Thứ bảy 07/11/2026 11:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phòng, chống tham nhũng trong xây dựng chính sách, pháp luật ở Việt Nam hiện nay - Một số thách thức và giải pháp thực hiện

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vì vậy, việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và “lợi ích nhóm’ trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật là một yêu cầu quan trọng. Nâng cao năng lực phòng, chống tham nhũng, tiêu cực bằng việc xây dựng chế độ liêm chính trong hoạt động công vụ để mỗi công chức thực sự vô tư, khách quan khi tham gia xây dựng chính sách, pháp luật, vượt qua những tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích” đang là vấn đề cần quan tâm giải quyết trong giai đoạn hiện nay.

1. Nhận diện “tham nhũng chính sách, pháp luật”

Theo khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định: Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó trong vì vụ lợi. Như vậy, có thể thấy mọi hành vi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đều có thể xảy ra tham nhũng. Tuy nhiên trên thực tế, mỗi hành vi tham nhũng lại có những ảnh hưởng, quy mô và tác hại khác nhau. Có hành vi tham nhũng chỉ có tính chất vụ lợi cá nhân nhưng cũng có những hành vi tham nhũng ảnh hưởng tới một nhóm người, một tập thể, thậm chí một cộng đồng.

Trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật, hành vi tham nhũng diễn ra một cách tinh vi và để lại những hậu quả to lớn do khả năng tác động của chính sách, pháp luật ở mức độ ảnh hưởng, tác động rộng lớn hơn rất nhiều so với các hành vi tham nhũng đơn lẻ. “Tham nhũng chính sách, pháp luật” là một chuỗi các hành vi tham nhũng có quan hệ chặt chẽ với nhau do nhiều cá nhân và nhóm chủ thể có vị trí, chức năng, quyền hạn khác nhau cùng tiến hành nhằm chuyển hóa quyền lợi thành những quy tắc pháp lý, thể hiện chúng dưới dạng những chính sách, pháp luật[1].

“Tham nhũng chính sách, pháp luật” là một loại “lợi ích nhóm” trong xây dựng pháp luật, là việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quá trình xây dựng pháp luật để mang lại lợi ích không chính đáng cho cơ quan, tổ chức, địa phương, ngành nghề hoặc công tác quản lý nhà nước. “Lợi ích nhóm” là một nhóm có quyền lực và vị thế nhất định câu kết với nhau để mưu cầu lợi ích cho các thành viên trong nhóm, nhưng lợi ích này đi ngược lại với lợi ích quốc gia, ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của đại đa số người dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng khẳng định: “Lợi ích nhóm” ban đầu chỉ đơn giản là lợi ích cục bộ, móc ngoặc với nhau theo kiểu “ông mất chân giò, bà thò chai rượu”, chung nhau làm ăn, đôi bên cùng có lợi. Nhưng rồi, cùng với thời gian, lợi ích cục bộ đó bây giờ không chỉ dừng lại ở quan hệ giữa hai bên, hai người mà đã thành “sự ăn cánh”, “đường dây” của một nhóm người mưu lợi ích riêng, làm hại lợi ích chung[2]. Do đó, có thể hiểu “lợi ích nhóm” trong công tác xây dựng pháp luật là lợi ích cục bộ, móc ngoặc, cấu kết với nhau trong công tác xây dựng pháp luật nhằm mang lại lợi ích nhất định cho một nhóm người, ảnh hưởng đến lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bên cạnh đó, “tham nhũng chính sách, pháp luật” cũng có thể hiểu là việc tác động đến các chủ thể, những tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình chuẩn bị, soạn thảo, trình hoặc thông qua chính sách, pháp luật nhằm mang lại lợi ích cho một nhóm người (một cơ quan, tổ chức; một ngành, nghề hay một địa phương…). Điều này có nghĩa là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào tác động vào việc xây dựng pháp luật để vụ lợi thì đều có thể bị coi là tham nhũng.

“Tham nhũng chính sách, pháp luật” còn là hành vi hối lộ những người có thẩm quyền trong quá trình ban hành văn bản pháp luật nhằm đưa ra những nội dung có lợi cho một nhóm người nào đó và lợi ích đó sẽ thu được khi triển khai thi hành các văn bản pháp luật trên thực tế. Các biểu hiện dễ nhận thấy thường là: Tăng thêm quyền hạn cho cơ quan, tổ chức của mình hoặc đưa ra các thủ tục, giấy phép con, chẳng hạn các loại giấy tờ, các khâu kiểm tra, thẩm định… Rõ ràng hơn là hướng đến các quy định mang đến lợi ích vật chất cho đội ngũ công chức của ngành, lĩnh vực mình. Nhóm lợi ích thậm chí bằng mọi cách “chạy chọt”, đưa hối lộ cho những người có thẩm quyền để thông qua các văn bản pháp luật chứa đựng những quy định có lợi cho “nhóm lợi ích” của mình như: Ưu đãi về thuế và các điều kiện kinh doanh, “mượn tay” cơ quan nhà nước để buộc người dân phải dùng một sản phẩm hay dịch vụ nào đó thuộc lĩnh vực mình kinh doanh[3].

Trên thực tế, “tham nhũng chính sách, pháp luật” là loại hành vi rất khó phát hiện bởi quá trình này diễn ra ở nhiều khâu, có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong một thời gian dài. Tuy nhiên, có thể nhận thấy biểu hiện của “tham nhũng chính sách, pháp luật” thông qua từng giai đoạn cụ thể như sau[4]:

Một là, giai đoạn hoạch định chính sách:

Tham nhũng chính sách có thể xuất hiện ngay từ khâu đầu tiên là khâu hoạch định chính sách. Những nhóm có thế mạnh thường tiếp cận nhanh đến cơ quan chức năng, tiến hành vận động theo những phương thức phi truyền thống để được lựa chọn chính sách hoặc dự luật nào đó được đưa vào chương trình xây dựng luật. Tham nhũng trong xây dựng văn bản pháp luật bắt đầu bằng hành vi vận động của các chủ thể để vấn đề, lợi ích của mình được ưu tiên “luật hóa”, nghĩa là làm sao để vấn đề đó phải giải quyết ở tầm chính sách và chính sách đó phải được lựa chọn đưa vào chương trình xây dựng pháp luật.

Có thể thấy giai đoạn đề xuất chính sách là rất quan trọng và mục đích chủ yếu của giai đoạn này là thuyết phục cơ quan có thẩm quyền chấp nhận đưa vấn đề chính sách đó vào chương trình xây dựng văn bản pháp luật. Để xây dựng chính sách, các cơ quan có thẩm quyền trong xây dựng pháp luật phải đo lường và dự báo được nhu cầu từ thực tiễn của đời sống xã hội để chuyển hóa vào chính sách. Tuy nhiên trên thực tế, việc hoạch định chính sách không phải lúc nào cũng khách quan. Những nhóm lợi ích có thể vận dụng nhiều cách thức khác nhau để đưa thông tin và có các “kênh” tác động làm cho cơ quan chức năng quan tâm hơn đến vấn đề của họ[5].

PGS.TS. Lưu Văn Quảng trong bài viết “Nhận diện một số nguy cơ tham nhũng từ quá trình hoạch định chính sách ở nước ta hiện nay” đã chỉ ra ba nguy cơ tham nhũng từ quá trình hoạch định chính sách, cụ thể: (i) Nguy cơ các “nhóm lợi ích” vận động các nhà hoạch định chính sách đưa ra những chính sách thiên vị cho họ; (ii) Nguy cơ một số bộ, ngành “cài cắm” lợi ích của mình khi soạn thảo luật, chính sách; (iii) Nguy cơ chính sách được thiết kế với nhiều “lỗ hổng” tạo điều kiện cho tham nhũng.

Hai là, giai đoạn soạn thảo chính sách thành pháp luật:

Trong giai đoạn này, tham nhũng có thể xảy ra với những hình thức rất tinh vi. “Nhóm lợi ích” có thể “chèn” các câu chữ vào văn bản quy phạm pháp luật, nhất là những câu chữ liên quan đến lợi ích của họ. “Nhóm lợi ích” có thể trực tiếp (nếu là cơ quan, tổ chức có trách nhiệm chủ trì, soạn thảo) hoặc gián tiếp (hối lộ những người có trách nhiệm chủ trì, soạn thảo) đưa những nội dung hay phương án có lợi cho ngành mình, nhóm mình, địa phương mình…, bằng việc “gài” các câu chữ vào văn bản quy phạm pháp luật. Cũng có trường hợp, “nhóm lợi ích” cài cắm thêm các thủ tục, các loại “giấy phép con” không cần thiết để tạo ra quyền lực, sau này có thể lợi dụng gây khó khăn cho các chủ thể chịu tác động, tạo thêm cơ hội để trục lợi.

Để biện minh cho các hành vi của nhóm mình đồng thời che đậy động cơ thực sự của nhóm mình, “nhóm lợi ích” thường viện các lý do như: Cần phải bảo đảm sự chặt chẽ, khả thi, hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước; bảo đảm “an ninh quốc gia”, “lợi ích dân tộc”, “tuân thủ điều ước quốc tế”… Kết quả là chủ trương, chính sách một đằng, khi thực hiện lại một nẻo, xung đột pháp lý, xung đột chính sách là hiện tượng nhức nhối đến nay vẫn chưa giải quyết được[6].

Ba là, giai đoạn thông qua dự thảo văn bản quy phạm pháp luật:

Đây là giai đoạn mang tính chất quyết định nên các hành vi tham nhũng diễn ra trong giai đoạn này thường hướng vào việc “chạy chọt, bôi trơn, mua phiếu” bằng nhiều cách thức tinh vi. Quốc hội là cơ quan có tính chất đại diện nên trong đó có những đại biểu của các nhóm lợi ích khác nhau. Họ sẽ làm “lan tỏa” ảnh hưởng của mình đến các đại biểu khác để ủng hộ phương án có lợi cho nhóm của họ. Tham nhũng sẽ xảy ra khi những đại biểu này không giữ được phẩm chất đạo đức, sự liêm chính của bản thân, không ứng xử đúng đắn trong trường hợp xung đột lợi ích và đã chủ động lựa chọn hy sinh lợi ích chung để phục vụ cho lợi ích nhóm khi cố gắng tác động để thông qua đạo luật có lợi cho nhóm. Đối với những văn bản dưới luật (nghị định, quyết định, thông tư...) thì việc chạy chọt, hối lộ là hướng vào những người tham mưu, soạn thảo trực tiếp và những người có thẩm quyền ban hành văn bản đó[7].

Như vậy, mặc dù quá trình soạn thảo, ban hành luật gồm rất nhiều bước, quy trình chặt chẽ song vẫn tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện “lợi ích nhóm” từ công đoạn đưa ra ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật đến giai đoạn soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và cuối cùng là thông qua, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

2. Nguyên nhân của “tham nhũng chính sách, pháp luật” - Thách thức đối với công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay

“Tham nhũng chính sách, pháp luật” xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau bao gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, là một thách thức đối với công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Thứ nhất, xuất phát từ yếu tố con người. Cũng giống như những hành vi tham nhũng khác thì “tham nhũng chính sách, pháp luật” xuất phát từ sự suy thoái về mặt đạo đức, sự thiếu liêm chính, thiếu kiểm soát lòng tham của những người có quyền lực, địa vị, có thẩm quyền xây dựng chính sách, pháp luật. Họ đã vì lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm mà đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng, xã hội, đất nước.

Thứ hai, xuất phát từ chính “lỗ hổng” hiện hữu của chính sách, pháp luật. Thực tiễn cho thấy, trong rất nhiều trường hợp, quá trình xây dựng chính sách, văn bản quy phạm pháp luật tuy không có biểu hiện can thiệp của “lợi ích nhóm”, nhưng văn bản quy phạm pháp luật sau khi ban hành đã bộc lộ nhiều bất cập, “lỗ hổng” tạo điều kiện phát sinh tham nhũng. Theo đó, các chủ thể khu vực nhà nước và ngoài khu vực nhà nước có thể tranh thủ, lợi dụng cơ hội để trục lợi làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực ẩn chứa trong đó cơ hội, điều kiện phát sinh tham nhũng, ngoài nguyên nhân về nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể có liên quan đến việc xây dựng, ban hành văn bản, còn có một nguyên nhân quan trọng là thiếu quy định pháp lý về kiểm soát - tiền kiểm và hậu kiểm - của các cơ quan chức năng của Chính phủ, Quốc hội hay cơ quan tư pháp về phương diện tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và đối với nội dung chính sách của dự thảo văn bản quy phạm[8].

Thứ ba, xuất phát từ việc thiếu các quy định về kiểm soát tham nhũng trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; về nguy cơ phát sinh tham nhũng và khả năng phòng, chống tham nhũng trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn tồn tại nhiều bất cập, sơ hở, thiếu sót trong hầu hết các công đoạn là cơ sở, điều kiện phát sinh tham nhũng. Chẳng hạn như các công đoạn đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và đề xuất chương trình, kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; đề xuất và quyết định nội dung chính sách xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; khảo sát, đánh giá và xây dựng các báo cáo nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thi hành luật; xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; lấy ý kiến góp ý, phản biện của các đối tượng chịu tác động của văn bản quy phạm pháp luật; thẩm định, thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, hoặc hồ sơ dự thảo, dự án văn bản quy phạm pháp luật... Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam chưa luật hóa việc quản lý hoạt động của các “nhóm lợi ích” và “vận động hành lang”. Hiện nay, vì “lợi ích nhóm”, các “nhóm lợi ích” đã và đang hoạt động tự phát, không chính thức, nhưng rất phổ biến, mạnh mẽ, thậm chí là quyết liệt đến các công đoạn của quá trình xây dựng pháp luật[9].

Thứ tư, xuất phát từ chính môi trường kinh doanh hiện nay. Trong môi trường kinh doanh hiện nay vẫn còn tồn tại những hiện tượng “chạy chọt, xin xỏ”. Một môi trường kinh doanh mà ở đó các doanh nghiệp luôn “sẵn lòng” quà cáp, biếu xén, đưa hối lộ để giành được lợi thế trong kinh doanh thì hiện tượng tham nhũng là không thể tránh khỏi.

3. Một số giải pháp phòng, chống tham nhũng trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Trong các văn kiện của Đảng đã thể hiện rất rõ quan điểm về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, trong đó Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”. Thực tế cho thấy, qua mỗi nhiệm kỳ đại hội, tinh thần chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngày càng quyết liệt hơn, thực chất hơn với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng), công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu to lớn góp phần lấy lại và củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân, bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, các thế lực chống đối Đảng và Nhà nước ta.

Từ phiên tòa hình sự xét xử 54 bị cáo trong vụ “chuyến bay giải cứu” cho thấy chống tham nhũng phải đi liền với chống “lợi ích nhóm”, suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vụ án cũng là minh chứng cho chủ trương của Đảng ta là kiên quyết đấu tranh với tham nhũng, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Đồng thời, từ vụ án cũng cho thấy tính chất phức tạp của tệ nạn tham nhũng hiện nay, đặc biệt là “tham nhũng chính sách, pháp luật”.

Theo tác giả, để hạn chế tình trạng “tham nhũng chính sách, pháp luật” cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật ở tất cả các khâu, các quy trình. Các cơ quan được giao chủ trì xây dựng văn bản pháp luật cần chú trọng đánh giá thấu đáo, toàn diện kết quả thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật trong tất cả các khâu của quy trình xây dựng luật, từ việc tổng kết thực tiễn; xây dựng, đánh giá tác động của chính sách pháp luật; soạn thảo, trình văn bản đến khâu hoàn chỉnh dự thảo, trình ban hành văn bản[10]. Ngoài ra, Chính phủ cần chịu trách nhiệm đến cùng về dự án luật của mình khi trình ra Quốc hội. Quốc hội cần dành thời gian kiểm soát, đánh giá những chính sách mà Chính phủ đưa ra để bảo đảm đạo luật đó thực sự là vì lợi ích của nhân dân.

Hai là, tăng cường tính công khai, minh bạch, bảo đảm sự tham gia đầy đủ, thực chất, hiệu quả của các tổ chức, các tầng lớp nhân dân vào việc xây dựng, góp ý chính sách pháp luật, nhất là góp ý kiến đối với dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật. Phát huy hơn nữa vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với dự thảo văn bản pháp luật, nhất là các văn bản có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân. Đồng thời, cần nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan tham gia xây dựng pháp luật, tạo ra các diễn đàn thảo luận, phản biện chính sách của rộng rãi trong công chúng, bao gồm các nhà kinh tế, các luật gia, nhà quản lý và đặc biệt là những người chịu sự tác động trực tiếp của các dự thảo luật. Những ý kiến đó cần phải được tiếp thu đầy đủ, chân thành, nghiêm túc; những ý kiến không được tiếp thu phải giải trình cặn kẽ, thấu đáo, minh bạch chứ không chỉ để tham khảo hoặc cho “đẹp hồ sơ” theo thủ tục. Cần có các cuộc hội nghị, hội thảo, tọa đàm hay những phiên giải trình để thảo luận một cách nghiêm túc và thấu đáo những vấn đề còn nhiều tranh cãi, còn nhiều ý kiến khác nhau.

Bên cạnh đó, cần khuyến khích, phát huy vai trò phản biện chính sách của các cơ quan truyền thông, báo chí. Với vai trò là một trong những kênh quan trọng để giám sát quyền lực và chống tham nhũng hiệu quả, báo chí không chỉ cung cấp thông tin, định hướng dư luận mà còn tham gia vào quá trình phản biện chính sách, phát hiện các hành vi tham nhũng trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật[11].

Ba là, đẩy mạnh việc kiểm soát và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật trái luật; những chính sách, văn bản pháp luật chứa những “lỗ hổng” hoặc bị “cài cắm” lợi ích nhóm. Thực tiễn cho thấy tình trạng những văn bản này gần đây diễn ra khá phổ biến. Ngoài nguyên nhân về năng lực, trình độ và sự tắc trách của cán bộ tham gia soạn thảo văn bản luật thì nguyên nhân xuất phát từ lợi ích nhóm cũng khiến cho tình trạng này gia tăng trong thời gian vừa qua.

Để ngăn chặn những “lỗ hổng” trong chính sách hiện hữu, cần có một cơ quan chuyên môn sâu, tính độc lập cao thực hiện nhiệm vụ rà soát, đánh giá lại toàn bộ hệ thống chính sách, pháp luật. Cơ quan này có nhiệm vụ phát hiện và tham mưu cấp có thẩm quyền “bịt” những “lỗ hổng” chính sách, “vô hiệu hóa” các lợi ích được “cài cắm”, loại bỏ các nội dung bất hợp lý trong chính sách hiện hành. Đây được coi là công cụ quan trọng để kiểm soát quyền lực và ngăn ngừa “lợi ích nhóm”[12].

Bốn là, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tham gia xây dựng chính sách, pháp luật. Đội ngũ này cần phải nắm vững các chủ trương, đường lối của Đảng, biết cách vận dụng các chủ trương, đường lối đó vào việc xây dựng chính sách, pháp luật và cụ thể hóa thành quy phạm pháp luật. Muốn vậy, đội ngũ cán bộ cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng; tích cực học tập, nghiên cứu các văn kiện của Đảng; có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sâu rộng và kỹ năng lập pháp, lập quy. Bên cạnh đó, để ngăn chặn nguy cơ “tham nhũng chính sách”, các cán bộ công chức tham gia vào quy trình xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật còn phải nêu cao sự liêm chính của mình chính bằng chính những hành động cụ thể. Sự liêm chính là “tấm khiên” bảo vệ uy tín, phẩm chất, danh dự của người cán bộ cách mạng, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân và đất nước. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức, bản lĩnh chính trị; cũng như nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các cán bộ công chức để họ yên tâm công tác, cống hiến cho quyền lợi của nhân dân, của Nhà nước; không bị tác động bởi các yếu tố “vật chất” bên ngoài. Có như vậy, chúng ta mới có thể tạo ra một đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”, hội tụ đủ các đức tính “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” đáp ứng được yêu cầu của công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay./.

Quỳnh Vũ

Ảnh: internet


[1] Đinh Văn Minh, Phòng, chống tham nhũng trong xây dựng chính sách, pháp luật ở Việt Nam, đăng tải trên website https://thanhtra.nghean.gov.vn/phong-chong-tham-nhung/phong-chong-tham-nhung-trong-xay-dung-chinh-sach-phap-luat-o-viet-nam-485133.

[2] Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt để phát triển đất nước, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, H.2015, tr. 42.

[3] Đinh Văn Minh, Phòng, chống tham nhũng trong xây dựng chính sách, pháp luật ở Việt Nam, đăng tải trên website https://thanhtra.nghean.gov.vn/phong-chong-tham-nhung/phong-chong-tham-nhung-trong-xay-dung-chinh-sach-phap-luat-o-viet-nam-485133.

[4] Nguyễn Quốc Văn, Phòng, chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2021, tr. 122.

[5] Nguyễn Quốc Văn, Phòng, chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2021, tr. 124.

[6] Bài viết “Tham nhũng chính sách, hậu quả lớn trách nhiệm nhẹ”, đăng tải trên https://danviet.vn/tham-nhung-chinh-sach-hau-qua-lon-trach-nhiem-nhe-7777639878.htm.

[7] Nguyễn Quốc Sửu, Phòng, chống tham nhũng và kiểm soát vận động chính sách trong quy trình xây dựng pháp luật, đăng tải trên https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/phong-chong-tham-nhung-va-kiem-soat-van-dong-chinh-sach-trong-quy-trinh-xay-dung-phap-luat.

[8] Nguyễn Quốc Sửu, Phòng, chống tham nhũng và kiểm soát vận động chính sách trong quy trình xây dựng pháp luật, đăng tải trên website https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/phong-chong-tham-nhung-va-kiem-soat-van-dong-chinh-sach-trong-quy-trinh-xay-dung-phap-luat.

[9] Nguyễn Quốc Sửu, Phòng, chống tham nhũng và kiểm soát vận động chính sách trong quy trình xây dựng pháp luật, đăng tải trên website https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/phong-chong-tham-nhung-va-kiem-soat-van-dong-chinh-sach-trong-quy-trinh-xay-dung-phap-luat.

[10] Bài viết “Một số giải pháp hạn chế tham nhũng chính sách và lợi ích nhóm”, đăng tải trên website https://thanhtra.langson.gov.vn/vi/mot-so-giai-phap-han-che-tham-nhung-chinh-sach-va-loi-ich-nhom

[11] Bài viết “Ngăn chặn tham nhũng chính sách”, đăng tải trên website https://nhandan.vn/ngan-chan-tham-nhung-chinh-sach-post753487.html

[12] Bài viết “Ngăn chặn tham nhũng chính sách”, đăng tải trên website https://nhandan.vn/ngan-chan-tham-nhung-chinh-sach-post753487.html

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Tóm tắt: Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính là một trong những nội dung quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[I] và các văn bản quy định chi tiết. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính còn một số bất cập, gồm: thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật; thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay chưa được quy định đầy đủ; quy định về giao quyền xử phạt còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu phân tích những bất cập này, từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, thường gọi là “bỏ cọc”, đang được xử lý chủ yếu bằng cách tăng mức tiền đặt trước và áp dụng chế tài cấm tham gia đấu giá. Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của khoản tiền đặt trước; tiêu chí phân định tranh chấp dân sự và hành chính; căn cứ xem xét quyết định hủy quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá; yêu cầu kiểm soát tư pháp đối với quyết định cấm tham gia đấu giá và trách nhiệm tài sản của các bên. Trên cơ sở đánh giá dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (dự thảo Luật), nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án theo hướng chế tài được áp dụng thống nhất và chịu sự kiểm soát của Tòa án.
Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 lần đầu định danh hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất nhưng chưa thiết lập cơ chế điều chỉnh tương ứng. Nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của quan hệ này; từ đó, chỉ ra 04 hạn chế của pháp luật hiện hành: (i) quyền hợp tác chưa rõ ràng, minh bạch cho cá nhân sử dụng đất; (ii) chưa xác định rõ phạm vi quyền sử dụng đất được đưa vào hợp tác; (iii) chưa có điều kiện thực hiện riêng; (iv) chưa xác định đầy đủ hệ quả pháp lý. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã có một số điều chỉnh, nhưng chưa khắc phục triệt để những bất cập này. Nghiên cứu đề xuất ghi nhận hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất thành quyền độc lập kèm theo tiêu chí xác định quan hệ theo bản chất, xác định rõ nhóm người sử dụng đất được thực hiện quyền, bổ sung điều kiện thực hiện phù hợp với đặc điểm không làm chuyển dịch quyền sử dụng đất, thiết lập cơ chế đăng ký, công khai quan hệ hợp tác gắn với việc xác định hiệu lực đối với người thứ ba và nguyên tắc bảo vệ các quyền có liên quan.
Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Tóm tắt: Quyền bề mặt được Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận là quyền khác đối với tài sản, cho phép chủ thể khai thác mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của chủ thể khác. Đây là thiết chế có tiềm năng phân tách quyền khai thác không gian khỏi quyền sử dụng đất, huy động vốn đầu tư và phát triển bất động sản theo chiều cao, chiều sâu và đa công năng. Tuy nhiên, hiện, các quy định pháp luật chủ yếu dừng ở mức khái quát, chưa hình thành cơ chế pháp lý đồng bộ về xác lập, đăng ký, công khai hóa, hiệu lực đối kháng, giao dịch, thế chấp, định giá, bảo vệ quyền và xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt. Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng mới về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai, nhưng chưa trực tiếp thiết lập thủ tục đăng ký quyền bề mặt. Nghiên cứu phân tích bản chất và vai trò của quyền bề mặt, đánh giá những khoảng trống của pháp luật Việt Nam, tham chiếu kinh nghiệm của một số quốc gia và đề xuất mô hình hoàn thiện theo hướng: thừa nhận đầy đủ tính chất vật quyền; kiến nghị sửa đổi Điều 269 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng lấy đăng ký làm điều kiện đối kháng, kèm theo quy định chuyển tiếp; mô tả đối tượng theo không gian ba chiều; bảo đảm khả năng chuyển giao, thế chấp và tài trợ dự án; đồng thời, cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất, chủ thể quyền bề mặt, nhà đầu tư và người thứ ba.
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tóm tắt: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn một số bất cập, chồng chéo giữa các đạo luật về thẩm quyền, thủ tục, khiếu nại và kỹ thuật lập pháp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật. Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Tóm tắt: Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật[1] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, trong đó, chú trọng xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, đánh giá tác động chính sách và bổ sung cơ chế đánh giá kết quả thực hiện sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích Chính sách 3 về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2], đánh giá khả năng điều chỉnh kịp thời các quy định pháp luật trước những thay đổi của thực tiễn và việc sử dụng kết quả thi hành pháp luật để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, cơ chế theo dõi, đánh giá và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn thi hành chưa được quy định đầy đủ; bên cạnh đó, một số quy định còn thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh, thuật ngữ và thẩm quyền. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng và đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung pháp luật được thực hiện kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn mà không làm gia tăng thủ tục.
Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: