Thứ ba 03/03/2026 22:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát huy vai trò của báo chí trong giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ việt nam hiện nay

Bài viết tập trung làm rõ sự phát triển và vai trò to lớn của báo chí trong giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ. Trên cơ sở xác định ba nhóm nội dung giá trị cơ bản, bài viết đề xuất ba giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của báo chí Việt Nam trong giáo dục thế hệ trẻ hiện na

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, sự phát triển của mạng internet và các phương tiện truyền thông, nghe nhìn kéo theo sự “bùng phát” của nhiều loại hình báo chí và thông tin, nhất là các nguồn thông tin trên mạng. Báo chí ngày càng tác động mạnh mẽ tới nhiều đối tượng độc giả, nhất là giới trẻ, cả mặt tích cực lẫn tiêu cực. Báo chí có ảnh hưởng rất lớn đối với giới trẻ, vì vậy, việc định hướng thông tin để nâng cao hiểu biết nhiều mặt, góp phần trau dồi đạo đức, nhân cách và tuyên truyền cho lối sống lành mạnh của giới trẻ phải trở mục tiêu cần được coi trọng, thường xuyên đối với mọi loại hình báo chí, nhất là những tờ báo có đối tượng chính là thanh thiếu niên.

“Giá trị là cái đáng quý, cái cần thiết, có ích lợi, có ý nghĩa, thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của con người, của giai cấp, nhóm, xã hội nói chung”[1]. Khi báo chí tham gia định hướng giá trị, làm công việc “giáo dục giá trị cho giới trẻ”, có nghĩa là báo chí đang tác động đến đối tượng của mình trong việc hình thành, thay đổi hệ giá trị của họ. Báo chí là một trong những con đường giáo dục giá trị rất sinh động và có diện bao phủ rộng đến các nhóm công chúng. Với khả năng cung cấp những thông điệp chung và phát tán nhanh (trong thời đại công nghệ số, tính định kỳ và khoảng cách thời gian từ khi thông điệp phát ra đến khi toàn bộ công chúng tiếp nhận có thể bằng 0), báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng là phương thức tác động hoàn toàn khác so với các con đường giáo dục truyền thống trong môi trường sự phạm với mối quan hệ thầy - trò, hay sự tác động của giáo dục gia đình.

Các phương tiện thông tin đại chúng càng hiện đại, phong phú thì sự tác động giáo dục giá trị đến giới trẻ càng cao, bởi lẽ, báo chí tác động đến con người nói chung và giới trẻ nói riêng hàng ngày, hàng giờ, mọi nơi, dần hình thành tất cả các giá trị trong hệ giá trị. Phương thức đặc thù trong giáo dục giá trị cho giới trẻ của báo chí là thông qua việc thông tin và phân tích, bình luận về sự kiện, vấn đề liên quan trực tiếp đến nhu cầu và thị hiếu của thanh thiếu niên, đồng cảm và tăng cường hoặc làm dịu những cảm xúc của người trẻ, hòa cùng và tiếp thêm khát vọng..., thông qua dư luận xã hội, để dần từng bước đưa từng giá trị vào trong ý thức lịch sử - văn hóa của họ, trong thế giới quan, lý tưởng, niềm tin... Việc chịu ảnh hưởng của truyền thông đại chúng trong giáo dục giá trị được tiến hành dần dần, rất tự nhiên.

Báo chí Việt Nam trong những năm qua đã khẳng định năng lực giáo dục giá trị cho giới trẻ. Các nhóm giá trị như: Giá trị cốt lõi (hòa bình, tự do, việc làm, gia đình, sức khỏe, an ninh, tự trọng, công lý, sống có mục đích, niềm tin, tính tự lập, giá trị nghề nghiệp, học vấn...), giá trị cơ bản (sáng tạo, tình bạn, tình yêu...), các giá trị có ý nghĩa (cuộc sống đầy đủ vật chất, các giá trị nghệ thuật, cái đẹp)... đều được chuyển tải qua thông điệp báo chí. Để đạt được kết quả giáo dục giá trị như đã nêu trên, các tờ báo đã tổ chức các chuyên trang, chuyên mục cung cấp kiến thức, trong đó có những câu chuyện về tình bạn, tình yêu, tình thương... thông qua đó phân tích, bình luận để giúp cho giới trẻ tự rút ra cho mình ý nghĩa của câu chuyện, của sự kiện, tự tìm ra những giá trị và mức độ ưu tiên của các giá trị đó. Báo chí Việt Nam, đặc biệt là các tờ báo dành cho tuổi vị thành niên và thanh niên như Mực Tím, Hoa học trò, Thanh Niên, Tiền Phong… đã đạt được hiệu quả rõ rệt với ba nhóm nội dung về giáo dục giá trị sau đây:

Nhóm một là, giáo dục đạo đức, lối sống và nhân cách cho giới trẻ. Giáo dục vị thành niên biết yêu thương con người, gia đình, Tổ quốc, nhân loại, sống có trách nhiệm xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc. Giáo dục giới trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có niềm tin vào bản thân.

Nhóm hai là, giáo dục giá trị của hòa bình, tự do, trật tự, an ninh tốt. Giáo dục giá trị của xã hội phồn vinh, thịnh vượng, văn minh, gia đình hạnh phúc, môi trường lành mạnh, trong sạch. Giáo dục sức khỏe, học vấn, sự năng động, sáng tạo, tự lập. Giáo dục lòng nhân ái, tình nghĩa, thủy chung, vị tha, độ lượng.

Nhóm ba là, giáo dục giới trẻ trọng sự hiếu học, thông minh, đoàn kết, cần kiệm, kiên trì, cởi mở, lạc quan. Giáo dục giới trẻ coi trọng các giá trị truyền thống, văn hóa dân tộc. Giáo dục giới trẻ coi trọng chữ tín, tôn trọng lẫn nhau, chấp nhận cạnh tranh trong môi trường toàn cầu, nhạy cảm với cái mới, sẵn sàng đương đầu với khó khăn thách thức của hội nhập quốc tế, kỷ luật trong học tập và lao động, sự hợp tác tích cực, sự lạc quan.

Để nâng cao hiệu quả trong giáo dục giá trị cho giới trẻ hiện nay, Báo chí Việt Nam nên sử dụng tổng hợp một số phương pháp cơ bản sau đây:

Thứ nhất, giáo dục giá trị cho giới trẻ bằng việc lựa chọn sự kiện để đưa tin, chân dung người tốt, việc tốt, cách đánh giá hành vi, cử chỉ, lời nói, việc làm... của các nhân vật, hoặc qua phân tích các sự kiện, vấn đề. Giáo dục giá trị bằng công cụ truyền thông đại chúng có cách thức, con đường hoàn toàn khác so với giáo dục trong gia đình hay nhà trường, không quá nặng về tính mô phạm. Ví dụ: Trong giải bóng đá U-23 châu Á, Báo chí Việt Nam đã rất thành công trong giáo dục giá trị cho giới trẻ bằng việc đưa tin về “kỳ tích” của Đội tuyển U-23 Việt Nam. Các báo đưa tin chi tiết về ý chí, nghị lực, sự quả cảm phi thường, tinh thần đoàn kết tập thể của toàn đội. Báo chí Việt Nam đã chứng minh sau khi Giải vô địch bóng đá U-23 châu Á kết thúc, “hiệu ứng” U-23 Việt Nam hiện đang được dư luận quan tâm hơn cả các ngôi sao nổi tiếng vốn là thần tượng của giới trẻ Việt Nam. Hơn hẳn những lời giáo huấn hoặc những thông điệp to lớn, câu chuyện trên báo chí về “hiện tượng” U-23 Việt Nam với những ngày luyện tập vất vả, hình ảnh xả thân, quả cảm, cùng với những lời phân tích, bình luận của các nhà báo, lời mô tả, nhận xét của các huấn luyện viên... đã có tác dụng rất tốt trong việc tác động tới giới trẻ.

Thứ hai, giáo dục giá trị thông qua việc thẩm định, đánh giá và định hướng dư luận trong việc định ra chuẩn mực giá trị. Những quan điểm sai lầm, những hành vi lệch chuẩn được báo chí đưa ra phân tích, mổ xẻ, tạo tương tác cũng đã tác động nhiều chiều đến công chúng. Khi sử dụng phương pháp tiếp cận giá trị, các nhà báo, nhà truyền thông cần hiểu rõ cơ chế tác động của truyền thông đại chúng đến công chúng, sử dụng kỹ thuật thiết kế thông điệp báo chí, học cách sử dụng linh hoạt các thể loại, các dạng bài báo chí để thực hiện mục tiêu giáo dục giá trị cho giới trẻ. Khi nêu và phân tích một sự kiện, vấn đề, cần phải kiểm tra khả năng tạo hiệu ứng giá trị với giới trẻ. Báo chí giáo dục giá trị bởi chính thông tin xác thực, khách quan, được lựa chọn dựa trên nguyên lý gắn với mục tiêu giáo dục giá trị. Đó không thể là những lời nói sáo rỗng, những khẩu hiệu chung chung, càng không thể là những phán xét chủ quan, kiểu “người trên” dành cho giới trẻ.

Thứ ba, giáo dục giá trị gắn với kỹ thuật quản lý hình ảnh và phân tích nhân vật trong truyền thông giáo dục. Chẳng hạn, trong bối cảnh hiện nay, khi giáo dục giá trị cần tập trung hơn vào việc lên án tính hình thức, tính thực dụng trong lối sống, thì việc đưa tin với tỷ lệ vượt trội các nhân vật trong giới “showbiz”, đặc biệt là nhân vật nhiều tai tiếng là một sai lầm cơ bản trong giáo dục giá trị trên phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và với việc ứng dụng phương pháp báo chí truyền thông tiếp cận giá trị nói riêng. Phân tích nội dung 278 tác phẩm báo chí về các nhân vật nổi tiếng trên hai tờ báo là Báo Tiền phong và Báo Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh năm 2017 cho thấy: 84,9% các nhân vật nổi tiếng được đăng báo là các ca sĩ, diễn viên, đạo diễn, người mẫu, hoa hậu, nhạc sĩ... Những nhân vật nổi tiếng là những người đem lại lợi ích cho cộng đồng chiếm 5%, số còn lại là nhà bác học, nhà báo, nhà thơ, nhà văn, nhà khoa học, vận động viên... Phân tích nội dung tác phẩm báo chí cũng cho kết quả 21,9% số bài viết về tai tiếng của các nhân vật[2]. Do chưa ý thức được vai trò của việc quản lý hình ảnh nhân vật, hai tờ báo trên đã tạo khuôn mẫu hình tượng cho giới trẻ là giới biểu diễn, đặc biệt là ca sĩ, diễn viên điện ảnh và người mẫu. Khuôn mẫu hình tượng của các nhà khoa học tài năng, những người có trái tim nhân hậu, sẵn sàng sống và cống hiến cho cộng đồng, cho nhân loại với những hành vi ý nghĩa hằng ngày ít được đề cập.

Để giáo dục giá trị trên báo chí cho giới trẻ, bản thân mỗi nhà báo, nhà truyền thông trước hết phải là một nhà giáo dục. Mỗi nhà báo có đủ kiến thức, kỹ năng, trách nhiệm xã hội và tuân thủ, tôn trọng các chuẩn mực đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp. Đi đôi với việc nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội của mỗi tờ báo, hiệu quả đọc báo còn phụ thuộc vào vai trò của nhà trường, gia đình trong giúp đỡ con em mình tìm đọc những tờ báo có nguồn thông tin bổ ích và phù hợp lứa tuổi. Có như vậy, báo chí Việt Nam mới thực hiện tốt chức năng giáo dục, khai sáng của báo chí nói chung và với thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng.

Nguyễn Quang Bình

Đại úy, Trường Sĩ quan Chính trị

Tài liệu tham khảo:

[1]. Giáo dục học hiện đại, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2011, tr.124.

[2]. Tác động của nhóm đề tài tình bạn, tình yêu trên báo in đối với sự phát triển nhân cách của tuổi vị thành niên, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2017, tr.29-30.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: