Chủ nhật 20/09/2026 19:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát huy vai trò của luật tục Êđê, M’Nông ở Tây Nguyên hiện nay

Tóm tắt: Luật tục là một dạng quy phạm xã hội, được hình thành từ phong tục, tập quán và tồn tại trong những điều kiện kinh tế còn tổ chức sơ khai, có vai trò điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong đời sống cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên. Bài viết này đề cập đến vai trò, những yếu tố tích cực và những mặt hạn chế của luật tục trong đời sống xã hội của đồng bào dân tộc Êđê, M’nông hiện nay.

Abstract: Customary law is a type of social norms formed from customs, habits and exists under primary economic circumstances and has the role of regulating social relations in the community life of ethnic people in the Central Highlands. This paper deals with the role, positive factors and limitations of customary law in the social life of ethnic people Ede, M’Nong at present.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển tư tưởng, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Là sản phẩm tinh thần được đúc kết qua quá trình lâu đời của cộng đồng người khá đông đảo, luật tục Êđê và luật tục M’nông được coi là điển hình tương đối của các tộc người ở Tây Nguyên. Do đặc điểm của quá trình hình thành và phát triển (điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội...), cũng như các luật tục khác, luật tục Êđê và M’nông bên cạnh những ưu điểm, tiến bộ, cũng tồn tại những hạn chế, nhất là những quy định mang tính “hủ tục” lạc hậu, do đó đã và đang có những tác động không nhỏ, cả tích cực lẫn tiêu cực đến việc thực hiện các quy định của pháp luật và quản lý xã hội trong mỗi cộng đồng dân cư. Vấn đề đặt ra là cần “gạn đục, khơi trong”, phát huy được vai trò với những nét ưu việt, tiến bộ của luật tục, hạn chế và đi đến loại bỏ những hủ tục lạc hậu..., hỗ trợ thực hiện tốt các quy định của pháp luật, góp phần ổn định an ninh nông thôn và phát triển kinh tế - xã hội trong vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, giải quyết một cách bền vững những vấn đề tiềm ẩn có thể bộc phát thành những tình huống phức tạp ở vùng đất này.

Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (khoản 1 Điều 60) và “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình (khoản 3 Điều 5). Những nội dung có tính hiến định này vừa gợi mở, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết về nghiên cứu bản sắc, phong tục, tập quán, truyền thống, văn hóa của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, trong đó có luật tục của các dân tộc Tây Nguyên. Thực tiễn cho thấy, vấn đề nghiên cứu luật tục ở nước ta nói chung và luật tục Êđê, M’nông nói riêng vừa có ý nghĩa bảo tồn văn hóa dân gian, vừa có ý nghĩa về xã hội học, về quản lý cộng đồng dân cư, quản lý xã hội ở cấp cơ sở... Ở cộng đồng người Êđê và người M’nông, bên cạnh pháp luật, việc sử dụng luật tục để điều chỉnh các mối quan hệ trong đời sống xã hội hàng ngày còn tương đối phổ biến. Luật tục đã, đang và sẽ tiếp tục có sự tác động quan trọng trong đời sống xã hội của cộng đồng người Êđê, M’nông.

1. Những yếu tố tích cực của luật tục Êđê, M’nông

Phạm vi điều chỉnh của luật tục tương đối rộng và bao quát, bao gồm hầu hết các quan hệ xã hội trong cộng đồng và có sự tương đồng với phạm vi điều chỉnh của pháp luật, vì vậy, nó là điều kiện quan trọng để hỗ trợ pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống cộng đồng thông qua việc kết hợp luật tục với pháp luật xây dựng thành quy chế tự quản (hương ước, quy ước) ở các buôn làng. Qua khảo sát các bản quy ước của các buôn làng đồng bào Êđê, M’nông tại tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông cho thấy, chúng đều được xây dựng dựa trên các phong tục, tập quán, luật tục và quy định của pháp luật, nội dung đề cập đến các vấn đề thiết thực trong đời sống hàng ngày tại cộng đồng dân cư, như: Xây dựng gia đình, buôn làng văn hóa; việc cưới, hỏi, tang lễ, lối sống người già, người trẻ; an ninh - trật tự; bảo vệ tài sản cộng đồng; giáo dục con cháu và người dân trong buôn; cách tổ chức thực hiện, khen thưởng, xử phạt...

Trong luật tục, tính cộng đồng được thể hiện rất rõ nét. Luật tục điều chỉnh mọi hành vi trong cộng đồng với mục đích là bảo vệ, gắn kết cộng đồng và không chống lại lợi ích cộng đồng... Nét độc đáo, tiến bộ của luật tục thể hiện ở chỗ nó không phải là những quy định cưỡng chế bắt buộc, mà là những quy định tạo sự tự nguyện, tự giác cao. Mọi thành viên trong cộng đồng đều tự nguyện thực hiện các quy ước của luật tục. Thói quen tự nguyện, tự giác thực hiện luật tục đó, nếu được kết hợp, phát huy tốt thì sẽ có tác dụng lớn trong việc giáo dục ý thức tự giác thực hiện pháp luật trong đồng bào.

Các hành vi vi phạm luật tục được xử lý rất nhanh chóng, thông qua việc áp dụng luật tục của những người có trách nhiệm như già làng cùng sức ép dư luận cộng đồng. Việc phân xử có hiệu lực ngay và rất ít trường hợp không thi hành. Việc xử lý cũng được chấp thuận từ phía các bên và thông thường không xảy ra tái phạm. Đây là yếu tố rất có giá trị khi nghiên cứu đưa vào quy chế tự quản của cộng đồng, giúp ban tự quản buôn làng kết hợp giải quyết có hiệu quả những vi phạm nhỏ, những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ ngay tại buôn làng, hạn chế tối đa việc kiện tụng, khiếu nại đến cơ quan nhà nước.

Luật tục thể hiện và chứa đựng nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp và giá trị đạo đức truyền thống của cộng đồng, của dân tộc, xuất phát từ những ước muốn và nguyện vọng chung của các thành viên được đề lên thành những nguyên tắc ứng xử chung. Luật tục thể hiện trách nhiệm đạo đức xã hội bằng những tiêu chí và trường hợp ứng xử cụ thể, góp phần giữ gìn bản sắc truyền thống văn hóa của tộc người đã hình thành từ lâu đời. Khi được kết hợp với pháp luật, luật tục góp phần tích cực trong việc giáo dục nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt đẹp của mỗi cá nhân trong cộng đồng, bảo đảm ổn định trật tự, đề cao trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc duy trì cuộc sống tương thân tương ái của buôn làng. Điều đó cũng lý giải vì sao trong cộng đồng người dân tộc Êđê cũng như M’nông trước đây hầu như không có tình trạng trộm cắp xảy ra (nếu có thì do người nơi khác đến gây ra), tài sản, hoa lợi thậm chí sau khi thu hoạch đồng bào không mang về nhà, để luôn ngoài rẫy mà không lo bị mất cắp. Trong thực tế, cuộc sống tại các buôn làng người Êđê, M’nông rất yên bình, đồng bào rất coi trọng nghĩa tình, nếu có mâu thuẫn, xích mích thì đề cao việc hòa giải, và một khi đã được hòa giải (theo luật tục phải cúng thần linh), thì tuyệt đối không được khơi lại và không còn hiềm khích với nhau nữa... Với đặc điểm ưu việt này, nếu được kết hợp một cách hài hòa với công tác hòa giải ở cơ sở hiện nay, thì chắc chắn rằng hoạt động của các tổ hòa giải tại các thôn, buôn đồng bào dân tộc Êđê, M’nông sẽ đạt được hiệu quả cao.

Một yếu tố khác hết sức quan trọng, góp phần tạo nên những tác động tích cực của luật tục trong thực hiện pháp luật của đồng bào dân tộc Êđê, M’nông, đó là vai trò của các già làng (người được suy tôn theo luật tục - khác với trưởng buôn do dân bầu theo quy định của pháp luật). Đối với cộng đồng, già làng có vai trò thủ lĩnh. Sự kính trọng, tôn sùng của dân làng đối với già làng từ kết quả mang tính thuyết phục. Trong nhiều trường hợp, nếu có sự đồng ý của già làng thì việc tổ chức, quản lý của chính quyền cơ sở đạt kết quả cao. Trong công tác dân vận, vai trò của già làng hết sức quan trọng, là đầu mối trực tiếp liên hệ giữa chính quyền đối với bà con; cầu nối đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào, làm cho người dân hiểu và làm theo. Ở các buôn làng Êđê, M’nông hiện nay, vai trò của già làng thể hiện rõ nét nhất trong việc động viên bà con cùng tham gia xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước. Già làng phối hợp với trưởng thôn, buôn vận động nhân dân đóng góp kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường, đặc biệt là hòa giải mâu thuẫn, tập hợp đoàn kết, thực hiện các phong trào do chính quyền, các đoàn thể... phát động như: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống, góp phần cải thiện môi trường văn hóa, giáo dục, làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, cộng đồng và từng gia đình. Nhờ đó, việc tang, cưới xin, lễ hội dần dần theo nếp sống mới, trở thành chỉ tiêu thi đua của mỗi buôn làng, góp phần đẩy lùi tệ nạn mê tín dị đoan, các tập tục lạc hậu, xây dựng và thực hiện những tập quán dùng nước sạch, khi ốm đau đến khám, chữa bệnh tại các trạm y tế xã, bệnh viện...

2. Những mặt hạn chế của luật tục Êđê, M’nông

Bên cạnh những yếu tố tích cực, trong luật tục Êđê, M’nông cũng có quy định lạc hậu với xã hội hiện nay, mâu thuẫn với pháp luật, hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và sự phát triển của cộng đồng..., đó là những yếu tố tác động tiêu cực nhất định trong đời sống xã hội của cộng đồng, cụ thể:

Thứ nhất, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Luật tục không quy định cụ thể về độ tuổi kết hôn, thường khi thấy con cái đã phát triển đầy đủ về thể chất (khoảng 15 - 16 tuổi), cha mẹ có thể cho con lấy vợ hoặc lấy chồng... Vì vậy, tình trạng tảo hôn trong cộng đồng Êđê, M’nông vẫn còn phổ biến. Người Êđê, M’nông cũng thực hiện chế độ ngoại hôn. Tuy nhiên, họ không theo quan niệm về trực hệ huyết thống và trong phạm vi ba đời (như quy định của Luật Hôn nhân và gia đình), mà thực hiện theo quan niệm về dòng họ. Theo đó, người trong cùng một dòng họ, dù xa hay gần, cách nhau hàng bao nhiêu đời cũng không được kết hôn với nhau. Nếu vi phạm thì bị coi là loạn luân và bị phạt vạ nặng. Để thực hiện nguyên tắc ngoại hôn, các dòng họ đều có gia phả xác định gốc tích và các thế hệ của dòng họ mình. Với quan niệm về chế độ ngoại hôn như vậy, có nhiều vấn đề không phù hợp với quan điểm khoa học và pháp luật, như: Luật tục quy định những người cùng một dòng họ thì không được kết hôn với nhau, cho nên trường hợp hai người không cùng trực hệ huyết thống, nhưng cùng họ với nhau thì không được kết hôn với nhau, điều này trái với quy định pháp luật về quyền được kết hôn của cá nhân. Mặt khác, theo chế độ mẫu hệ, con trai, con gái sinh ra đều theo họ mẹ, mà luật tục thì cho phép những người khác họ được kết hôn với nhau... Như vậy, các con của chú, bác ruột có thể kết hôn với nhau - trường hợp này là vi phạm điều kiện về trực hệ huyết thống trong phạm vi ba đời theo Luật Hôn nhân và gia đình và dẫn đến tình trạng hôn nhân cận huyết. Trong thực tế, có nhiều trường hợp luật tục không cho là loạn luân, nhưng theo khoa học và pháp luật thì đó lại là loạn luân hoặc ngược lại, nhiều trường hợp luật tục cho là loạn luân, nhưng theo khoa học và pháp luật thì không loạn luân.

Hiện nay, tục nối dây (nối nòi) trong hôn nhân vẫn chưa bị xóa hẳn trong đời sống xã hội người Êđê và M’nông. Thực ra, tập tục này cũng phổ biến ở hầu hết các dân tộc theo chế độ mẫu hệ vùng Tây Nguyên. Theo tục nối dây, khi người vợ qua đời, người chồng muốn tái hôn buộc phải lấy một người con gái trong gia đình vợ, có thể là em gái vợ còn rất nhỏ tuổi hay thậm chí là người chị vợ già hơn mình rất nhiều, miễn là người đó chưa có chồng. Những người đó gọi là người nối dây. Nếu không còn người để nối dây, hoặc không chấp nhận việc nối dây, thì người chồng phải về lại nhà mẹ đẻ với hai bàn tay trắng (không được mang theo tài sản và không được nuôi con cái). Ngược lại, nếu người chồng mất mà gia đình chồng không muốn mất của cũng phải đưa người (anh trai hay em trai chưa có vợ của người chồng) sang nhà người vợ của người đã mất để thực hiện tục nối dây. Như vậy, với tục nối dây, nếu vẫn có sự tự nguyện của cả hai bên nam và nữ, thì không phát sinh vấn đề vi phạm pháp luật, ở khía cạnh khác, nó khiến của cải luôn tập trung trong một gia đình, dòng họ, con cái luôn được quan tâm, không có vấn đề mẹ ghẻ con chồng, vì vẫn trong gia đình, dòng họ... Ngược lại, nếu không có sự tự nguyện của một trong hai bên, thì rõ ràng hoặc vi phạm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ do pháp luật quy định hoặc xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người chồng trong việc nuôi con cái, phân chia tài sản chung, thừa kế tài sản của vợ.

Thứ hai, trong quan hệ giao lưu dân sự

Qua khảo sát thực tế cho thấy, đồng bào Êđê, M’nông khi tham gia các quan hệ mua bán, vay mượn, trao đổi tài sản với nhau trong cộng đồng..., chủ yếu thực hiện qua hình thức giao kết bằng miệng. Đối với các trường hợp tài sản có giá trị lớn thì khi giao kết, mỗi bên nhờ một hoặc hai người là họ hàng thân thích “làm chứng” và khi có tranh chấp hay kiện tụng thì họ cũng là người làm chứng trước sự phân xử của già làng. Điểm cần lưu ý là luật tục quy định người làm chứng, đồng thời cũng là người “bảo lãnh” cho người tham gia giao kết, nên khi người giao kết không thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết thì người làm chứng phải có trách nhiệm thực hiện thay (như bồi thường thiệt hại, trả nợ cho bên kia). Do vậy, khi có tranh chấp xảy ra thì thường rất khó khăn cho cơ quan chức năng trong việc giải quyết dứt điểm vụ việc; hoặc khi đã được cơ quan chức năng giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết đó, nên các bên lại đưa ra giải quyết theo luật tục... Điều đó ít nhiều làm giảm, thậm chí làm vô hiệu quyết định giải quyết của cơ quan chức năng.

Theo luật tục, thông thường việc bồi thường thiệt hại là tương ứng với giá trị bị thiệt hại. Tuy nhiên, khi phân xử, người xử kiện xem xét đến tính chất và mức độ lỗi của người gây thiệt hại mà có thể giảm bớt hoặc tăng thêm mức độ bồi thường, thậm chí phải bồi thường hơn gấp nhiều lần mức thiệt hại, nhiều khi còn phạt vạ bên có lỗi, bắt họ phải giết gà, heo, trâu... cúng thần linh và đãi làng. Luật tục còn quy định trách nhiệm bồi thường không những chỉ do chính bản thân người gây ra thiệt hại chịu mà còn thuộc về cả gia đình họ phải chịu, và nếu họ cùng gia đình không trả hết thì con cháu của họ sau này tiếp tục phải trả cho đến hết... Những yếu tố này cũng tạo tiền đề cho việc thực hiện không nghiêm túc các quyết định giải quyết theo pháp luật.

Theo luật tục, trong gia đình, người chồng không có quyền có tài sản nên không có quyền để thừa kế và cũng không có quyền hưởng thừa kế, và mọi của cải trong gia đình chỉ được thừa kế theo dòng họ nữ. Do vậy, khi người chồng chết thì không phát sinh việc thừa kế (mọi tài sản vẫn thuộc về vợ và con cái), mà khi vợ chết thì quan hệ thừa kế mới phát sinh. Tuy nhiên, việc thừa kế chỉ thực hiện theo dòng họ nữ (vợ) nên khi vợ chết thì mọi của cải và con cái đều thuộc phía vợ (dì, bà ngoại) quản lý, còn người chồng thì phải trở về sinh sống với mẹ đẻ mình mà không được mang theo con cái hoặc tài sản... (nếu không tiếp tục “nối dây”). Việc quản lý và phân chia di sản được thực hiện như sau: Nếu nhà có nhiều anh chị em còn sống chung với nhau, thì toàn bộ tài sản đó do người con gái lớn nhất quản lý và khi trong chị em gái có người lấy chồng ra ở riêng thì mới phân chia cho họ một phần; các anh em trai đều không được chia phần trong tài sản đó. Nếu không có con gái thì các con trai về ở với bà ngoại hoặc các dì và toàn bộ tài sản do mẹ để lại đều thuộc về bà ngoại hoặc các dì... Như vậy, theo luật tục thì việc thừa kế di sản là không bình đẳng giữa con trai với con gái, giữa chồng với vợ và giữa gia đình chồng với gia đình vợ... Điều này là không phù hợp với quy định của pháp luật, làm tổn hại quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan.

Thứ ba, trong tự quản, duy trì trật tự cộng đồng

Luật tục có những quy định còn mang nặng tính chất “tự trị’’ trong phạm vi hẹp, chủ yếu chỉ ở buôn làng, dễ tạo nên tư tưởng đề cao “lệ làng”, xem nhẹ “phép nước”. Mặt khác, luật tục cũng mang nặng yếu tố tộc người, đã tồn tại lâu đời, đã ăn sâu trong tiềm thức và trở thành nếp sống truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, do vậy tâm lý cố kết tộc người trong cộng đồng còn nặng nề, là điểm yếu mà kẻ xấu có thể lợi dụng để chống phá chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước, thậm chí xúi giục những người nhẹ dạ cả tin làm những việc trái với pháp luật. Những quy định của luật tục thường kèm theo những biện pháp xử lý, chế tài kết hợp giữa phê phán, lên án về mặt dư luận và áp dụng những cách thức xử lý nghiêm khắc; thường kết hợp giữa hình thức xử phạt trực tiếp đối với cá nhân và liên đới chịu trách nhiệm của gia đình, họ hàng trái với nguyên tắc cá nhân hoá trách nhiệm pháp lý của pháp luật. Bên cạnh đó, các hình thức phạt của luật tục thường nặng về kinh tế, gây lãng phí (cúng tạ thần linh, cả buôn làng ăn uống phạt vạ). Các thủ tục xem xét, xử lý đối với người có hành vi vi phạm đôi khi còn rất hà khắc, dựa vào yếu tố thần linh, nên trong không ít trường hợp đã xâm phạm danh dự, nhân phẩm người khác, quyền tự do cá nhân trong nhiều trường hợp không được tôn trọng.

Có thể nói, luật tục đã, đang và sẽ tiếp tục có một vai trò không nhỏ, tác động sâu sắc đến các mặt của đời sống xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung, đồng bào dân tộc Êđê, M’nông nói riêng. Chính vì vậy, việc tiếp tục đánh giá, nhìn nhận đúng vị trí, vai trò, sự tác động, những yếu tố tích cực, cùng những hủ tục, những mặt hạn chế của luật tục ở Tây Nguyên là điều cần thiết, để từ đó duy trì và phát huy những điểm tiến bộ, văn minh và loại bỏ những quy định lỗi thời, lạc hậu, góp phần thực hiện công cuộc xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn mới hiện nay. Do đó, các cấp, các ngành, địa phương cần quan tâm nghiên cứu, đánh giá đúng vị trí, vai trò và mối quan hệ của pháp luật và luật tục, phát triển luật tục theo định hướng phù hợp với pháp luật; tổ chức tốt việc kết hợp thực hiện pháp luật và các quy định tiến bộ của luật tục. Bên cạnh đó, cần chủ động giải quyết tốt những vấn đề nhằm nâng cao đời sống văn hóa - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương, tiếp tục vận động đồng bào tích cực tham gia xây dựng và thực hiện hương ước (quy ước) buôn làng; tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải và tiếp tục thực hiện tốt công tác trợ giúp pháp lý tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Bùi Hồng Quý

Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk lăk

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bế Viết Đẵng (chủ biên) - Chu Thái Sơn - Vũ Thị Hồng - Vũ Đình Lợi (1982), Đại cương về các dân tộc Êđê - M’nông ở Đắk Lắk, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

[2]. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (1997), Mối quan hệ giữa luật tục, hương ước và pháp luật hiện hành, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Đắk Lắk.

[3]. Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn và Nguyễn Hữu Thấu (2012), Luật tục Êđê - tập quán pháp, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

[4]. Ngô Đức Thịnh, Trần Tấn Vinh và Điểu Kâu (1998), Luật tục M’nông - tập quán pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[5]. Phan Đăng Nhật (2007), Luật tục với đời sống, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: