Thứ bảy 05/09/2026 21:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát triển nguồn năng lượng trước yêu cầu phát triển bền vững

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Việt Nam cần rất nhiều nguồn năng lượng để phục vụ cho tiến trình phát triển. Nhu cầu sử dụng năng lượng ở Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng cùng với sự tăng trưởng mạnh về kinh tế - xã hội trong bối cảnh chung của thế giới và khu vực.

Việc đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề và thách thức khó khăn, đặc biệt là sự ngày càng cạn kiệt nguồn cung cấp năng lượng sơ cấp nội địa, giá dầu, giá than luôn có xu hướng leo thang và biến đổi thất thường. Chính vì vậy, việc khai thác và sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo có ý nghĩa hết sức quan trọng và mang tính chiến lược xét trên mọi khía cạnh cả về kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng, an ninh năng lượng và phát triển bền vững của đất nước.

Việc khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước; đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng, hình thành và phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh lành mạnh; đẩy mạnh phát triển nguồn năng lượng mới và tái tạo, năng lượng sinh học, điện hạt nhân và các nguồn năng lượng khác là xương sống cho nền kinh tế - xã hội của đất nước, do đó việc áp dụng những cơ chế, chính sách, những biện pháp về khuyến khích, hỗ trợ cần phải được suy tính rõ ràng, có cơ sở luận chứng khách quan, phù hợp với thực tiễn, bối cảnh, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn chính sách, pháp luật của Việt Nam về quản lý nhà nước trong việc phát triển nguồn năng lượng trước yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, khó khăn như quy định pháp luật còn thiếu, chưa điều chỉnh hết các quan hệ phát sinh trong thực tiễn; nhiều quy định của pháp luật hiện hành còn mâu thuẫn, chồng chéo; các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các chủ đầu tư trong thực tiễn áp dụng các quy định này còn gặp rất nhiều vướng mắc, khó khăn cần được tháo gỡ. Điển hình còn thiếu các quy định pháp luật về thị trường năng lượng; ngoài ra an ninh năng lượng, cán cân thương mại, cán cân vãng lai và thanh toán quốc tế, dự trữ quốc gia, cân đối ngân sách chưa đủ vững chắc để đối phó khi các tình huống biến động lớn, đột xuất xảy ra. Vì vậy, cần có sự rà soát lại hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành trong thực tiễn, phát hiện những vướng mắc, thiếu hụt, mâu thuẫn hoặc còn những hạn chế, không còn phù hợp các các chính sách, quy định đang cản trở hoặc làm giảm hiệu lực của quản lý nhà nước, cũng như cản trở sự tiếp cận, thực hiện dự án về quản lý nhà nước trong việc phát triển nguồn năng lượng trước yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay.

1. Tổng quan chính sách, quy định pháp luật về quản lý, phát triển nguồn năng lượng trước yêu cầu phát triển bền vững

Chính sách pháp luật về quản lý nhà nước trong việc phát triển nguồn năng lượng trước yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời cũng là xương sống trong nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, điều đó đã được thể hiện rõ nét thông qua chủ trương, chính sách và cương lĩnh của Đảng, tại các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc quan trọng. Ngay sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) thì vấn đề này càng được Đảng, Nhà nước quan tâm nhiều hơn, được cụ thể hóa thông qua chính sách phát triển kinh tế - xã hội qua các giai đoạn và trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành TW Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ X đã định hướng mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó cần phải phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh và một trong các nhiệm vụ để thực hiện mục tiêu nêu trên là thu hẹp những lĩnh vực mà Nhà nước độc quyền kinh doanh, xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp; tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giá [3]. Đứng trước nhu cầu về phát triển bền vững và chỉ đạo của Đảng, trong những năm vừa qua, Chính phủ và các Bộ, nghành, địa phương đã rất quan tâm tới vấn đề này, điều đó được thể hiện trong những văn bản quy phạm pháp luật của các cấp, các ngành như Luật Điện lực, Luật Đầu tư, Luật Bảo vệ môi trường, Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, Bộ Luật hình sự và Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, Chính phủ đã đưa ra các nhóm chính sách [9]:

Thứ nhất, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia

Ưu tiên thực hiện chính sách bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia theo hướng phát triển đồng bộ các nguồn năng lượng; khai thác và sử dụng tiết kiệm các nguồn năng lượng trong nước; giảm bớt phụ thuộc vào các sản phẩm dầu mỏ nhập khẩu; xuất nhập khẩu than hợp lý; liên kết hệ thống năng lượng trong khu vực; mở rộng kho dự trữ xăng dầu; kết hợp an ninh năng lượng với bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.

Thứ hai, giá năng lượng

Chính sách giá năng lượng được coi là một trong những chính sách đột phá; nhanh chóng xóa bỏ độc quyền, bao cấp trong cả sản xuất và tiêu dùng năng lượng. Giá năng lượng cần được xác định phù hợp với cơ chế thị trường; Nhà nước điều tiết giá năng lượng thông qua chính sách thuế và các công cụ quản lý khác.

Thứ ba, đầu tư cho phát triển các nguồn năng lượng mới và tái tạo, năng lượng sinh học, điện hạt nhân.

Ưu tiên phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sinh học, điện hạt nhân. Khuyến khích đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm nguồn năng lượng; có chính sách bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển năng lượng.

Thứ tư, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Chính sách khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cần xác định những yêu cầu cụ thể về tiết kiệm đối với các ngành sử dụng nhiều năng lượng; khuyến khích việc ứng dụng thiết bị, công nghệ mới tiết kiệm năng lượng.

Thứ năm, trách nhiệm bảo vệ môi trường

Chính sách bảo vệ môi trường nhằm thực hiện việc đảm bảo việc khai thác và sử dụng năng lượng với việc quản lý tốt môi trường; áp dụng các tiêu chuẩn môi trường tiên tiến hợp lý. Những chính sách trên đã được thể hiện bằng mục tiêu cụ thể.

Những mục tiêu cụ thể đã đưa ra, thể hiện rõ quyết tâm, nỗ lực của Chính phủ về lộ trình phát triển thị trường năng lượng trong từng thời kỳ, từng năm đối với các miền, từng dự án, từng loại hình đầu tư khác nhau và theo những phương án khác nhau, đảm bảo quan điểm phát triển phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước, đa dạng hóa các nguồn năng lượng sơ cấp, bảo tồn nhiên liệu và bảo đảm an ninh năng lượng Quốc gia trong thời kỳ đổi mới và tầm nhìn trong tương lai.

Có thể nói, mục tiêu cụ thể về khuyến khích phát triển đa dạng hóa các nguồn năng lượng nhằm đảm bảo phát triển bền vững trên cơ sở khai thác tối ưu mọi nguồn lực, đáp ứng nhu cầu năng lượng phục vụ đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng đã quốc gia được định hướng rõ ràng. Tuy nhiên trên thực tế, các mục tiêu đề ra chưa đạt được kết quả tốt đẹp, nhiều dự án chậm tiến độ, tính khá thi bị hạn chế, chính sách tài chính về giá thành năng lượng, thị trường năng lượng chưa được triển khai thực hiện, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nên chưa theo kịp so với tiến trình phát triển năng lượng trước yêu cầu phát triển bền vững trên thế giới…

2. Đánh giá những thành tựu, kết quả đã đạt được và những tồn tại đối với việc áp dụng chính sách pháp luật thực định

2.1. Những thành tựu, kết quả đạt được:

Một là, các cấp chính quyền đã ban hành nhiều quy định pháp luật nhằm tạo điều kiện để phát triển các nguồn năng lượng, đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước, đứng trước yêu cầu phát triển bền vững, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó đã trọng tâm vào các nội dung chính như sau:

- Phát triển năng lượng phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đảm bảo đi trước một bước với tốc độ cao, bền vững, đồng bộ, đi đôi với đa dạng hóa các nguồn năng lượng và công nghệ tiết kiệm năng lượng là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Phát triển năng lượng quốc gia phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước kết hợp với việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước ngoài một cách hợp lý, thiết lập an ninh năng lượng quốc gia trong điều kiện mở, thực hiện liên kết hiệu quả trong khu vực và toàn cầu, gắn với giữ vững an ninh quốc gia và phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ.

- Từng bước hình thành thị trường năng lượng, đa dạng hóa sở hữu và phương thức kinh doanh, hướng tới thỏa mãn tốt nhất lợi ích người tiêu dùng. Thúc đẩy nhanh việc xóa bao cấp, xóa độc quyền, tiến đến xóa bỏ hoàn toàn việc thực hiện chính sách xã hội thông qua giá năng lượng.

- Phát triển đồng bộ và hợp lý hệ thống năng lượng: điện, dầu khí, than, năng lượng mới và tái tạo, trong đó quan tâm phát triển năng lượng sạch, ưu tiên phát triển năng lượng mới và tái tạo. Phân bố hợp lý hệ thống năng lượng theo vùng, lãnh thổ; cân đối từ khâu thăm dò, khai thác, chế biến; phát triển đồng bộ hệ thống dịch vụ và tái chế.

- Ứng dụng các thành tựu của kinh tế tri thức để nâng cao hiệu suất, hiệu quả kinh doanh năng lượng. Coi trọng đầu tư cho tiết kiệm năng lượng, giảm tỷ lệ tổn thất.

- Phát triển năng lượng gắn chặt với giữ gìn môi trường sinh thái, bảo đảm thực hiện phát triển năng lượng bền vững.

Như vậy, đứng trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sức ép của sự vận động, đổi mới không ngừng của các nước trên thế giới thì Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách tích cực cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội đi đôi với việc bảo vệ môi trường, trong đó Nhà nước đã khuyến khích, hỗ trợ, cũng như có nhiều biện pháp để tạo điều kiện cho mọi thành phần trong nước và ngoài nước tham gia việc đầu tư, khai thác, sử dụng các nguồn năng lượng ở Việt Nam, từng bước hình thành thị trường năng lượng, xóa bỏ bao cấp, độc quyền tiến đến xóa bỏ hoàn toàn việc thực hiện chính sách xã hội thông qua giá năng lượng, nhưng trên cơ sở đảm bảo phát triển năng lượng gắn chặt với giữ gìn môi trường sinh thái, bảo đảm thực hiện phát triển năng lượng bền vững.

Hai là, trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng thì các cấp chính quyền từ Quốc Hội, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương cũng đã có sự điều hành, chỉ đạo quyết liệt trong việc hoàn thành hệ thống các quy định pháp luật để quản lý, điều hành công cuộc phát triển, đa dạng hóa các nguồn năng lượng, trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Điều đó, được thể hiện rõ rệt thông qua, một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật thuộc các cấp có thẩm quyền liên tục được ban hành để điều chỉnh nhu cầu phát triển năng lượng, trong đó đặc biệt chú trọng tới việc đa dạng hóa các hình thức đầu tư vào các dự án năng lượng, đồng thời các quy định pháp luật về khuyến khích, hỗ trợ phát triển dự án năng lượng xanh, các dự án tại vùng xâu, vùng xa, hải đảo, miền núi.

Những chính sách về tài chính, thuế cũng đã được minh bạch, rõ ràng, thuận tiện cho chủ đầu tư khi tiếp cận vào thị trường năng lượng tại Việt Nam; đồng thời các cấp lãnh đạo của Nhà nước cũng đã quyết liệt trong việc tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước hiện nay đang nắm giữ các nguồn năng lượng chủ chốt, đặc biệt quan trọng trong quốc gia như điện, dầu khi, than và khoáng sản, tiến tới hình thành thị trường năng lượng công khai, minh bạch, thu hút được nhiều thành phần tham gia.

2.2. Một số tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện:

Một là, về thị trường năng lượng:

Hiện nay, các nguồn năng lượng sơ cấp chủ yếu tập trung tại các Tập đoàn kinh tế lớn của Nhà nước như: Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đây là các Tập đoàn đang độc quyền nhà nước về năng lượng. Vì vậy, nhìn chung thì Việt Nam chưa có một thị trường năng lượng hoàn chỉnh và có tính cạnh tranh.

Theo Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050, ban hành kèm theo Quyết định số 1855/QĐ-TTg ngày 27/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ có đưa ra quan điểm phát triển là “Từng bước hình thành thị trường năng lượng, đa dạng hóa sở hữu và phương thức kinh doanh, hướng tới thỏa mãn tốt nhất lợi ích người tiêu dùng. Thúc đẩy nhanh việc xóa bao cấp, xóa độc quyền, tiến đến xóa bỏ hoàn toàn việc thực hiện chính sách xã hội thông qua giá năng lượng.”; Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ cũng đưa ra nhóm giải pháp, trong đó có giải pháp về cơ chế tổ chức đó là thực hiện tái cơ cấu ngành năng lượng để từng bước hình thành thị trường năng lượng cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở đảm bảo ổn định chính trị - xã hội; ban hành mới đi đôi với sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh các văn bản pháp luật hiện hành để các doanh nghiệp năng lượng chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường; xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp.

Đứng trước thực trạng nhu cầu năng lượng trong nhân dân, Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan đã có chủ trương đa dạng hóa các hình thức đầu tư vào các dự án nguồn năng lượng. Theo đó, các thành phần kinh tế có thể tham gia thực hiện dưới nhiều hình thức như các dự án khác nhau: BOT, BTO, BOO, PPP (Public - Private Project)…Nhưng thực tế cho thấy, đây chỉ là giải pháp mang tính chất tạm thời, để ổn định nhu cầu năng lượng trước mắt, mà chưa phương án tổng thể để xóa bỏ độc quyền nhà nước, tạo dựng thị trường năng lượng có tính cạnh tranh. Nguyên nhân chủ yếu, do các Tập đoàn kinh tế nhà nước ngoài chức năng sản xuất kinh doanh, còn đảm nhận chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô. Do đó, một số Tập đoàn có khả năng phải bù lỗ để bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội. Như vậy, lộ trình hình thành thị trường năng lượng, đa dạng hóa sở hữu và phương thức kinh doanh, hướng tới thỏa mãn tốt nhất lợi ích người tiêu dùng và thúc đẩy nhanh việc xóa bao cấp, xóa độc quyền, tiến đến xóa bỏ hoàn toàn việc thực hiện chính sách xã hội thông qua giá năng lượng sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian tới.

Hai là, việc hỗ trợ, khuyến khích đa dạng hóa các nguồn năng lượng, trong đó chú trọng tới nguồn năng lượng sạch, thân thiệt với môi trường:

Ô nhiễm môi trường thường gắn liền với việc tiêu hao lãng phí nhiên liệu và năng lượng, chất lượng sản phẩm kém, giá thành cao, vì vậy cơ chế “Năng lượng sạch” hay "Tiêu dùng xanh” đang là áp lực rất lớn lên thị trường, nhà sản xuất năng lượng và của toàn bộ hệ thống chính quyền Việt Nam hiện nay. Người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi các sản phẩm năng lượng thân thiệt với môi trường, thỏa mãn các thông số kỹ thuật tối thiểu, đảm bảo sức khỏe, cuộc sống, mặc dù có thể giá thành đắt, nhưng đó là xu thế của nền kinh tế - xã hội phát triển.

Nhận thức được điều đó, trong nhiều năm vừa qua các cấp chính quyền đã có nhiều chính sách, quy định, kế hoạch nhằm triển khai thực hiện; trong đó chính sách giá năng lượng được coi là một trong những chính sách đột phá; nhanh chóng xóa bỏ độc quyền, bao cấp trong cả sản xuất và tiêu dùng năng lượng. Giá năng lượng cần được xác định phù hợp với cơ chế thị trường; Nhà nước điều tiết giá năng lượng thông qua chính sách thuế và các công cụ quản lý khác và Nhà nước ưu tiên phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sinh học, điện hạt nhân. Khuyến khích đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm nguồn năng lượng; có chính sách bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển năng lượng.

Tuy nhiên việc triển khai các chính sách trên thực tiễn còn gặp rất nhiều khó khăn, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó có một số nguyên nhân rõ rệt như sau:

- Các giải pháp về quản lý, điều tiết của Nhà nước chưa đồng bộ, chưa hiệu quả; chưa có phương pháp để triển khai các giải pháp mang tính đồng bộ nhằm xóa bỏ độc quyền nhà nước, tiếp cận giá năng lượng phù hợp với cơ chế thị trường, phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, thân thiệt với môi trường mà chủ yếu là các giải pháp mang tính manh mún, trước mắt để khắc phục tạm thời.

Hiện nay, các nguồn năng lượng thiết yếu đang thuộc quyền quản lý của các Tập đoàn kinh tế nhà nước, như vậy sẽ dẫn tới hệ lụy là bất cứ một sự thao túng, thiếu minh bạch trong điều hành, sản xuất kinh doanh của các Tập đoàn sẽ hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế và bất ổn xã hội.

- Việc quản lý nhà nước trong việc phát triển nguồn năng lượng trước yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam còn hạn chế; một số quy định về ưu đãi đầu tư cho phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo theo quy định của Luật Đầu tư, Luật Bảo vệ môi trường chưa được triển khai đầy đủ trong thực tiễn.

Sở dĩ có tình trạng nêu trên, bởi một số lý do điển hình như sau:

- Quy mô của các dự án năng lượng rất lớn, có công nghệ phức tạp, nên vốn đầu tư vào mỗi dự án là rất lớn, trong khi khả năng đáp ứng của các tổ chức tín dụng trong nước là hạn chế do thiếu vốn huy động, đồng thời thị trường cung cấp tín dụng ở Việt Nam chưa đa dạng, hạn chế về các hình thức, nên các tổ chức tín dụng mặc dù đã có sự quan tâm, nhưng không đủ khả năng, tiềm lực để đảm nhận về vốn cho các dự án năng lượng.

- Được sự quan tâm của Chính phủ, trong thời gian vừa qua đã có nhiều dự án năng lượng được thu xếp vốn dưới hình thức ODA hay vay vốn thương mại ngoài nước có bảo lãnh của Chính phủ. Tuy nhiên, nhu cầu năng lượng của Việt Nam là rất lớn, trong khi khả năng vay nợ của Chính phủ chỉ trong khuân khổ cho phép để đảm bảo khả năng trả nợ, nên một số dự án nguồn năng lượng do các Tập đoàn kinh tế nhà nước đang đảm nhận chưa có nguồn vốn để triển khai, thực hiện. Ngoài ra, việc đàm phán vay vốn ODA hay các tổ chức tín dụng nước ngoài cũng đòi hỏi nhiều trình tự, thủ tục phức tạp, đồng thời sự trượt giá của đồng tiền nước ngoài, như đồng dollar Mỹ (USD), đồng tiền chung Châu Âu (EURO) so với đồng tiền Việt Nam trong thời gian vừa qua đã làm quá trình đàm phán vay vốn kéo dài, ảnh hướng tới tiến độ triển khai thực hiện dự án

Ba là, rào cản về chính sách giá đối với nguồn năng lượng

Hiện nay các Tập đoàn kinh tế nhà nước là các đơn vị được Nhà nước giao chức năng, nhiệm vụ làm đầu mối, tập hợp để mua, bán các nguồn năng lượng thiết yếu để điều tiết thị trường và kinh tế vĩ mô như: Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam - Vinacomin, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - PVN hay Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Việc triển khai, đầu tư các dự án nguồn năng lượng, mà đặc biệt là các dự án nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Việt Nam, cần khoản tài chính rất lớn, nên các chủ đầu tư mong muốn Nhà nước có chính sách giá năng lượng hợp lý, theo cơ chế thị trường để có cơ chế thu hồi vốn và đảm bảo lợi nhuận tối thiếu. Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có thị trường năng lượng hoàn chỉnh, việc phân phối vẫn thuộc độc quyền và tập trung tại các Tập đoàn kinh tế nhà nước, giá thành của sản phẩm đầu ra từ các dự án nguồn năng lượng chưa phản ánh đúng xuất đầu tư và nhu cầu lợi nhuận của các chủ đầu tư. Đặc biệt đối các dự án nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo, thân thiệt với mối trường, nếu áp đúng, áp đủ chi phí tổn hại tới môi trường vào trong giá thành sản phẩm và miễn trừ chi phí gây tổn hại tới môi trường của quá trình khia thác, sử dụng thì đó chính là lợi ích của nguồn năng lượng tái tạo đem lại nhưng giá thành sản phẩn cao, chưa phù hợp với cơ sở hạ tầng, bài toán về đảm bảo kinh tế vĩ mô ở Việt nam hiện nay.

Bốn là, công tác quản lý, điều hành và xây dựng luật:

Việt Nam là một nước có tiềm năng lớn về các nguồn năng lượng, trong đó có các nguồn năng lượng tái tạo (gió, địa nhiệt, năng lượng mặt trời, sinh hóa…) và việc định hướng, đa dạng hóa các nguồn năng lượng, trong đó chú trọng tới việc phát triển năng lượng tái tạo đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ lâu và đã được cụ thể hóa trong văn bản pháp luật cao nhất của Nhà nước. Trong đó Nhà nước đã có những chính sách, quy định rõ ràng để hỗ trợ, phát triển dự án nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo như ưu đãi về thuế, hỗ trợ vốn, đất đai để xây dựng cơ sở sản xuất, hay việc Nhà nước khuyến khích đầu tư các dự án phát triển nhà máy phát điện sử dụng các nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo được hưởng ưu đãi về đầu tư, giá điện và thuế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Tuy nhiên hiện nay những chính sách, quy định này chưa đồng bộ, nên việc triển khai trên thực tế gặp nhiều khó khăn, và đây cũng chính là lý do khiến cho việc đầu tư, đa dạng hóa các dự án nguồn năng lượng, trong đó ưu tiên phát triển nguồn năng lượng tái tạo ở Việt Nam bị nguội lạnh trong thời gian vừa qua.

Sở dĩ có tình trạng nêu trên là do cách thức quản lý nhà nước tại các cấp chính quyền và các Tập đoàn kinh tế nhà nước tham gia vào hoạt động khai thác năng lượng là chậm chễ, kém hiệu quả và thậm chí là chưa quyết liệt, do nguyên nhân chủ yếu sau:

- Thiếu cơ chế tài chính hiệu quả cho việc đầu tư, quản lý và vận hành các dự án nguồn năng lượng, trong đó có nguồn năng lượng tái tạo

- Quy định pháp luật về đầu tư xây dựng, quy hoạch còn nhiều lỗ hổng, thiếu chính sách quy định đủ mạnh, đồng bộ bao gồm từ điều tra, thăm dò tiềm năng đến khai thác và sử dụng; đồng thời với sự tắc trách, thiếu kiểm soát trong quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quy hoạch, xây dựng dự án, dẫn tới các dự án được xây dựng có nguy cơ gây tác hại nghiêm trọng đến đa dạng sinh học và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ cảnh quan môi trường, gây tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường.

Như vậy, trước mục tiêu phát triển đa dạng hóa các nguồn năng lượng, đảm bảo phát triển bền vững, trước nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế thì phải thống nhất trong cung cách điều hành, quản lý giữa các cấp Nhà nước từ Trung ương tới địa phương.

Năm là, công tác tuyên truyền vận động:

Trong thời gian vừa qua cơ quan nhà nước phần lớn chú trọng tới việc quản lý quá trình khai thác nguồn năng lượng sơ cấp của các Tập đoàn kinh tế nhà nước, mà không mấy quan tâm tới công tác tuyên truyền, vận động các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng tham gia khai thác các dự án sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo đảm bảo phát triển bền vững, trước yêu cầu về hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì lý do đó, mà các nhà đầu tư nước ngoài, rụt rè trong việc quyết định đầu tư vào các dự án năng lượng tại Việt Nam. Ngoài ra, người dân cũng ít chú trọng tới việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Mặc dù, Nhà nước đã ban hành Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010, trong đó đã quy định trách nhiệm cụ thể của các tổ chức, cá nhân và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công cuộc đảm bảo an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường đảm bảo phát triển bền vững.

Như vậy, cùng với quá trình hoàn thiện quy định pháp luật thì đây cũng chính là công tác trọng tâm để Nhà nước kêu gọi mọi thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư, phát triển kinh tế đất nước.

3. Kết luận

Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong cơ chế kinh tế đó, để chính sách pháp luật về quản lý nhà nước về phát triển nguồn năng lượng trước yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam không mâu thuẫn hay đi ngược lại các mục tiêu kinh tế thị trường thì việc nghiên cứu để đưa ra các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích đa dạng hóa các nguồn năng lượng, trong đó chú trọng phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo đảm bảo an ninh năng lượng, phát triển bền vững, trước yêu cầu về hội nhập là việc làm hết sức cần thiết.

Tuy nhiên, công cuộc bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế là cuộc chiến lâu dài, khó khăn giữa cái lợi trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích cục bộ (của cá nhân, tổ chức) và lợi ích chung của cộng đồng và toàn xã hội. Vì vậy, để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra thì nhất thiết cả hệ thống chính trị phải chung tay, thực hiện đánh giá đúng, đầy đủ các mặt đã làm được, những tồn tại, khó khăn đang gặp phải, để từ đó hoạch định chính sách, xây dựng quy định pháp luật phù hợp với thực tiễn, góp phần thúc đẩy và phát triển đất nước theo hướng bền vững.

ThS. Phan Duy An
Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Văn kiện Đại hội Đảng XI, Hà Nội;

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2011), Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, văn kiện Đại hội XI, Hà Nội;

3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2011), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, văn kiện Đại hội XI, Hà Nội;

4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng (2011), phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về các văn kiện Đại hội XI của Đảng, Hà Nội;

5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012), Kết luận số 50-KL/TW, ngày 29/10/2012, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Đề án “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”, Hà Nội.

6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Kết luận số 74-KL/TW, ngày 17/10/2013 Hội nghị lần thứ tám BCHTW (Khóa XI) về “Tình hình kinh tế - xã hội năm 2013 và nhiệm vụ năm 2014” và “Đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XI về kinh tế - xã hội, trọng tâm là ba đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, Hà Nội;

7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Hà Nội;

8. Bộ Chính trị (2009), Kết luận số 234-TB/TƯ ngày 1/4/2009 báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về Khoa học và công nghệ và nhiệm vụ, giải pháp phát triển khoa học và công nghệ từ nay đến năm 2020, Hà Nội;

9. Chính phủ (2007), Quyết định số 1855/QĐ-TTg ngày 27/12 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội;

10. Nguyễn Bình Khánh và Bùi Tiến Trung (2014), Một số dấu hiệu an ninh năng lượng cho đánh giá trạng thái an ninh năng lượng của Việt Nam, Tạp chí Khoa học năng lượng - IES (Số 03-2014), Hà Nội;

11. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 386/QĐ-TTg ngày 09/3 về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam giai đoạn 2006-2015, định hướng đến năm 2025, Hà Nội;

12. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg ngày 18/7 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 - 2015 có xét đến năm 2025, Hà Nội;

13. Thủ tướng Chính phủ (2008), Quyết định số 89/2008/QĐ-TTg ngày 07/7 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2025, Hà Nội;

14. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 223/QĐ-TTg ngày 18/02 về việc phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành dầu khí Việt Nam giai đoạn 2015, định hướng đến năm 2025”, Hà Nội;

15. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 459/QĐ-TTg ngày 30/3 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp khí Việt Nam giai đoạn 2015, định hướng đến năm 2025, Hà Nội;

16. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 1208/QĐ-TTg ngày 21/07 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.

Theo dõi chúng tôi trên: