Thứ ba 06/10/2026 06:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phòng, chống tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước đáp ứng yêu cầu quản trị công ty

Tóm tắt: Bài viết đưa ra một số bình luận liên quan đến Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 trong mối liên hệ với hoạt động quản trị công ty ở Việt Nam hiện nay.

Tóm tắt: Bài viết đưa ra một số bình luận liên quan đến Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 trong mối liên hệ với hoạt động quản trị công ty ở Việt Nam hiện nay.

Abstract: The article offers a number of comments regarding the Anti-Corruption Law of 2018 in connection with corporate governance in Vietnam today.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 dành Chương VI quy định về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Đây là chương mới được bổ sung vào Luật Phòng, chống tham nhũng, thể hiện quan điểm của Nhà nước và sự nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp trong phòng, chống tham nhũng. Việc xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, phi tham nhũng có vai trò hết sức quan trọng đối với cả khu vực nhà nước và ngoài nhà nước. Vì vậy, Luật này quy định trách nhiệm chung của tất cả các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nói chung trong việc xây dựng quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, phi tham nhũng; xác định trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong phòng, chống tham nhũng.

Với những quy định nêu trên, tác giả đưa ra một số phân tích cụ thể về cách hiểu và tiếp cận thống nhất về vấn đề này như sau:

1. Việc xác định cụ thể doanh nghiệp, tổ chức trong khu vực ngoài nhà nước

Theo quy định tại khoản 9, khoản 10 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, thì cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước bao gồm cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội. Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là doanh nghiệp, tổ chức không thuộc trường hợp quy định tại khoản 9 Điều này.

Việc xác định đâu là cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước được các nhà làm luật liệt kê với những tiêu chí khác nhau để xác định bổ sung như đầu tư vốn hay tham gia quản lý... Đối với các doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước được tiếp cận rất rộng là tất cả các doanh nghiệp, tổ chức còn lại (không thuộc trường hợp được liệt kê trước đó trong khu vực nhà nước). Theo phương pháp liệt kê như vậy chắc chắn sẽ có những vấn đề phát sinh chưa thỏa đáng. So với khái niệm “khu vực tư” thì khái niệm “”khu vực ngoài nhà nước” có phạm vi rộng hơn rất nhiều. Một số nhà nghiên cứu trước đây đã có đề cập đến khái niệm “khu vực tư” (KVT) như sau: Tác giả Trần Bình đưa ra hai quan niệm khác nhau về KVT bao gồm: (i) Khu vực kinh tế tư nhân, hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các hoạt động kinh tế tư nhân trong nước; (ii) Khu vực kinh tế tư nhân theo nghĩa rộng thường được đề cập đến như một tổng thể bao gồm các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và khu vực kinh tế tư nhân trong nước[1]. Tiếp cận theo tiêu chí luật pháp, PGS.TS. Nguyễn Đình Tài xác định KVT bao gồm “các doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp năm 1999”. Theo đó, KVT có thể là các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Định nghĩa này không bao gồm các doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh; các hộ gia đình, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước. Nói cách khác, khu vực tư nhân chỉ là một phần của khu vực ngoài nhà nước tại Việt Nam. Như vậy, dưới góc độ nghiên cứu về kinh tế học, các khái niệm về KVT đều dừng lại ở phạm vi hoạt động kinh tế vì mục đích lợi nhuận. Quan niệm đó phù hợp với một KVT dưới góc độ kinh tế học. Có thể khẳng định, việc xác định KVT ở Việt Nam theo tiêu chí kinh tế là có căn cứ nhất, vì nó phù hợp với mục tiêu của việc xác định ranh giới công - tư được thừa nhận để xác định ranh giới của sở hữu. Mặc dù vậy, mục tiêu kinh tế chỉ là yếu tố cần chứ chưa phải là yếu tố đủ. Nghĩa là, ngoài yếu tố kinh tế, tài chính, việc xác định ranh giới công - tư hay yếu tố nhà nước hay ngoài nhà nước nên dựa vào yếu tố cần đó là quyền lực công, quyền lực nhà nước. Với các cách tiếp cận nêu trên, tác giả cho rằng, các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước phải đáp ứng tiêu chí hoạt động có mục tiêu lợi nhuận; hoạt động không được sử dụng quyền lực nhà nước hay không có sự quản lý của nhà nước (với hệ tiêu chí này, tác giả cho rằng, tầm bao quát của doanh nghiệp và tổ chức ngoài nhà nước thực sự rộng hơn so với doanh nghiệp, tổ chức trong khu vực tư). Ngược lại, cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức nhà nước đáp ứng tiêu chí hoạt động phi lợi nhuận hoặc mang lại lợi nhuận cho nhà nước, cho xã hội; hoạt động có sử dụng quyền lực nhà nước hay có sự quản lý hoặc tham gia quản lý của Nhà nước.

Trong một cách tiếp cận khác, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: (i) Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác (Điều 75); (ii) Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên. Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác (Điều 76). Với những quy định nêu trên, hoàn toàn có thể được tiếp cận bởi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đối với doanh nghiệp, tổ chức nhà nước và doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước cho thống nhất và hoàn toàn hiệu quả hơn phương pháp liệt kê đang được sử dụng hiện nay.

Một vấn đề nữa cần lưu ý đó là, doanh nghiệp xã hội được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì vẫn có lợi nhuận và phải giữ lại ít nhất 51% lợi nhuận để tái đầu tư cho các mục tiêu xã hội đã đăng ký. Như vậy, họ vẫn được chia tối đa 49% lợi nhuận còn lại. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, doanh nghiệp xã hội lại không được chia lợi nhuận. Nguồn vốn hình thành trong doanh nghiệp xã hội có thể do nhiều cách thức huy động như đóng góp của các thành viên, hoặc nhận từ các quỹ tài chính, quỹ xã hội, quỹ từ thiện trong và ngoài nước, như vậy sẽ cũng lại liên quan đến câu chuyện quản trị doanh nghiệp xã hội như thế nào và phòng, chống tham nhũng ra sao cũng cần tiếp tục nghiên cứu để thi hành thống nhất.

2. Chủ thể và hành vi tham nhũng trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước

2.1. Về chủ thể thực hiện hành vi

Theo khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, thì chủ thể của hành vi tham nhũng bao gồm: Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Như vậy, những người có chức vụ, chức danh được bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng lao động để đảm nhận một chức danh quản lý nào đó hoàn toàn có thể trở thành chủ thể của tội phạm tham nhũng. Bên cạnh đó, đối với những vị trí công việc mà không phải các chức danh, chức vụ quản lý nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được ủy quyền, được giao hay vì thực hiện đúng nhiệm vụ của bản thân mà có hành vi tham nhũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm. Mặc dù vậy, rất có thể các nhà làm luật còn quy định thiếu chủ thể của hành vi tham nhũng này. Đơn cử đó là những chủ thể dù không nắm giữ các chức danh, chức vụ quản lý hay thực hiện bất kỳ một nhiệm vụ nào với tư cách là người lao động của doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước nhưng lại có đủ khả năng tác động đối với các chủ thể nêu trên trong việc ra các quyết định quản lý hoặc thực hiện nhiệm vụ của mình. Những người này không tồn tại chính thức và hợp lệ trong doanh nghiệp nhưng lại là những chủ thể có khả năng hủy hoại văn hóa liêm chính kinh doanh và làm cho hoạt động quản trị công ty trở nên cực kỳ kém hiệu quả.

2.2. Về hành vi tham nhũng

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định, hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện bao gồm: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi (khoản 2 Điều 2 ). Cụ thể, hành vi tham nhũng theo mối quan hệ ngoài nhà nước có 02 nhóm chính[2]: (i) Nhóm hành vi tham nhũng nảy sinh trong mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước; (ii) Nhóm hành vi tham nhũng nảy sinh trong mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước. Những hành vi này có thể làm ảnh hưởng đến giá thành của hàng hóa, dịch vụ mà các doanh nghiệp cung ứng cho thị trường và cho người tiêu dùng; bên cạnh đó, những hành vi này ảnh hưởng đến đạo đức trong kinh doanh của các doanh nghiệp và những người đứng đầu doanh nghiệp.

- Nhóm hành vi tham nhũng nảy sinh trong mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước:

Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp thường xuyên phải thực hiện các giao dịch. Việc thực hiện các giao dịch này trên thực tế cũng tiềm ẩn khá nhiều vấn đề có liên quan đến xung đột lợi ích của những người quản lý và điều hành công ty hoặc đơn thuần là giữa các thành viên công ty (mà chủ yếu là những người đại diện theo pháp luật) với các đối tác và những người có liên quan đến công ty hay những người đồng sở hữu công ty.

Sự tách bạch quyền sở hữu và quyền quản lý, điều hành công ty là một yếu tố quan trọng để đảm bảo quản trị công ty tốt. Tuy nhiên, trong công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh có thể tồn tại nhiều người đại diện theo pháp luật, khi thực hiện việc đại diện cho công ty ký kết hợp đồng với các đối tác của công ty có đảm bảo và kiểm soát được vấn đề xung đột lợi ích hay không. Khi chủ sở hữu công ty không hoàn toàn trực tiếp quản lý, điều hành công ty (cổ đông là thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành) thì việc thực hiện giao dịch này của công ty không phải lúc nào cũng đảm bảo lợi ích cao nhất cho công ty, cho chủ sở hữu (đặc biệt là cổ đông nhỏ) của công ty.

Với bản chất pháp lý là các pháp nhân thương mại, mục tiêu cơ bản nhất mà các loại hình doanh nghiệp hướng tới khi tham gia thị trường hướng đến là lợi nhuận. Tuy nhiên, mục tiêu lợi nhuận của công ty không phải được thực hiện bằng mọi giá kể cả thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật hay xâm phạm về đạo đức kinh doanh... Vì vậy, một nền quản trị tốt, minh bạch và hiệu quả của doanh nghiệp cần đảm bảo các yêu cầu về đạo đức trong kinh doanh[3].

Một số hành vi cụ thể trong nhóm này gồm:

+ Tham nhũng giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp là tình trạng tham nhũng gây thiệt hại cho một, thậm chí cả hai bên doanh nghiệp. Ví dụ điển hình nhất cho loại này là tội biển thủ và các tội phạm đi kèm như giữ quỹ đen, rửa tiền, làm giả hồ sơ, giấy tờ, thậm chí là lừa đảo… Hành vi này có thể chỉ do một doanh nghiệp chủ động thực hiện và một bên bị động phải gánh chịu hậu quả hoặc cả hai bên cùng có ý định và thực hiện trên thực tế nhằm gây thiệt hại cho nhau. Những hành vi này sẽ làm phương hại đến môi trường kinh doanh và cạnh tranh trong cùng nhóm ngành hoặc cùng một thị phần nhất định và có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế đất nước và kinh tế của địa phương.

+ Tham nhũng cấu kết doanh nghiệp là tình trạng tham nhũng gây thiệt hại cho bên thứ ba (có thể là khu vực nhà nước hoặc ngoài nhà nước). Loại tham nhũng này thường xuất hiện phổ biến trong các hoạt động đấu thầu, đấu giá, đầu cơ hay vận động chính sách… Hành vi tham nhũng này có thể có mức độ thiệt hại rất lớn, có thể tạo những ưu thế vượt trội trước các đối thủ cạnh tranh, thâu tóm hay thôn tính toàn bộ thị phần làm mất cân bằng và công bằng trong một ngành hay một lĩnh vực đầu tư, kinh doanh nào đó. Ở một khía cạnh lớn hơn, hành vi này có thể thay đổi cả những yếu tố cấu thành môi trường đầu tư kinh doanh ở một vùng hay thậm chí trên lãnh thổ của một quốc gia và có ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của môi trường đầu tư trong và ngoài nước.

- Nhóm hành vi tham nhũng nảy sinh trong mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước:

Đây là những hành vi tham nhũng gây ảnh hưởng và thiệt hại trực tiếp cho bản thân doanh nghiệp, cụ thể gồm những hành vi:

+ Hành vi đòi hoặc nhận một lợi ích bất chính từ nhân viên cấp dưới hoặc ứng viên dự tuyển của người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp. Hành vi này cũng được thực hiện bởi chủ thể là những người giữ cương vị quản lý trong doanh nghiệp như giám đốc, các phó giám đốc, người phụ trách nhân sự, kinh doanh... đòi hỏi nhận một lợi ích bất chính từ nhân viên hoặc ứng viên dự tuyển vào doanh nghiệp mình để nhận họ hoặc bố trí họ vào vị trí công tác thuận lợi.

+ Hành vi gian lận trong kê khai tăng chi phí tiêu hao vật tư, gian lận trong thu mua nguyên liệu đầu vào và các khoản mua sắm thiết bị văn phòng, trong chi phí liên quan tới chính sách trích thưởng cho khách hàng, hoặc dàn xếp trong các hoạt động đấu thầu.

Trong quan hệ giữa cổ đông và người quản lý, điều hành doanh nghiệp, cổ đông là người ủy quyền cho người quản lý, điều hành sử dụng tài sản của mình trong doanh nghiệp để kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp gia đình thì người quản lý, điều hành có thể là người sở hữu toàn bộ phần vốn của doanh nghiệp đó. Trong những trường hợp như vậy, nguy cơ tham nhũng là rất nhỏ. Mặc dù vậy, nếu không tách bạch tài sản và quản lý, điều hành dẫn đến sự không tách bạch giữa tài sản của công ty và của chủ sở hữu, dẫn đến nhiều bất lợi cho các đối tác và đặc biệt là các chủ nợ. Tuy nhiên, sự phát triển bùng nổ của nền kinh tế đã hình thành những doanh nghiệp, tập đoàn lớn, quá trình đó dẫn đến nhu cầu chuyên môn hóa cao hơn và việc hình thành các doanh nghiệp tư nhân mà người nắm vốn và người điều hành tách biệt nhau. Đây chính là thực tế để tham nhũng nảy sinh trong mối quan hệ giữa cổ đông và người điều hành doanh nghiệp. Biểu hiện của hành vi tham nhũng này có thể dưới dạng: Hội đồng quản trị của doanh nghiệp ra quyết định đầu tư vào một dự án chỉ mang lại lợi nhuận cho một số thành viên chủ chốt của hội đồng quản trị; người điều hành/hoặc một số thành viên chủ chốt trong hội đồng quản trị ăn chia, hối lộ trong quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con, chi nhánh; người điều hành không phải là chủ sở hữu của doanh nghiệp đã tùy tiện bố trí người thân tín vào các vị trí quản lý quan trọng để vô hiệu hóa các cơ chế kiểm soát nội bộ hoặc giao dịch với các doanh nghiệp “sân sau” để thỏa thuận gửi giá, “lại quả”; một cổ đông đồng thời là thành viên hội đồng quản trị nắm được thông tin về khủng hoảng của công ty mình sớm hơn các cổ đông khác và đã nhanh tay bán trước các cổ phiếu đang nắm giữ của công ty này... Bên cạnh đó, trong quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động cũng có thể phát sinh tư lợi. Người sử dụng lao động thường sẽ ủy quyền cho người lao động thực hiện một số công việc nào đó. Trong quá trình này, người lao động có thể thực hiện hành vi sai trái vì lợi ích cá nhân.

Ngoài các hành vi phổ biến trong lĩnh vực kinh đoanh truyền thống của doanh nghiệp đã được thống kê nêu trên thì trong một số lĩnh vực kinh doanh “không truyền thống” thời gian qua, tham nhũng cũng đã diễn ra ngày càng phổ biến và gây hậu quả cả về kinh tế và xã hội. Đó là hiện tượng tham nhũng trong một số lĩnh vực như thể thao, giáo dục... Gọi đây là kinh doanh “không truyền thống” bởi lẽ ngoài mục tiêu kinh tế, lĩnh vực thể thao, văn hóa, giáo dục còn có tác động xã hội rất rộng lớn và tham nhũng trong lĩnh vực này không chỉ gây ra những tổn hại về mặt kinh tế cho doanh nghiệp mà còn tác động tiêu cực ở khía cạnh xã hội, văn hóa cũng rất lớn như vụ nhận tiền để dàn xếp tỉ số của các cầu thủ bóng đá... bởi các công ty tổ chức sự kiện, các câu lạc bộ bóng đá cũng là các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Chính như vậy, việc quy định hành vi tham nhũng mang tính “truyền thống” như trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh của thực tiễn.

Ngoài những nội dung lớn nêu trên, tác giả cũng thấy còn một số vấn đề cần lưu ý khi nghiên cứu nội dung Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 trong yêu cầu quản trị công ty:

Thứ nhất, thống nhất quan điểm, trách nhiệm phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm chung của Nhà nước và các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước. Tuy nhiên, không vì vậy mà chúng ta cố gắng hình sự hóa hoặc hành chính hóa quan hệ kinh tế.

Thứ hai, các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước như công ty đại chúng, tổ chức tín dụng, tổ chức xã hội từ thiện thành lập theo quy định mới phải bắt buộc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng và chịu sự kiểm tra, giám sát bắt buộc, còn đối với các doanh nghiệp và tổ chức ngoài nhà nước khác đây chỉ là nhu cầu tự nguyện. Thực tế cho thấy, các công ty đại chúng, công ty niêm yết phải tuân thủ những quy tắc quản trị cực nghiêm ngặt và có những hiệu quả nhất định. Quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 thực chất là thêm tiêu chí đối với các loại hình doanh nghiệp này khi đánh giá các chỉ số quản trị công ty chứ không có gì quá mới mẻ. Điều quan trọng giai đoạn hiện nay là doanh nghiệp cần tham gia quyết liệt và thiện chí vào những bảng đánh giá, xếp hạng thông qua các thẻ điểm quản trị doanh nghiệp Việt Nam của các tổ chức, hiệp hội quốc tế bên cạnh tự phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam bộ thẻ điểm quản trị này và phòng, chống tham nhũng là một tiêu chí hết sức quan trọng để làm trong sạch và liêm chính môi trường kinh doanh.

Thứ ba, cần tiếp tục nghiên cứu đánh giá tính thống nhất của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư công, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Chứng khoán… để có những phương án phối hợp thực thi luật trên thực tiễn nhằm hạn chế những mâu thuẫn hay xung đột với các văn bản khác trong bối cảnh luật chưa có hiệu lực và đang trong giai đoạn soạn thảo văn bản hướng dẫn mới ban hành đúng vào thời điểm luật có hiệu lực.

ThS. Phạm Quý Đạt

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Xem: Trần Bình, Khu vực kinh tế tư nhân - nguồn huyết mạch chưa khai thông, tại địa chỉ: www.vnep.org.vn/Modules/CMS/.../Khu%20vuc%20kinh%20te%20tu%20nhan.doc, truy cập ngày 13/6/2017.

[2]. Tham khảo trên kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu gồm: TS. Đào Lệ Thu, PGS.TS. Vũ Cương và PGS.TS. Tô Văn Hòa trong Báo cáo tổng hợp “Phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh doanh ở Việt Nam: Thực trạng pháp luật, kinh nghiệp quốc tế và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng” được thực hiện năm 2016.

[3]. Tống Hoàng Hà, Những nguyên tắc cơ bản trong quản trị công ty trách nhiệm hữu hạn, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2018, tr. 43.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: