Thứ ba 13/10/2026 11:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ trong pháp luật phá sản của một số nước

Tóm tắt: Pháp luật kinh doanh của các quốc gia trên thế giới hiện nay đều định hướng được khả năng phá sản doanh nghiệp và vì vậy đều dự liệu thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ. Bài viết phân tích pháp luật của Mỹ, Pháp và Trung Quốc về phục hồi hoạt động kinh doanh trong quá trình hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ ở Việt Nam.


Abstract: Business laws of countries are now oriented toward business bankruptcy and therefore, anticipating procedures for rehabilitation of insolvent enterprise. This article analyzes laws of the United States of America, France and China on business rehabilitation in the process of law completion and organization of implementation procedures for business operation rehabilitation of insolvent enterprise in Vietnam.

Thế giới hiện nay đang tồn tại hai xu hướng điều chỉnh pháp luật về phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ theo thủ tục phá sản:

- Xu hướng thứ nhất: Chỉ có một hệ thống văn bản pháp luật chung (gồm Bộ luật và các văn bản hướng dẫn thi hành) điều chỉnh cả hai thủ tục giải quyết các doanh nghiệp mắc nợ là thủ tục phục hồi và thanh lý doanh nghiệp. Có thể kể đến xu hướng này là Hoa Kỳ, Trung Quốc (các nước khác như Anh, Pháp, Đức).

- Xu hướng thứ hai: Có hệ thống văn bản riêng điều chỉnh từng thủ tục phục hồi và thanh lý tư pháp (như các nước: Trung Quốc, Bỉ (Đạo luật ngày 17/07/1997 về thỏa hiệp tư pháp), Hà Lan (Đạo luật ngày 16/05/1925 về thỏa hiệp tư pháp), Nhật Bản (Đạo luật ngày 25/04/1922 về thỏa hiệp tư pháp và Đạo luật ngày 07/06/1952 về phục hồi công ty)).

Về nội dung, pháp luật các quốc gia có nhiều điểm tương đồng, trong đó đều chia thành 03 giai đoạn: (i) Mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ; (ii) Thực hiện phương án phục hồi doanh nghiệp mắc nợ; (iii) Đình chỉ/kết thúc việc thực hiện phương án phục hồi doanh nghiệp mắc nợ. Để làm rõ hơn những nội dung pháp luật có tính thống nhất cao giữa các xu hướng luập pháp về thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ trên thế giới, chúng ta có thể xem xét nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia là: Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp và Trung Quốc. Cả ba quốc gia này đều xác định thủ tục phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, mặc dù được đặt với các tên gọi khác nhau nhưng về cơ bản đều được xác định dưới các đặc điểm của mất khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn. Pháp luật các quốc gia này có những điểm cần chú ý đến và cần nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện pháp luật về phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ ở Việt Nam. Đó là:

Thứ nhất, pháp luật phá sản các nước chú trọng hơn thủ tục phục hồi hoạt động của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ (lâm vào tình trạng phá sản), đây là mục tiêu và xu thế chung pháp luật phá sản hiện đại

Cùng với sự phát triển về kinh tế, việc chuyển mục tiêu lập pháp của luật phá sản từ bảo hộ đối với quyền lợi của chủ nợ sang hướng vào chủ thể mắc nợ là một xu thế khách quan (như Quốc hội Hoa Kỳ ban hành đạo luật ngăn ngừa sự lạm dụng phá sản và bảo vệ người tiêu dùng năm 2005 (BAPCPA), Luật Phá sản Cộng hòa Pháp năm 1985, Luật Phá sản Trung Quốc năm 2006). Nếu như pháp luật phá sản truyền thống với việc chỉ bảo vệ cho lợi ích của chủ nợ (với một thủ tục được áp dụng đó đó thanh lý tài sản) dễ dẫn đến những tiêu cực nảy sinh cho cả chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ, người lao động và xã hội, đặc biệt khi nền kinh tế phát triển nhất định thì quy định đơn cực này trở thành rào cản. Với quan điểm giải cứu doanh nghiệp mắc nợ là giải pháp hữu hiệu không chỉ bảo vệ lợi ích của chủ nợ mà còn hướng đến mục tiêu quan trọng hơn nữa là bảo vệ lợi ích của xã hội, pháp luật phá sản các nước chuyển dần sang mục tiêu mới là “hướng vào doanh nghiệp mắc nợ”. Ví dụ như, đạo luật phá sản của Hoa Kỳ được xây dựng để sao cho những người thất bại trong kinh doanh lại được khuyến khích tiếp tục theo đuổi công việc kinh doanh của mình; Luật Phá sản sửa đổi của Cộng hòa Pháp năm 1994 với mục tiêu hướng vào doanh nghiệp mắc nợ đã được giảm đi và tăng quyền hạn của các chủ nợ; nâng cao tính hiệu quả của quá trình tổ chức, phục hồi lại doanh nghiệp[1]...

Tuy nhiên, mục tiêu cốt lõi nhất của pháp luật phá sản hiện đại vẫn nhằm bảo đảm sự bền vững của nền kinh tế và nguyên tắc cân bằng lựa chọn phương án thanh lý hoặc phương án phục hồi mà Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế đã đề xuất trong Luật mẫu về phá sản xuyên quốc gia[2] và Cộng hòa Pháp đã điều chỉnh theo hướng củng cố các quyền lợi của chủ nợ và quyền giám sát doanh nghiệp mắc nợ trong Luật năm 1994. Phục hồi doanh nghiệp chỉ là phương thức hữu hiệu “lần cuối” để cứu vãn doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ và cũng là phương thức bảo đảm sự ổn định của nền kinh tế nói chung.

Vì vậy, bên cạnh mục tiêu hướng đến con nợ, xu hướng chung của các nước vẫn coi trọng, bảo đảm lợi ích của các chủ nợ bằng cách trao quyền thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho các chủ nợ. Hiện nay đang tồn tại hai thể thức thông qua phương án phục hồi của chủ nợ: (i) Theo thể thức truyền thống, toàn bộ các chủ nợ tập trung lại, thảo luận và thông qua phương án phục hồi (theo Luật Phá sản Cộng hòa Pháp năm 1985); (ii) Theo thể thức hiện đại, các chủ nợ được phân thành nhiều nhóm chủ nợ khác nhau với những vai trò khác nhau trong quá trình thảo luận và thông qua phương án phục hồi (Hoa Kỳ). Mặt khác, trong một số trường hợp, doanh nghiệp mắc nợ cũng có thể bảo vệ mình thông qua Tòa án (như ở Trung Quốc).

Ở Việt Nam, mục tiêu lập pháp trong Luật Phá sản năm 2014 đã có sự hướng đến bảo vệ đối tượng lâm vào tình trạng phá sản song các quy định cụ thể lại thiếu đi những giải pháp hữu hiệu bảo đảm cho các doanh nghiệp mắc nợ mong muốn hoặc chủ động hơn trong việc đề xuất phương án, thực hiện các giải pháp phục hồi doanh nghiệp. Luật Phá sản năm 2014 vẫn chú trọng nhiều hơn đến giải pháp bảo đảm cho chủ nợ có thể bảo toàn được tài sản.

Thứ hai, tiêu chí doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản nói chung và đối tượng áp dụng thủ tục phục hồi nói riêng luôn có xu hướng mở rộng

Để xác định doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản (mất khả năng thanh toán hoặc mất năng lực trả nợ) đòi hỏi cần phải dựa vào những tiêu chí cụ thể, những tiêu chí này là điều kiện, là cơ sở để từ đó xác định doanh nghiệp mắc nợ được áp dụng thủ tục phục hồi hay bị áp dụng thủ tục thanh lý. Có hai loại tiêu chí thường được sử dụng về định lượng và định tính. Các tiêu chí định lượng thường xác định trên cơ sở một lượng giá trị bằng tiền mà doanh nghiệp mắc nợ không trả được vào một thời điểm nhất định. Các tiêu chí này thường kết hợp với tiêu chí về thời gian để xác định thời điểm doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản (mất khả năng thanh toán hoặc mất năng lực trả nợ). Các tiêu chí định tính chỉ nêu ra trạng thái doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản mà không cần xác định bởi các con số cụ thể (ví dụ như Luật phá sản Cộng hòa Pháp xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được áp dụng thủ tục phục hồi là khi các tài sản có sẵn của doanh nghiệp không đủ để bù đắp các tài sản nợ phải trả).

Dấu hiệu “lâm vào tình trạng phá sản” sẽ được định hình, làm căn cứ cho việc can thiệp vào doanh nghiệp mắc nợ sớm hay muộn, ở giai đoạn nào khi doanh nghiệp mắc nợ có khó khăn về tài chính là tùy quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia để từ đó có các quy định về tiêu chí phù hợp.

Trong xu thế phát triển kinh tế ngày nay, đối tượng trong pháp luật phá sản nói chung và phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ nói riêng luôn có xu hướng mở rộng, từ pháp nhân đến cá nhân (Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp), từ doanh nghiệp nhà nước đến các loại hình doanh nghiệp (Trung Quốc), tạo nên sự bình đẳng cho các đối tượng. Về cơ bản, nguyên tắc áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ trong pháp luật các nước là không giới hạn nhưng có tính đến các yếu tố khách quan. Việc lựa chọn đối tượng áp dụng thủ tục phục hồi nói riêng, đối tượng của luật phá sản nói chung luôn do điều kiện nền kinh tế của quốc gia đó quyết định. Ví dụ như, Luật Phá sản Trung Quốc năm 2006 chỉ áp dụng cho đối tượng doanh nghiệp là pháp nhân đã mở rộng một bước so với Luật năm 1986 chỉ áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước. Trong thủ tục phục hồi, việc chọn đối tượng áp dụng cũng có xu hướng đó, Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp có đối tượng áp dụng bao gồm cả pháp nhân và thể nhân; bao gồm doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân, ngoài ra, Hoa Kỳ còn áp dụng thủ tục này cho cả chính quyền nhà nước (với tư cách là một pháp nhân).

Ở Việt Nam, pháp luật chỉ cho phép chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ mới được quyền yêu cầu Tòa án mở thủ tục phục hồi vì có thể xuất phát từ quan niệm phá sản thực chất là thủ tục đòi nợ, thanh lý nợ nên việc yêu cầu mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán chỉ là quyền của các bên trong quan hệ đòi nợ mà thôi.

Ngoài ra, cũng như Việt Nam, pháp luật các nước đều quy định thủ tục phá sản đặc thù cho một số lĩnh vực, loại doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩch vực ngân hàng, tài chính hay các doanh nghiệp đa quốc gia.

Thứ ba, vai trò của chế định quản lý, thanh lý tài sản, ủy ban của các chủ nợ được khẳng định trong thủ tục phá sản nói chung và thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ

Pháp luật Phá sản của các nước Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp và Trung Quốc đều thiết lập một chế định trung gian giúp cho Tòa án, chủ nợ và các chủ thể khác thực hiện thuận lợi hơn quyền của mình. Đó là chế định Tín thác viên của Hoa Kỳ - một chức danh của người đại diện quản lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản do Tòa án bổ nhiệm (Trustee)[3] cũng có quyền đề xuất kế hoạch phục hồi; chế định quản tài viên (La gestion de la faillite)[4] do thẩm phán chỉ định; chế định quản trị viên (The administrator)[5] theo Luật Phá sản doanh nghiệp Trung Quốc năm 2006 do Tòa án chỉ định, gần như tương đồng với khái niệm người được ủy thác quản lý tài sản phá sản trong thủ tục phá sản của Mỹ.

Trong một hướng dẫn chung, Luật mẫu về phá sản xuyên quốc gia của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL) đã hướng dẫn về “người đại diện phá sản” (The insolvency representative) như là người có trách nhiệm quản lý thủ tục phá sản được xác định theo tên gọi chức danh khác nhau, như là “Quản trị viên” (“administrators”), “Quản tài viên” (“trustees”), “người thanh lý” (“liquidators”), “người giám sát” (“supervisors”), “người nhận” (“receivers”), “giám tuyển” (“curators”), “công chức, viên chức” (“official”) hoặc “nhà quản lý tư pháp” (“judicial managers”) hoặc “ủy viên” (“commissioners”)[6]. Đại diện phá sản có thể là một cá nhân hoặc một số chức danh tư pháp, một công ty, một pháp nhân riêng biệt, đóng vai trò trung tâm trong việc thực hiện luật về phá sản, với những quyền hạn nhất định có ý nghĩa quyết định tính hiệu quả của việc thực hiện luật đối với người mắc nợ và tài sản của họ, có nghĩa vụ bảo vệ tài sản và giá trị của họ cũng như lợi ích của chủ nợ và người lao động, bảo đảm luật pháp được áp dụng có hiệu quả và không thiên vị.

Trên thực tế, các chủ nợ không thể cùng tập hợp để họp bàn việc giải quyết thủ tục phục hồi doanh nghiệp, mà thường thành lập một ủy ban (Committees) gồm các chủ nợ lớn nhất của mình để giám sát các vấn đề liên quan và cùng với doanh nghiệp lập ra kế hoạch tái cơ cấu. Các chủ nợ được phân thành nhiều nhóm chủ nợ khác nhau với những vai trò khác nhau trong quá trình thảo luận và thông qua phương án phục hồi. Mặc dù, chủ nợ không có tài sản bảo đảm có vai trò quyết định trong các hội nghị, các ủy ban chủ nợ thường chỉ đại diện cho các chủ nợ không có bảo đảm, nhưng một số luật pháp quốc gia xác định có thể có trường hợp một ủy ban riêng của các chủ nợ có tài sản bảo đảm “là chính đáng”[7] (như Hoa Kỳ). Khi kế hoạch phục hồi doanh nghiệp được phê chuẩn, nhiều giao dịch kinh doanh không thuộc quá trình thông thường đòi hỏi phải có sự phê chuẩn của Tòa án[8].

Thứ tư, thủ tục phục hồi là một thủ tục tư pháp và đồng thời là một giải pháp lý tưởng nhằm cứu vãn doanh nghiệp mắc nợ thoát khỏi lâm vào tình trạng phá sản, phòng ngừa phá sản

Thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau song đều thể hiện một mục tiêu là áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp mắc nợ trong tình trạng phá sản được “hồi sinh”. Thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ trước hết nó là một giải pháp nhằm cứu vãn doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản (mất khả năng thanh toán) tránh bị phá sản, bên cạnh đó nó còn là giải pháp trong việc bảo hộ đối với lợi ích của chủ nợ (chủ nợ có thể thu hồi được toàn bộ nợ nếu phục hồi thành công). Giải pháp này được cụ thể bằng nhiều biện pháp nhằm tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản. Đi liền với quy định về thủ tục phục hồi, các quy định về các biện pháp là không thể thiếu. Những biện pháp này tùy theo tình hình thực tiễn kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia để tạo nên sự hợp lý, có tình khả thi[9].

Về nội dung của thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ, pháp luật của ba quốc gia nêu trên có nhiều điểm tương đồng, trong đó đều chia thành 03 giai đoạn: (i) Mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ được thực hiện sau khi mở thủ tục phá sản; (ii) Thực hiện phương án phục hồi doanh nghiệp mắc nợ; (iii) Đình chỉ việc thực hiện phương án phục hồi doanh nghiệp mắc nợ.

Pháp luật của từng quốc gia bao giờ cũng tồn tại một thủ tục cho phép đồng thời trả nợ và tiếp tục duy trì hoat động của doanh nghiệp mắc nợ. Việc xây dựng một phương án phục hồi rồi được các chủ nợ thông qua và nhận sự phê chuẩn của Tòa án là một phương thức kỹ thuật của sự duy trì này. Trong thủ tục hiện đại, sự tồn tại của nhiều chủ thể được phép xuất trình, đề nghị phương án phục hồi sẽ làm tăng khả năng may mắn duy trì hoạt động của doanh nghiệp mắc nợ (Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Trung Quốc). Thông qua thủ tục như vậy, Tòa án và các chủ nợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp mắc nợ thực hiện những giải pháp, phương thức giải quyết món nợ và thể thức, phương thức duy trì hoạt động của doanh nghiệp mắc nợ.

Vào thời điểm hiện nay, thủ tục phục hồi cho phép duy trì hoạt động của doanh nghiệp mắc nợ có hai loại: (i) Thủ tục phục hồi truyền thống cho phép duy trì hoạt động của doanh nghiệp mắc nợ bằng cách có phương tiện để trả nợ - Việt Nam vẫn đang đi theo hướng này; (ii) Thủ tục phục hồi hiện đại theo đuổi mục tiêu là chưa phải trả nợ nhưng được dành những phương tiện tốt nhất, quan trọng nhất nhằm duy trì và cơ cấu lại doanh nghiệp mắc nợ - đặc biệt, Hoa Kỳ xem giải pháp phá sản nói chung và phục hồi doanh nghiệp nói riêng là một “vũ khí bí mật” bảo đảm tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu của thủ tục phục hồi doanh nghiệp của Hoa Kỳ là việc tiếp tục để các doanh nghiệp mắc nợ được kinh doanh. Thủ tục này có thể được thực hiện dưới dạng một “cam kết”, thông qua đó, người mắc nợ và các chủ nợ thỏa thuận về việc giảm nợ để tạo điều kiện cho tổng số nợ của người mắc nợ giảm xuống, doanh nghiệp không còn lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nữa và có thể tiếp tục kinh doanh…

Mặt khác, thủ tục phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được nhiều nước chấp nhận đưa thêm các quy định về thủ tục tiền phá sản, thủ tục không chính thức mang tính chất phòng ngừa để tránh xảy ra hiện tượng doanh nghiệp bị đưa vào diện đối tượng của pháp luật phá sản, như pháp luật phá sản của Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp. Điều này đã được thực hiện[10] và dường như khá phù hợp với nước ta, vì vậy, Việt Nam cũng cần nghiên cứu để mở rộng hơn các giải pháp phục hồi hoạt doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ.

Thứ năm, tạo sự chủ động cho chính doanh nghiệp mắc nợ tham gia vào quá trình khởi động của thủ tục phá sản

Điển hình là pháp luật phá sản Hoa Kỳ, từ những hình thành ban đầu của mục tiêu “hướng vào doanh nghiệp mắc nợ” với thủ tục hòa giải, trong thủ tục hòa giải lần đầu tiên doanh nghiệp mắc nợ được tham gia và có ý kiến liên quan đến việc quyết định “số mệnh” của mình. Doanh nghiệp mắc nợ có tư cách pháp lý độc lập chủ động hơn trong vấn đề phá sản, có quyền lựa chọn áp dụng theo quy định tại chương 7 (thanh lý tài sản) hoặc áp dụng chương 11 (phục hồi doanh nghiệp), những quy định tạo ra sự lựa chọn này được nhiều nước và khu vực học tập như Trung Quốc. Việc đưa ra quy định này nhằm tránh cho chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ và cả Tòa án khỏi những phức tạp khi áp dụng cả hai thủ tục phục hồi và thanh lý trong một thủ tục chung là thủ tục phá sản. Luật phá sản của Cộng hòa Pháp còn đưa ra nhiều loại thủ tục (như đã trình bày ở trên) để doanh nghiệp mắc nợ có thể lựa chọn tùy vào mức độ khó khăn về tài chính của mình. Thực tế, chủ doanh nghiệp là người nắm rõ nhất “sức khỏe” của doanh nghiệp, do đó việc quy định nhiều loại thủ tục cho doanh nghiệp mắc nợ được lựa chọn với các trình tự thủ tục giải quyết khác nhau sẽ tạo nhiều cơ hội cho doanh nghiệp mắc nợ phục hồi thành công hơn là chỉ có một trình tự thủ tục tư pháp. Do đó, Việt Nam cũng cần nghiên cứu mở rộng, tăng cường sự chủ động cho chính doanh nghiệp mắc nợ tham gia vào quá trình khởi động của thủ tục phá sản.

ThS. Trần Thị Thu Hà

Đại học Kinh tế Nghệ An

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem: Elisabeth Roucolle (2001), Histoire du droit de la faillite en France: une approche des representations de la defaillance, http://www.strategie-aims.com/events/conferences/13-xeme-conference-de-l-aims/communications/ 2380-histoire-du-droit-de-la-faillite-en-france-une-approche-des-representations-de-la-defaillance/download.

[2]. UNCITRAL (2005), Legislative Guide on Insolvency Law, New York.

[3]. Title 11: United States Bankruptcy Code, https://www.law.cornell.edu/uscode/text/11.

[4]. Dezalay Yves, Le droit des faillites: du notable à l’expert [La restructuration du champ des professionnels de la restructuration des entreprises]. In: Actes de la recherche en sciences sociales. Vol. 76-77, mars 1989. Droit et expertise, pp. 2-29 (document généré le 01/09/2016).

[5]. Enterprise Bankruptcy Law of the People’s Republic of China, http://www.npc.gov.cn/englishnpc/Law/2008-01/02/content_1388019.htm.

[6]. UNCITRAL (2005), Legislative Guide on Insolvency Law, New York, pp. 174.

[7]. UNCITRAL (2005), Legislative Guide on Insolvency Law, New York, pp. 198.

[8]. David L. Buchbinder and Robert J. Cooper (2017), Basic Bankruptcy Law for Paralegals, Wolters Kluwer, NewYork, pp. 228.

[9]. Dương Hương Sơn (2013), Phục hồi doanh nghiệp phá sản, một mục tiêu lớn trong vấn đề lập pháp đối với pháp luật phá sản hiện đại, Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1642 ngày 25/11/2013.

[10]. Minh Sơn (2017), Bầu Đức hoàn thành đàm phán với các chủ nợ, nguồn: https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/bau-duc-hoan-thanh-dam-phan-voi-cac-chu-no-3660414.html?ctr=related_news_click.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: