẫn nhau; TCTD góp vốn, mua cổ phần của TCTD khác; cổ đông lớn (doanh nghiệp, cá nhân) và người liên quan có vốn góp, cổ phần tại nhiều TCTD.

Theo khoản 2 Điều 16 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Doanh nghiệp, thì hữu chéo là việc đồng thời hai doanh nghiệp có sở hữu phần vốn góp, cổ phần của nhau.

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 không quy định cụ thể khái niệm về sở hữu chéo, đầu tư chéo. Tuy nhiên, Luật này đưa ra một số quy định hạn chế sở hữu chéo, đầu tư chéo và quy định giới hạn sở hữu vốn điều lệ. Những quy định này có tác dụng trong việc hạn chế và xử lý những xung đột lợi ích thiểu số với lợi ích của TCTD, hạn chế rủi ro, thao túng, chi phối ngân hàng. Ngoài ra, để kiểm soát sở hữu chéo, đầu tư chéo được đồng bộ, có hiệu quả thì phải có các quy định đồng bộ điều chỉnh vấn đề này ở khu vực ngân hàng cũng như khu vực doanh nghiệp.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 quy định các biện pháp ngăn ngừa có hiệu quả việc phát sinh mới các TCTD được kiểm soát đặc biệt, xử lý triệt để tình trạng sở hữu chéo, vốn ảo trong hoạt động của TCTD; đồng thời kế thừa, bổ sung thêm các quy định nhằm nâng cao năng lực quản trị điều hành, xử lý tình trạng sở hữu chéo, ngăn ngừa nợ xấu mới, TCTD mới phát sinh, cụ thể:

- Những trường hợp chuyển nhượng phân vốn góp của thành viên góp vốn; chuyển nhượng cổ phần của cổ đông lớn, chuyển nhượng cổ phần dẫn đến cổ đông lớn trở thành cổ đông thường và ngược lại phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện. Ngân hàng Nhà nước căn cứ vào quy định này quản lý các cổ đông và người có liên quan đến cổ đông của các TCTD, phòng ngừa trường hợp mua bán chuyển nhượng cổ phần làm tăng tỷ lệ sở hữu chéo. Ngoài ra, khoản 6, khoản 7 Điều 126 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 quy định: TCTD không được cấp tín dụng để góp vốn, mua cổ phần của TCTD khác bao gồm cả hoạt động mua, đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp. Các quy định này nhằm minh bạch hóa nguồn vốn của cổ đông, ngăn ngừa tình trạng sở hữu chéo, hạn chế sự gia tăng vốn ảo trong hệ thống ngân hàng.

- Quy định trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ; quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với các chức danh quản lý, điều hành của các TCTD (Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc/Giám đốc). Những quy định này vừa ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời nâng cao nâng lực quản trị điều hành của TCTD.

- Quy định về trường hợp chào bán và chuyển nhượng cổ phần của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc) chuyển nhượng cho các nhà đầu tư khác nhằm thực hiện phương án xử lý pháp nhân dưới hình thức sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng toàn bộ vốn góp, cổ phần.

- Quy định thực hiện đặt hay không đặt các TCTD vào kiểm soát đặc biệt và cơ chế thực hiện việc kiểm soát đặc biệt thông qua: căn cứ xác định TCTD để đưa/không đưa vào diện kiểm soát đặt biệt; thẩm quyền, trách nhiệm xử lý, cơ cấu lại TCTD được kiểm soát đặc biệt; xây dựng phương án cơ cấu lại TCTD được kiểm soát đặc biệt; chấm dứt việc kiểm soát đặc biệt tại các TCTD,… Những quy định này nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định hiện hành góp phần xử lý các vướng mắc, bất cập trong quá trình kiểm soát các TCTD trong thời gian qua.

Tuy nhiên, sở hữu chéo là vấn đề có tính lịch sử, do đó việc giải quyết ngay và triệt để vấn đề này gặp nhiều khó khăn bởi các lý do sau:

- Các quan hệ sở hữu chéo đã tồn tại từ trước khi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực. Trong bối cảnh nền kinh tế và thị trường tài chính chưa có nhiều khởi sắc trong những năm gần đây thì việc yêu cầu thoái vốn, điều chỉnh các quan hệ sở hữu chéo, đầu tư chéo, cũng như điều chỉnh tỷ lệ sở hữu đảm bảo giới hạn theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng cũng cần có lộ trình thích hợp.

- Việc nhận diện chủ sở hữu “thực” là rất khó khăn do các quy định của pháp luật còn chưa hoàn thiện, nhất là các quy định về giới hạn sở hữu và kiểm soát sở hữu chéo.

2. Giải pháp “mềm” của Hiệp ước Basell II đối với vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng

Luật sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành là công cụ quan trọng, hữu hiệu để nhà nước quản lý và hạn chế vấn đề sở hữu chéo và đầu tư chéo trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, bên cạnh quy định của pháp luật, thì hệ thống ngân hàng cần nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro và quản lý nội bộ. Hiệp ước về vốn Basel II ra đời năm 2004 với các chuẩn mực tiên tiến đã đáp ứng được yêu cầu tự thân của ngành ngân hàng. Từ năm 2016, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thí điểm áp dụng Hiệp ước Basel II cho 10 ngân hàng: Vietcombank, VietinBank, BIDV, MB, Sacombank, Techcombank, ACB, VPBank, VIB và Maritime Bank.

Basel II là Hiệp ước với nguyên tắc chính dựa vào 03 trụ cột[1]: Yêu cầu vốn tối thiểu, rà soát giám sát, nguyên tắc thị trường - 03 trụ cột cơ bản được vận hành thông qua phương pháp quản lý rủi ro. Nếu các NHTM thực hiện tốt 03 trụ cột này, thì những biểu hiện chính không tốt của sở hữu chéo như tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu quá cao, cơ chế rà soát giám sát yếu do bị các cổ đông và người có liên quan cổ đông chi phối, công bố thông tin ra thị trường thiếu minh bạch cơ bản sẽ được khắc phục.

(i) Trụ cột 1: Hiệp ước Basel II quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) phải duy trì là 08% nhằm bù đắp cho những rủi ro mà ngân hàng đang nắm giữ. Tại thời điểm cuối năm 2017, ở Việt Nam, có một số trường hợp cá biệt có giá trị CAR quá cao như: NCB và EIB có hệ số CAR gần 20%; Dong A Bank, Oceanbank và Saigonbank… có hệ số CAR trên 20%. Trong khi đó, các NHTM lớn như BIDV có hệ số CAR chỉ quanh mức yêu cầu 09%[2]. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ ban hành quy định tỷ lệ an toàn vốn CAR theo phương pháp xếp hạng nội bộ dựa vào mức độ rủi ro của từng ngân hàng cụ thể. Như vậy, các ngân hàng có tỷ lệ an toàn thấp phải tăng tỷ lệ vốn tối thiểu, đồng nghĩa với việc phải tăng lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Điều này có thể làm giảm vị thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, các ngân hàng cần tính toán và hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro nhằm nỗ lực cải thiện tỷ lệ an toàn nội bộ.

(ii) Trụ cột 2: Đòi hỏi hoạt động kiểm soát nội bộ phải đặt ra thường xuyên và liên tục, đi vào hiệu quả thực chất tìm ra và giải quyết triệt để các rủi ro tiềm ẩn.

(iii) Trụ cột 3: Yêu cầu các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường. Hiệp ước Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này cung cấp thông tin minh bạch ra thị trường.

Như vậy, với việc quy định 03 trụ cột nêu trên của Hiệp ước Basel II, nếu xét riêng khía cạnh hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo, thì đã đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Tuy nhiên, qua thực tế hoạt động của các TCTD có thể thấy, tỷ lệ vốn an toàn thấp không đủ bù đắp rủi ro, còn thiếu hoạt động kiểm soát nội bộ để chỉ ra và giải quyết các rủi ro tiềm ẩn trước khi phát sinh. Vì vậy, đến thời điểm hiện tại, việc áp dụng chuẩn mực của Hiệp ước Basel II được xem là giải pháp “mềm” hỗ trợ xử lý các “biến tướng” tiêu cực của sở hữu chéo bên cạnh các quy định “cứng” của văn bản quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

3. Một số giải pháp nhằm quản lý hoạt động tài chính sở hữu chéo và đầu tư chéo trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Thứ nhất, về cơ chế chính sách

- Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các đề án, giải pháp để nâng cao năng lực quản trị rủi ro đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng; tăng cường hơn nữa việc triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 trong cuộc sống. Bên cạnh đó, nghiên cứu đưa khái niệm sở hữu chéo vào Luật để tạo mức độ ổn định, tính khả thi, giá trị pháp lý cao hơn.

- Tập trung xây dựng các văn bản hướng dẫn, phương pháp tiêu chuẩn, chuẩn mực về vốn của Hiệp ước Basel II góp phần xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, đặc biệt tăng cường trụ cột minh bạch hóa hoạt động ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị điều hành phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn hoạt động của các TCTD tại Việt Nam.

Thứ hai, giải pháp về thanh tra, kiểm tra, giám sát

- Tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát, kiểm tra, kiểm soát nội bộ của các TCTD trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về góp vốn, chuyển nhượng vốn, đầu tư tài chính, cho vay đầu tư, kinh doanh cổ phiếu.

- Nâng cao hiệu quả giám sát cổ đông và người có liên quan của cổ đông trong việc sở hữu, chuyển nhượng cổ phần và việc vay vốn. Theo đó, cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống thông tin về giao dịch cổ phiếu cũng như thông tin tín dụng của cổ đông và người có liên quan.

- Xử lý nghiêm các TCTD vi phạm quy định về cấp tín dụng, góp vốn, sở hữu, chuyển nhượng vốn, đầu tư tài chính, cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán.

Thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát để đánh giá việc các TCTD chấp hành quy định của pháp luật, đánh giá thực trạng nguồn vốn, cơ cấu sở hữu, mức độ ảnh hưởng đến vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu của các TCTD, kịp thời phát hiện, ngăn chặn cảnh báo, xử lý những rủi ro và vi phạm pháp luật về góp vốn, chuyển nhượng cổ phần.

Thứ ba, tiếp tục triển khai hiệu quả việc tái cơ cấu các TCTD

Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các văn bản, chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Theo đó, những nội dung chủ yếu cần quan tâm thực hiện trong thời gian tới là:

- Các NHTM nhà nước tiếp tục đóng vai trò chi phối trong hệ thống các TCTD: Thông qua nghiệp vụ tài chính tích cực nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu; sau cổ phần hóa vẫn giữ cổ phần chi phối của nhà nước; đẩy mạnh xây dựng mạng lưới phân phối, trong đó ưu tiên phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, khu vực nông nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và nông thôn.

- Các NHTMCP tập trung củng cố, chấn chỉnh toàn diện trên các mặt tài chính, quản trị và hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh. Tích cực mở rộng quy mô, đẩy mạnh tín dụng, huy động vốn, phát triển các dịch vụ thanh toán, mở rộng dịch vụ bán lẻ, tín dụng tiêu dùng.

- Ngân hàng Nhà nước tăng cường quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các TCTD nước ngoài bảo đảm an toàn hệ thống, đúng pháp luật, đúng với thông lệ quốc tế.

ThS. Nguyễn Quốc Trí
Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương



[1]. Xem thêm tại https://vi.wikipedia.org/wiki/ Basel_II.

[2]. ThS. Hoàng Thị Thu Hường, Hệ số an toàn vốn của các NHTM Việt Nam, Tạp chí Người đồng hành, tháng 10/2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: