Thứ bảy 02/05/2026 00:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát huy vai trò của báo chí trong giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ việt nam hiện nay

Bài viết tập trung làm rõ sự phát triển và vai trò to lớn của báo chí trong giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ. Trên cơ sở xác định ba nhóm nội dung giá trị cơ bản, bài viết đề xuất ba giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của báo chí Việt Nam trong giáo dục thế hệ trẻ hiện na

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, sự phát triển của mạng internet và các phương tiện truyền thông, nghe nhìn kéo theo sự “bùng phát” của nhiều loại hình báo chí và thông tin, nhất là các nguồn thông tin trên mạng. Báo chí ngày càng tác động mạnh mẽ tới nhiều đối tượng độc giả, nhất là giới trẻ, cả mặt tích cực lẫn tiêu cực. Báo chí có ảnh hưởng rất lớn đối với giới trẻ, vì vậy, việc định hướng thông tin để nâng cao hiểu biết nhiều mặt, góp phần trau dồi đạo đức, nhân cách và tuyên truyền cho lối sống lành mạnh của giới trẻ phải trở mục tiêu cần được coi trọng, thường xuyên đối với mọi loại hình báo chí, nhất là những tờ báo có đối tượng chính là thanh thiếu niên.

“Giá trị là cái đáng quý, cái cần thiết, có ích lợi, có ý nghĩa, thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của con người, của giai cấp, nhóm, xã hội nói chung”[1]. Khi báo chí tham gia định hướng giá trị, làm công việc “giáo dục giá trị cho giới trẻ”, có nghĩa là báo chí đang tác động đến đối tượng của mình trong việc hình thành, thay đổi hệ giá trị của họ. Báo chí là một trong những con đường giáo dục giá trị rất sinh động và có diện bao phủ rộng đến các nhóm công chúng. Với khả năng cung cấp những thông điệp chung và phát tán nhanh (trong thời đại công nghệ số, tính định kỳ và khoảng cách thời gian từ khi thông điệp phát ra đến khi toàn bộ công chúng tiếp nhận có thể bằng 0), báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng là phương thức tác động hoàn toàn khác so với các con đường giáo dục truyền thống trong môi trường sự phạm với mối quan hệ thầy - trò, hay sự tác động của giáo dục gia đình.

Các phương tiện thông tin đại chúng càng hiện đại, phong phú thì sự tác động giáo dục giá trị đến giới trẻ càng cao, bởi lẽ, báo chí tác động đến con người nói chung và giới trẻ nói riêng hàng ngày, hàng giờ, mọi nơi, dần hình thành tất cả các giá trị trong hệ giá trị. Phương thức đặc thù trong giáo dục giá trị cho giới trẻ của báo chí là thông qua việc thông tin và phân tích, bình luận về sự kiện, vấn đề liên quan trực tiếp đến nhu cầu và thị hiếu của thanh thiếu niên, đồng cảm và tăng cường hoặc làm dịu những cảm xúc của người trẻ, hòa cùng và tiếp thêm khát vọng..., thông qua dư luận xã hội, để dần từng bước đưa từng giá trị vào trong ý thức lịch sử - văn hóa của họ, trong thế giới quan, lý tưởng, niềm tin... Việc chịu ảnh hưởng của truyền thông đại chúng trong giáo dục giá trị được tiến hành dần dần, rất tự nhiên.

Báo chí Việt Nam trong những năm qua đã khẳng định năng lực giáo dục giá trị cho giới trẻ. Các nhóm giá trị như: Giá trị cốt lõi (hòa bình, tự do, việc làm, gia đình, sức khỏe, an ninh, tự trọng, công lý, sống có mục đích, niềm tin, tính tự lập, giá trị nghề nghiệp, học vấn...), giá trị cơ bản (sáng tạo, tình bạn, tình yêu...), các giá trị có ý nghĩa (cuộc sống đầy đủ vật chất, các giá trị nghệ thuật, cái đẹp)... đều được chuyển tải qua thông điệp báo chí. Để đạt được kết quả giáo dục giá trị như đã nêu trên, các tờ báo đã tổ chức các chuyên trang, chuyên mục cung cấp kiến thức, trong đó có những câu chuyện về tình bạn, tình yêu, tình thương... thông qua đó phân tích, bình luận để giúp cho giới trẻ tự rút ra cho mình ý nghĩa của câu chuyện, của sự kiện, tự tìm ra những giá trị và mức độ ưu tiên của các giá trị đó. Báo chí Việt Nam, đặc biệt là các tờ báo dành cho tuổi vị thành niên và thanh niên như Mực Tím, Hoa học trò, Thanh Niên, Tiền Phong… đã đạt được hiệu quả rõ rệt với ba nhóm nội dung về giáo dục giá trị sau đây:

Nhóm một là, giáo dục đạo đức, lối sống và nhân cách cho giới trẻ. Giáo dục vị thành niên biết yêu thương con người, gia đình, Tổ quốc, nhân loại, sống có trách nhiệm xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc. Giáo dục giới trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có niềm tin vào bản thân.

Nhóm hai là, giáo dục giá trị của hòa bình, tự do, trật tự, an ninh tốt. Giáo dục giá trị của xã hội phồn vinh, thịnh vượng, văn minh, gia đình hạnh phúc, môi trường lành mạnh, trong sạch. Giáo dục sức khỏe, học vấn, sự năng động, sáng tạo, tự lập. Giáo dục lòng nhân ái, tình nghĩa, thủy chung, vị tha, độ lượng.

Nhóm ba là, giáo dục giới trẻ trọng sự hiếu học, thông minh, đoàn kết, cần kiệm, kiên trì, cởi mở, lạc quan. Giáo dục giới trẻ coi trọng các giá trị truyền thống, văn hóa dân tộc. Giáo dục giới trẻ coi trọng chữ tín, tôn trọng lẫn nhau, chấp nhận cạnh tranh trong môi trường toàn cầu, nhạy cảm với cái mới, sẵn sàng đương đầu với khó khăn thách thức của hội nhập quốc tế, kỷ luật trong học tập và lao động, sự hợp tác tích cực, sự lạc quan.

Để nâng cao hiệu quả trong giáo dục giá trị cho giới trẻ hiện nay, Báo chí Việt Nam nên sử dụng tổng hợp một số phương pháp cơ bản sau đây:

Thứ nhất, giáo dục giá trị cho giới trẻ bằng việc lựa chọn sự kiện để đưa tin, chân dung người tốt, việc tốt, cách đánh giá hành vi, cử chỉ, lời nói, việc làm... của các nhân vật, hoặc qua phân tích các sự kiện, vấn đề. Giáo dục giá trị bằng công cụ truyền thông đại chúng có cách thức, con đường hoàn toàn khác so với giáo dục trong gia đình hay nhà trường, không quá nặng về tính mô phạm. Ví dụ: Trong giải bóng đá U-23 châu Á, Báo chí Việt Nam đã rất thành công trong giáo dục giá trị cho giới trẻ bằng việc đưa tin về “kỳ tích” của Đội tuyển U-23 Việt Nam. Các báo đưa tin chi tiết về ý chí, nghị lực, sự quả cảm phi thường, tinh thần đoàn kết tập thể của toàn đội. Báo chí Việt Nam đã chứng minh sau khi Giải vô địch bóng đá U-23 châu Á kết thúc, “hiệu ứng” U-23 Việt Nam hiện đang được dư luận quan tâm hơn cả các ngôi sao nổi tiếng vốn là thần tượng của giới trẻ Việt Nam. Hơn hẳn những lời giáo huấn hoặc những thông điệp to lớn, câu chuyện trên báo chí về “hiện tượng” U-23 Việt Nam với những ngày luyện tập vất vả, hình ảnh xả thân, quả cảm, cùng với những lời phân tích, bình luận của các nhà báo, lời mô tả, nhận xét của các huấn luyện viên... đã có tác dụng rất tốt trong việc tác động tới giới trẻ.

Thứ hai, giáo dục giá trị thông qua việc thẩm định, đánh giá và định hướng dư luận trong việc định ra chuẩn mực giá trị. Những quan điểm sai lầm, những hành vi lệch chuẩn được báo chí đưa ra phân tích, mổ xẻ, tạo tương tác cũng đã tác động nhiều chiều đến công chúng. Khi sử dụng phương pháp tiếp cận giá trị, các nhà báo, nhà truyền thông cần hiểu rõ cơ chế tác động của truyền thông đại chúng đến công chúng, sử dụng kỹ thuật thiết kế thông điệp báo chí, học cách sử dụng linh hoạt các thể loại, các dạng bài báo chí để thực hiện mục tiêu giáo dục giá trị cho giới trẻ. Khi nêu và phân tích một sự kiện, vấn đề, cần phải kiểm tra khả năng tạo hiệu ứng giá trị với giới trẻ. Báo chí giáo dục giá trị bởi chính thông tin xác thực, khách quan, được lựa chọn dựa trên nguyên lý gắn với mục tiêu giáo dục giá trị. Đó không thể là những lời nói sáo rỗng, những khẩu hiệu chung chung, càng không thể là những phán xét chủ quan, kiểu “người trên” dành cho giới trẻ.

Thứ ba, giáo dục giá trị gắn với kỹ thuật quản lý hình ảnh và phân tích nhân vật trong truyền thông giáo dục. Chẳng hạn, trong bối cảnh hiện nay, khi giáo dục giá trị cần tập trung hơn vào việc lên án tính hình thức, tính thực dụng trong lối sống, thì việc đưa tin với tỷ lệ vượt trội các nhân vật trong giới “showbiz”, đặc biệt là nhân vật nhiều tai tiếng là một sai lầm cơ bản trong giáo dục giá trị trên phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và với việc ứng dụng phương pháp báo chí truyền thông tiếp cận giá trị nói riêng. Phân tích nội dung 278 tác phẩm báo chí về các nhân vật nổi tiếng trên hai tờ báo là Báo Tiền phong và Báo Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh năm 2017 cho thấy: 84,9% các nhân vật nổi tiếng được đăng báo là các ca sĩ, diễn viên, đạo diễn, người mẫu, hoa hậu, nhạc sĩ... Những nhân vật nổi tiếng là những người đem lại lợi ích cho cộng đồng chiếm 5%, số còn lại là nhà bác học, nhà báo, nhà thơ, nhà văn, nhà khoa học, vận động viên... Phân tích nội dung tác phẩm báo chí cũng cho kết quả 21,9% số bài viết về tai tiếng của các nhân vật[2]. Do chưa ý thức được vai trò của việc quản lý hình ảnh nhân vật, hai tờ báo trên đã tạo khuôn mẫu hình tượng cho giới trẻ là giới biểu diễn, đặc biệt là ca sĩ, diễn viên điện ảnh và người mẫu. Khuôn mẫu hình tượng của các nhà khoa học tài năng, những người có trái tim nhân hậu, sẵn sàng sống và cống hiến cho cộng đồng, cho nhân loại với những hành vi ý nghĩa hằng ngày ít được đề cập.

Để giáo dục giá trị trên báo chí cho giới trẻ, bản thân mỗi nhà báo, nhà truyền thông trước hết phải là một nhà giáo dục. Mỗi nhà báo có đủ kiến thức, kỹ năng, trách nhiệm xã hội và tuân thủ, tôn trọng các chuẩn mực đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp. Đi đôi với việc nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội của mỗi tờ báo, hiệu quả đọc báo còn phụ thuộc vào vai trò của nhà trường, gia đình trong giúp đỡ con em mình tìm đọc những tờ báo có nguồn thông tin bổ ích và phù hợp lứa tuổi. Có như vậy, báo chí Việt Nam mới thực hiện tốt chức năng giáo dục, khai sáng của báo chí nói chung và với thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng.

Nguyễn Quang Bình

Đại úy, Trường Sĩ quan Chính trị

Tài liệu tham khảo:

[1]. Giáo dục học hiện đại, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2011, tr.124.

[2]. Tác động của nhóm đề tài tình bạn, tình yêu trên báo in đối với sự phát triển nhân cách của tuổi vị thành niên, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2017, tr.29-30.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: