Thứ hai 21/09/2026 16:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Bài viết giới thiệu về ý nghĩa tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên; chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác này. Bên cạnh đó, tập trung giới thiệu, phân tích về kết quả đạt được trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh thiếu niên thời gian qua, tồn tại, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng này trong thời gian tới. Các giải pháp tập trung vào việc hoàn thiện thể chế; nâng cao nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đổi mới phương pháp, hình thức, lựa chọn nội dung phù hợp và đảm bảo các điều kiện cần thiết khác thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên.

Abstract: The writing presents meaning and importance of legal dissemination and education for youth; policy of the Vietnam Communist Party and Government about this activity. Beside that, the article focuses on introducing and analyzing of the result achieved in the legal dissemination and education for youth during that time; showing constraints and proposing a number of solutions to improve the effectivenesss of this activity in the future. These solutions concentrate on completing regulations; raising awareness about the role and importance of this work; innovating methods, forms; selecting prope content and ensuring the other necessary conditions of legal dissemination and education for youth.

Việt Nam là một trong những quốc gia có dân số trẻ. Thanh thiếu niên chiếm số lượng lớn trong dân số cả nước, đây là một lợi thế so với nhiều quốc gia khác nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và sử dụng. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm tới đối tượng này, xác định thanh thiếu niên là chiến lược của quốc gia dân tộc, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm giáo dục toàn diện cho thanh thiếu niên. Báo cáo văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng lần XII đã nêu: “Đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho thế hệ trẻ”[1]. Đồng thời, Luật Thanh niên đã quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của thanh niên; trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với thanh niên; tổ chức thanh niên. Bên cạnh đó, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 cũng đã dành riêng Mục 3, Chương II về giáo dục pháp luật trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm trang bị cho thanh thiếu niên những kiến thức pháp luật cơ bản ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Đặc biệt, Quyết định số 2160/QĐ-TTg ngày 26/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011 - 2015” đã tạo nên cơ sở căn bản cho việc triển khai phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đối với thanh thiếu niên được đồng bộ, thống nhất.

1. Những kết quả bước đầu trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên

Có thể khẳng định rằng, công tác PBGDPL cho thanh thiếu niên thời gian qua được triển khai thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Nội dung chủ yếu tập trung vào các quyền và nghĩa vụ của thanh thiếu niên, chính sách, pháp luật mới ban hành, nhất là các lĩnh vực hôn nhân và gia đình, lao động, việc làm, hình sự, ma túy, mại dâm, bảo vệ môi trường, giao thông đường bộ… Theo thống kê của Bộ Tư pháp, có hàng ngàn văn bản pháp luật đã được thông tin, phổ biến, truyền thông, truyền tải đến thanh thiếu niên qua nhiều hình thức, cách thức khác nhau. Các địa phương đã chú trọng gắn PBGDPL với giáo dục ý thức, trách nhiệm công dân, đạo đức, văn hóa, lối sống, lý tưởng cho thanh thiếu niên; nêu gương người tốt, việc tốt, qua đó nâng cao nhận thức, ý thức, đạo đức, góp phần xây dựng và thực hiện nếp sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của thế hệ trẻ.

Các Bộ, ngành, địa phương đã chú trọng thực hiện các hình thức PBGDPL phù hợp đối với đối tượng này. Từ năm 2011 - 2015, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật trong thanh thiếu niên được tổ chức với số lượng lớn với khoảng 57.540 cuộc thi, hội thi từ cấp tỉnh đến cấp xã và 4.893.182 lượt thanh thiếu niên tham dự[2]. Bên cạnh đó, ứng dụng các phương tiện công nghệ thông tin đại chúng, báo chí, truyền thông vào các hoạt động PBGDPL cho thanh thiếu niên được chú trọng, đẩy mạnh. Các địa phương đã xây dựng, thực hiện 20.449 chuyên mục, chương trình PBGDPL; 180.183 tin, bài về PBGDPL; 260.706 tin, bài để phát sóng, phát thanh, đăng tải nhằm tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức, hiểu biết về pháp luật và giáo dục ý thức, trách nhiệm tôn trọng, tuân thủ pháp luật cho thanh thiếu niên trên các báo, đài, loa truyền thanh cơ sở của địa phương[3]. Các địa phương đã xây dựng, duy trì hoạt động của 15.393 câu lạc bộ và thu hút 4.486.835 lượt thanh thiếu niên tham gia sinh hoạt[4], tạo điều kiện cho thanh thiếu niên giao lưu, chia sẻ, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm sống, được thông tin, tiếp cận, tập huấn các kiến thức pháp luật có liên quan đến đời sống, công việc, học tập, từ đó gắn kết, tăng cường quan hệ và nâng cao trách nhiệm sống tốt, sống đúng. Qua tổng kết Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011 - 2015” tại các địa phương, có 5.020 vụ với 7.000 bị cáo là thanh thiếu niên[5] đã được các địa phương tổ chức xét xử lưu động tại địa bàn cơ sở, thu hút đông đảo người xem, qua đó giúp người dân hiểu biết pháp luật, nhất là các hành vi vi phạm và chế tài xử lý, nâng cao ý thức cảnh giác, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội. Ngoài ra, các địa phương đã chú trọng biên soạn, cấp phát nhiều tài liệu PBGDPL (sách, tờ gấp, đĩa hình tiểu phẩm, câu chuyện pháp luật...) tới 10.758.489 người và 822.997 số cán bộ làm công tác PBGDPL; tổ chức các lớp, buổi tập huấn, nói chuyện pháp luật, giải đáp pháp luật (376.533 lớp, buổi với 16.754.106 lượt thanh thiếu niên tham gia, tham dự[6]). Các địa phương cũng chú trọng tuyên truyền, PBGDPL cho các đối tượng thanh thiếu niên đặc thù như thanh thiếu niên dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới[7]; thanh thiếu niên ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn[8]; miền biển, hải đảo, ngư dân[9]; thanh thiếu niên trong các doanh nghiệp[10]; nạn nhân bạo lực gia đình[11]; người khuyết tật bằng những hình thức phù hợp[12] (hòa giải, trợ giúp pháp lý, phổ biến, giải đáp trực tiếp...) hoặc lồng ghép nội dung PBGDPL vào các chương trình văn hóa, học nghề cho thanh thiếu niên[13].

2. Một số vấn đề còn tồn tại trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc PBGDPL cho thanh thiếu niên hiện nay vẫn còn một số tồn tại, cụ thể là:

- Nhận thức chung của các cấp, các ngành trong công tác PBGDPL cho thanh thiếu niên còn nhiều hạn chế, còn cho đó là nhiệm vụ của Ngành Tư pháp, một số đơn vị, địa phương nhận thức đây là công tác của Đoàn thanh niên. Vì vậy, sự quan tâm và đầu tư cho công tác PBGDPL cho thanh thiếu niên vẫn chưa được đảm bảo.

- Việc PBGDPL ở một số địa phương còn mang tính phong trào, chưa đi sâu vào những nội dung thiết thực mà thanh thiếu niên cần. Các mô hình, hình thức PBGDPL chưa được chú trọng đổi mới, vận dụng phù hợp với tâm lý, lứa tuổi của thanh thiếu niên. Công tác đánh giá, tổng kết các mô hình, cách làm hay, hiệu quả trong PBGDPL cho thanh thiếu niên chưa chú trọng; có nhiều mô hình qua thực tiễn triển khai được đánh giá cao nhưng chưa được quan tâm tổng kết, thông tin, truyền thông để các cơ quan, đơn vị, địa phương bạn học tập, tham khảo, để qua đó nhân rộng nếu thấy thiết thực, phù hợp với địa bàn và điều kiện thực tế.

- Sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong PBGDPL cho thanh thiếu niên thiếu đồng bộ, trách nhiệm chưa rõ ràng, dẫn tới hiệu quả còn hạn chế.

- Thanh thiếu niên do có đặc điểm về lứa tuổi, thể chất đang ở độ trưởng thành, nhận thức, tâm lý chưa hoàn toàn chín chắn, dễ bị lôi kéo, bị chi phối, kích động, nên Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ đây là nhóm đối tượng đặc thù mà Nhà nước, xã hội cần quan tâm, đầu tư, đặc biệt đối với công tác giáo dục lối sống, đạo đức, pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, các địa phương còn gặp nhiều khó khăn về nguồn lực, nhất là kinh phí, do đó, việc tuyên truyền, PBGDPL chủ yếu mới tập trung vào thanh thiếu niên là học sinh, sinh viên trong trường học; thanh thiếu niên vi phạm trong trại giam, trường giáo dưỡng; chưa có điều kiện thực hiện liên tục, thường xuyên đối với thanh thiếu niên tự do, không có địa bàn cư trú ổn định, không có việc làm, trong khi đây là đối tượng có nguy cơ cao về vi phạm pháp luật, đòi hỏi cách thức tiếp cận, vận dụng các hình thức PBGDPL sáng tạo, đặc thù.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên trong thời gian tới

Thứ nhất
, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về thanh thiếu niên, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự hình thành, phát triển và giáo dục nâng cao ý thức của thanh thiếu niên. Theo đó, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương cần xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật, văn bản pháp quy đồng bộ, phù hợp và kịp thời nhằm định hướng, điều chỉnh quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật của thanh thiếu niên. Trước hết, đó là sự đảm bảo về mặt pháp luật để nhân dân nói chung và thanh thiếu niên nói riêng được biết, được bàn, được kiểm tra, giám sát những công việc, những vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của chính họ và đối với công việc chung của đất nước, của xã hội.

Thứ hai, cần tiếp tục nâng cao nhận thức và nhận thức đúng đắn, đầy đủ về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác PBGDPL nói chung và PBGDPL cho thanh thiếu niên nói riêng, huy động sự vào cuộc và phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Tăng cường sự phối hợp thường xuyên để bảo đảm sự chỉ đạo, thực hiện thống nhất, đồng bộ các nhiệm vụ quản lý nhà nước có liên quan đến việc giáo dục thanh thiếu niên. Trước hết là sự phối hợp thường xuyên của một số ngành có vai trò, trách nhiệm chính như Nội vụ, Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội, Đoàn thanh niên trong chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ về công tác thanh niên; PBGDPL; giáo dục và đào tạo; đào tạo, dạy nghề và giải quyết việc làm; hoạt động Đoàn, Đội của thanh thiếu niên.

Thứ ba, tăng cường và đổi mới giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên theo hướng kết hợp giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho họ. Phần lớn đối tượng thanh thiếu niên đều ở lứa tuổi học sinh, sinh viên và đang còn ngồi trên ghế nhà trường. Do đó, giáo dục pháp luật cho thanh, thiếu niên là quan trọng và hết sức cần thiết. Đối với thanh thiếu niên, việc giáo dục ý thức pháp luật giúp cho thanh thiếu niên quan tâm hơn đến pháp luật, nâng cao kiến thức pháp luật, có thái độ đúng đắn, động cơ tích cực trong thực hiện pháp luật và đấu tranh chống các biểu hiện vi phạm pháp luật. Muốn vậy phải tiến hành bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nâng cao trình độ nhận thức pháp luật trong thanh thiếu niên. Đồng thời phải kết hợp giáo dục ý thức pháp luật với giáo dục đạo đức xã hội.

Thứ tư, đổi mới nội dung, hình thức PBGDPL cho thanh thiếu niên phù hợp với từng nhóm đối tượng và điều kiện địa bàn. Nội dung phải sát đối tượng; hình thức phải phong phú, đa dạng. Chú trọng gắn giáo dục pháp luật với giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống văn hóa; phải coi đây là những yếu tố thống nhất, không tách rời trong thực hiện giáo dục toàn diện cho thanh thiếu niên, cả về tư tưởng chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức và lối sống văn hóa, lối sống theo pháp luật. Chỉ đạo, hướng dẫn triển khai xây dựng, nhân rộng một số mô hình PBGDPL hiệu quả, phù hợp, thiết thực với thanh thiếu niên qua tổng kết thực tiễn 05 năm triển khai thực hiện Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011 - 2015”.

Thứ năm, nâng cao chất lượng PBGDPL trong trường học, trong các tổ chức đoàn, đội. Quán triệt đến các cán bộ đoàn về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tuyên truyền, giáo dục và tư vấn pháp luật; trách nhiệm chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thanh thiếu niên nhằm tạo sự quan tâm, chuyển biến thực sự về chất lượng, hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục và tư vấn pháp luật. Hàng năm, hai bên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng tuyên truyền, tư vấn pháp luật của đội ngũ cán bộ đoàn khối trường học về công tác tuyên truyền, giáo dục và tư vấn pháp luật. Đoàn thanh niên, Hội sinh viên các trường cần xác định nội dung phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của thanh thiếu niên theo từng đối tượng, vùng miền, lứa tuổi. Lồng ghép các hình thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật vào hoạt động giáo dục và các hoạt động khác của Đoàn, Hội. Đẩy mạnh hoạt động và nhân rộng các loại hình tuyên truyền, giáo dục pháp luật của các câu lạc bộ pháp luật tuổi trẻ, đội tuyên truyền thanh niên, đội tuyên truyền măng non, nhà văn hóa học sinh, sinh viên, trung tâm hỗ trợ thanh niên sinh viên… Tổ chức các sự kiện truyền thông nhằm thu hút học sinh, sinh viên đến với các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, cuộc thi tìm hiểu, thi kiến thức pháp luật... ở nhiều cấp độ, phạm vi và lĩnh vực pháp luật. Phát huy vai trò của hệ thống báo, tạp chí, website, bản tin của Đoàn, Hội mở các chuyên mục, diễn đàn trao đổi, phổ biến kiến thức pháp luật cho học sinh, sinh viên. Đưa nội dung tuyên truyền, giáo dục pháp luật vào tài liệu sinh hoạt và các hoạt động của chi đoàn, chi hội, chi đội; xây dựng tủ sách pháp luật ở các đoàn trường; hướng dẫn học sinh, sinh viên khai thác các văn bản pháp luật trên mạng Internet, các website của Chính phủ…

Tổ chức xây dựng chương trình PBGDPL ngoại khóa, trong đó tập trung vào các hình thức như: Báo cáo chuyên đề thi tìm hiểu về pháp luật, lồng ghép nội dung pháp luật vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ, tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, phát hành các tài liệu, tờ rơi… Chú trọng tổ chức cho học sinh, sinh viên tham gia các hoạt động mang tính thực hành chính trị, xã hội, các hoạt động nghiên cứu khoa học về các vấn đề pháp luật trong thực tiễn. Tổ chức thi học sinh giỏi, nghiên cứu khoa học về PBGDPL: Các cơ sở giáo dục phổ thông tổ chức thi học sinh giỏi môn Giáo dục công dân; các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp tổ chức thi Olympic về pháp luật trong học sinh, sinh viên hàng năm, tiến tới tổ chức thi học sinh giỏi, thi Olympic về pháp luật trong toàn quốc. Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học về PBGDPL nhằm cung cấp luận cứ cho việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác này. Xây dựng tài liệu pháp luật phục vụ công tác PBGDPL trong nhà trường. Tăng cường biên soạn, phát hành tài liệu PBGDPL phổ thông; tài liệu tham khảo phục vụ việc giảng dạy, học tập các kiến thức pháp luật; tài liệu hướng dẫn kỹ năng áp dụng pháp luật cụ thể, thiết thực, hấp dẫn theo hướng đa dạng hóa nội dung và hình thức, phù hợp với lứa tuổi của học sinh.

Thứ sáu, xây dựng, củng cố đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật trong hệ thống tổ chức đoàn; bồi dưỡng, đào tạo nâng cao năng lực, chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ PBGDPL cho đội ngũ cán bộ đoàn, báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật. Quan tâm đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, các điều kiện khác và tăng cường, huy động các nguồn lực xã hội đảm bảo cho công tác PBGDPL nói chung và PBGDPL cho thanh thiếu niên nói riêng.

Với mục đích nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên, thực hiện hiệu quả công tác PBGDPL nhằm xây dựng một thế hệ trẻ thanh, thiếu niên có ý thức chấp hành pháp luật tốt, có hiểu biết pháp luật để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và xã hội; góp phần nâng cao năng lực, bản lĩnh hội nhập quốc tế trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước hiện nay; góp phần định hướng và xây dựng nhân cách, lối sống người công dân mới cho thế hệ trẻ, làm lành mạnh hóa xã hội, bảo đảm trật tự trị an, kỷ cương trong nhà trường và an toàn xã hội, đáp ứng một phần yêu cầu của việc quản lý xã hội bằng pháp luật, cần tiến hành thực hiện những giải pháp cụ thể trên một cách tích cực, đồng bộ và hệ thống

ThS. Ngô Quỳnh Hoa

Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tr. 162.

[2]. Theo Báo cáo thống kê của 45 tỉnh, thành phố.

[3]. Theo thống kê của 45 tỉnh, thành phố.

[4]. Theo thống kê của 46 tỉnh, thành phố.

[5]. Theo thống kê của 35 tỉnh, thành phố.

[6]. Theo thống kê của 47 tỉnh, thành phố.

[7]. Lạng Sơn, Cao Bằng, Đắk Lắk, Sóc Trăng, Quảng Ngãi, Bạc Liêu, Tuyên Quang, Kon Tum, Hà Giang, Đà Nẵng, Gia Lai, Nghệ An, Lâm Đồng, Cà Mau, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Bình, Quảng Ninh, Long An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La, Bắc Kạn, Trà Vinh, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Bắc Giang, Lạng Sơn, Hậu Giang, Đắk Nông, Hải Phòng.

[8]. Bắc Giang, Cao Bằng, Quảng Ngãi, Bạc Liêu, Tuyên Quang, Kon Tum, Gia Lai, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Ninh, Long An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Kạn, Trà Vinh, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Lạng Sơn, Đắk Nông, Khánh Hòa.

[9]. Quảng Ngãi, Bạc Liêu, Đà Nẵng, Nghệ An, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Bình, Quảng Ninh, Long An, Thanh Hóa, Nam Định, Hà Tĩnh, Bắc Giang, Hải Phòng, Khánh Hòa.

[10]. Lạng Sơn, Bắc Giang, Đắk Lắk, Quảng Ngãi, An Giang, Kon Tum, Bình Dương, Đà Nẵng, Gia Lai, Nghệ An, Lâm Đồng, Cà Mau, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Bình, Quảng Ninh, Long An, Thái Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình, Nam Định, Bắc Kạn, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Đắk Nông, Hải Phòng, Khánh Hòa.

[11]. Đắk Lắk, Quảng Ngãi, Bạc Liêu, An Giang, Tuyên Quang, Kon Tum, Bình Dương, Đà Nẵng, Nghệ An, Lâm Đồng, Cà Mau, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Bình, Long An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Kạn, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Hậu Giang, Đắk Nông, Hải Phòng, Khánh Hòa.

[12]. Lạng Sơn, Sóc Trăng, Quảng Ngãi, Bạc Liêu, Tuyên Quang, Kon Tum, Bình Dương, Đà Nẵng, Gia Lai, Nghệ An, Lâm Đồng, Cà Mau, Quảng Bình, Long An, Thái Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Kạn, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Lạng Sơn, Đắk Nông, Khánh Hòa.

[13]. Yên Bái, Quảng Ngãi, Bạc Liêu, An Giang, Tuyên Quang, Kon Tum, Hà Giang, Đà Nẵng, Nghệ An, Lâm Đồng, Cà Mau, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre, Quảng Bình, Long An, Thái Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Kạn, Thừa Thiên Huế, Lạng Sơn, Đắk Nông, Hải Phòng, Khánh Hòa.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: