Thứ ba 21/04/2026 23:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát huy vai trò của báo chí trong giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ việt nam hiện nay

Bài viết tập trung làm rõ sự phát triển và vai trò to lớn của báo chí trong giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ. Trên cơ sở xác định ba nhóm nội dung giá trị cơ bản, bài viết đề xuất ba giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của báo chí Việt Nam trong giáo dục thế hệ trẻ hiện na

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, sự phát triển của mạng internet và các phương tiện truyền thông, nghe nhìn kéo theo sự “bùng phát” của nhiều loại hình báo chí và thông tin, nhất là các nguồn thông tin trên mạng. Báo chí ngày càng tác động mạnh mẽ tới nhiều đối tượng độc giả, nhất là giới trẻ, cả mặt tích cực lẫn tiêu cực. Báo chí có ảnh hưởng rất lớn đối với giới trẻ, vì vậy, việc định hướng thông tin để nâng cao hiểu biết nhiều mặt, góp phần trau dồi đạo đức, nhân cách và tuyên truyền cho lối sống lành mạnh của giới trẻ phải trở mục tiêu cần được coi trọng, thường xuyên đối với mọi loại hình báo chí, nhất là những tờ báo có đối tượng chính là thanh thiếu niên.

“Giá trị là cái đáng quý, cái cần thiết, có ích lợi, có ý nghĩa, thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của con người, của giai cấp, nhóm, xã hội nói chung”[1]. Khi báo chí tham gia định hướng giá trị, làm công việc “giáo dục giá trị cho giới trẻ”, có nghĩa là báo chí đang tác động đến đối tượng của mình trong việc hình thành, thay đổi hệ giá trị của họ. Báo chí là một trong những con đường giáo dục giá trị rất sinh động và có diện bao phủ rộng đến các nhóm công chúng. Với khả năng cung cấp những thông điệp chung và phát tán nhanh (trong thời đại công nghệ số, tính định kỳ và khoảng cách thời gian từ khi thông điệp phát ra đến khi toàn bộ công chúng tiếp nhận có thể bằng 0), báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng là phương thức tác động hoàn toàn khác so với các con đường giáo dục truyền thống trong môi trường sự phạm với mối quan hệ thầy - trò, hay sự tác động của giáo dục gia đình.

Các phương tiện thông tin đại chúng càng hiện đại, phong phú thì sự tác động giáo dục giá trị đến giới trẻ càng cao, bởi lẽ, báo chí tác động đến con người nói chung và giới trẻ nói riêng hàng ngày, hàng giờ, mọi nơi, dần hình thành tất cả các giá trị trong hệ giá trị. Phương thức đặc thù trong giáo dục giá trị cho giới trẻ của báo chí là thông qua việc thông tin và phân tích, bình luận về sự kiện, vấn đề liên quan trực tiếp đến nhu cầu và thị hiếu của thanh thiếu niên, đồng cảm và tăng cường hoặc làm dịu những cảm xúc của người trẻ, hòa cùng và tiếp thêm khát vọng..., thông qua dư luận xã hội, để dần từng bước đưa từng giá trị vào trong ý thức lịch sử - văn hóa của họ, trong thế giới quan, lý tưởng, niềm tin... Việc chịu ảnh hưởng của truyền thông đại chúng trong giáo dục giá trị được tiến hành dần dần, rất tự nhiên.

Báo chí Việt Nam trong những năm qua đã khẳng định năng lực giáo dục giá trị cho giới trẻ. Các nhóm giá trị như: Giá trị cốt lõi (hòa bình, tự do, việc làm, gia đình, sức khỏe, an ninh, tự trọng, công lý, sống có mục đích, niềm tin, tính tự lập, giá trị nghề nghiệp, học vấn...), giá trị cơ bản (sáng tạo, tình bạn, tình yêu...), các giá trị có ý nghĩa (cuộc sống đầy đủ vật chất, các giá trị nghệ thuật, cái đẹp)... đều được chuyển tải qua thông điệp báo chí. Để đạt được kết quả giáo dục giá trị như đã nêu trên, các tờ báo đã tổ chức các chuyên trang, chuyên mục cung cấp kiến thức, trong đó có những câu chuyện về tình bạn, tình yêu, tình thương... thông qua đó phân tích, bình luận để giúp cho giới trẻ tự rút ra cho mình ý nghĩa của câu chuyện, của sự kiện, tự tìm ra những giá trị và mức độ ưu tiên của các giá trị đó. Báo chí Việt Nam, đặc biệt là các tờ báo dành cho tuổi vị thành niên và thanh niên như Mực Tím, Hoa học trò, Thanh Niên, Tiền Phong… đã đạt được hiệu quả rõ rệt với ba nhóm nội dung về giáo dục giá trị sau đây:

Nhóm một là, giáo dục đạo đức, lối sống và nhân cách cho giới trẻ. Giáo dục vị thành niên biết yêu thương con người, gia đình, Tổ quốc, nhân loại, sống có trách nhiệm xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc. Giáo dục giới trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có niềm tin vào bản thân.

Nhóm hai là, giáo dục giá trị của hòa bình, tự do, trật tự, an ninh tốt. Giáo dục giá trị của xã hội phồn vinh, thịnh vượng, văn minh, gia đình hạnh phúc, môi trường lành mạnh, trong sạch. Giáo dục sức khỏe, học vấn, sự năng động, sáng tạo, tự lập. Giáo dục lòng nhân ái, tình nghĩa, thủy chung, vị tha, độ lượng.

Nhóm ba là, giáo dục giới trẻ trọng sự hiếu học, thông minh, đoàn kết, cần kiệm, kiên trì, cởi mở, lạc quan. Giáo dục giới trẻ coi trọng các giá trị truyền thống, văn hóa dân tộc. Giáo dục giới trẻ coi trọng chữ tín, tôn trọng lẫn nhau, chấp nhận cạnh tranh trong môi trường toàn cầu, nhạy cảm với cái mới, sẵn sàng đương đầu với khó khăn thách thức của hội nhập quốc tế, kỷ luật trong học tập và lao động, sự hợp tác tích cực, sự lạc quan.

Để nâng cao hiệu quả trong giáo dục giá trị cho giới trẻ hiện nay, Báo chí Việt Nam nên sử dụng tổng hợp một số phương pháp cơ bản sau đây:

Thứ nhất, giáo dục giá trị cho giới trẻ bằng việc lựa chọn sự kiện để đưa tin, chân dung người tốt, việc tốt, cách đánh giá hành vi, cử chỉ, lời nói, việc làm... của các nhân vật, hoặc qua phân tích các sự kiện, vấn đề. Giáo dục giá trị bằng công cụ truyền thông đại chúng có cách thức, con đường hoàn toàn khác so với giáo dục trong gia đình hay nhà trường, không quá nặng về tính mô phạm. Ví dụ: Trong giải bóng đá U-23 châu Á, Báo chí Việt Nam đã rất thành công trong giáo dục giá trị cho giới trẻ bằng việc đưa tin về “kỳ tích” của Đội tuyển U-23 Việt Nam. Các báo đưa tin chi tiết về ý chí, nghị lực, sự quả cảm phi thường, tinh thần đoàn kết tập thể của toàn đội. Báo chí Việt Nam đã chứng minh sau khi Giải vô địch bóng đá U-23 châu Á kết thúc, “hiệu ứng” U-23 Việt Nam hiện đang được dư luận quan tâm hơn cả các ngôi sao nổi tiếng vốn là thần tượng của giới trẻ Việt Nam. Hơn hẳn những lời giáo huấn hoặc những thông điệp to lớn, câu chuyện trên báo chí về “hiện tượng” U-23 Việt Nam với những ngày luyện tập vất vả, hình ảnh xả thân, quả cảm, cùng với những lời phân tích, bình luận của các nhà báo, lời mô tả, nhận xét của các huấn luyện viên... đã có tác dụng rất tốt trong việc tác động tới giới trẻ.

Thứ hai, giáo dục giá trị thông qua việc thẩm định, đánh giá và định hướng dư luận trong việc định ra chuẩn mực giá trị. Những quan điểm sai lầm, những hành vi lệch chuẩn được báo chí đưa ra phân tích, mổ xẻ, tạo tương tác cũng đã tác động nhiều chiều đến công chúng. Khi sử dụng phương pháp tiếp cận giá trị, các nhà báo, nhà truyền thông cần hiểu rõ cơ chế tác động của truyền thông đại chúng đến công chúng, sử dụng kỹ thuật thiết kế thông điệp báo chí, học cách sử dụng linh hoạt các thể loại, các dạng bài báo chí để thực hiện mục tiêu giáo dục giá trị cho giới trẻ. Khi nêu và phân tích một sự kiện, vấn đề, cần phải kiểm tra khả năng tạo hiệu ứng giá trị với giới trẻ. Báo chí giáo dục giá trị bởi chính thông tin xác thực, khách quan, được lựa chọn dựa trên nguyên lý gắn với mục tiêu giáo dục giá trị. Đó không thể là những lời nói sáo rỗng, những khẩu hiệu chung chung, càng không thể là những phán xét chủ quan, kiểu “người trên” dành cho giới trẻ.

Thứ ba, giáo dục giá trị gắn với kỹ thuật quản lý hình ảnh và phân tích nhân vật trong truyền thông giáo dục. Chẳng hạn, trong bối cảnh hiện nay, khi giáo dục giá trị cần tập trung hơn vào việc lên án tính hình thức, tính thực dụng trong lối sống, thì việc đưa tin với tỷ lệ vượt trội các nhân vật trong giới “showbiz”, đặc biệt là nhân vật nhiều tai tiếng là một sai lầm cơ bản trong giáo dục giá trị trên phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và với việc ứng dụng phương pháp báo chí truyền thông tiếp cận giá trị nói riêng. Phân tích nội dung 278 tác phẩm báo chí về các nhân vật nổi tiếng trên hai tờ báo là Báo Tiền phong và Báo Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh năm 2017 cho thấy: 84,9% các nhân vật nổi tiếng được đăng báo là các ca sĩ, diễn viên, đạo diễn, người mẫu, hoa hậu, nhạc sĩ... Những nhân vật nổi tiếng là những người đem lại lợi ích cho cộng đồng chiếm 5%, số còn lại là nhà bác học, nhà báo, nhà thơ, nhà văn, nhà khoa học, vận động viên... Phân tích nội dung tác phẩm báo chí cũng cho kết quả 21,9% số bài viết về tai tiếng của các nhân vật[2]. Do chưa ý thức được vai trò của việc quản lý hình ảnh nhân vật, hai tờ báo trên đã tạo khuôn mẫu hình tượng cho giới trẻ là giới biểu diễn, đặc biệt là ca sĩ, diễn viên điện ảnh và người mẫu. Khuôn mẫu hình tượng của các nhà khoa học tài năng, những người có trái tim nhân hậu, sẵn sàng sống và cống hiến cho cộng đồng, cho nhân loại với những hành vi ý nghĩa hằng ngày ít được đề cập.

Để giáo dục giá trị trên báo chí cho giới trẻ, bản thân mỗi nhà báo, nhà truyền thông trước hết phải là một nhà giáo dục. Mỗi nhà báo có đủ kiến thức, kỹ năng, trách nhiệm xã hội và tuân thủ, tôn trọng các chuẩn mực đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp. Đi đôi với việc nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội của mỗi tờ báo, hiệu quả đọc báo còn phụ thuộc vào vai trò của nhà trường, gia đình trong giúp đỡ con em mình tìm đọc những tờ báo có nguồn thông tin bổ ích và phù hợp lứa tuổi. Có như vậy, báo chí Việt Nam mới thực hiện tốt chức năng giáo dục, khai sáng của báo chí nói chung và với thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng.

Nguyễn Quang Bình

Đại úy, Trường Sĩ quan Chính trị

Tài liệu tham khảo:

[1]. Giáo dục học hiện đại, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2011, tr.124.

[2]. Tác động của nhóm đề tài tình bạn, tình yêu trên báo in đối với sự phát triển nhân cách của tuổi vị thành niên, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2017, tr.29-30.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: