Thứ ba 12/05/2026 20:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan điểm và định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp

Dự án Luật Lý lịch tư pháp (sửa đổi) đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017 theo Nghị quyết số 22/2016/QH14 ngày 29/7/2016 của Quốc hội. Ngày 23/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1840/QĐ-TTg phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, theo đó, Bộ Tư pháp được giao chủ trì xây dựng Dự án Luật Lý lịch tư pháp (sửa đổi), dự kiến trình Chính phủ vào tháng 6/2017 và sẽ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào tháng 8/2017.

Một số quan điểm chỉ đạo trong quá trình xây dựng dự án Luật Lý lịch tư pháp (sửa đổi) được quán triệt là:

Thứ nhất, thể chế hóa các quy định mới của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền bí mật đời tư cá nhân; bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của Luật Lý lịch tư pháp với các văn bản pháp luật khác có liên quan, đặc biệt là chế định đương nhiên xóa án tích được quy định trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự;

Thứ hai, căn cứ vào kết quả tổng kết thực tiễn 06 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, kế thừa, phát huy hiệu quả những quy định của Luật Lý lịch tư pháp đã được áp dụng tốt, đi vào cuộc sống và tháo gỡ từng bước những khó khăn, vướng mắc về trao đổi, cung cấp thông tin, xác minh điều kiện đương nhiên xóa án tích... trong thực tiễn thi hành hiện nay;

Thứ ba, tiếp tục thực hiện chủ trương cải cách hành chính về thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp, đa dạng hóa phương thức nhận hồ sơ yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp và cấp phiếu lý lịch tư pháp, bảo đảm thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp hướng tới phục vụ tốt hơn nữa cho người dân.

Xuất phát từ các quan điểm chỉ đạo ở trên, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp dự kiến sửa đổi 20 điều, bổ sung 01 điều; tập trung sửa đổi, bổ sung một số nội dung nhằm cập nhật các quy định mới được ban hành sau Luật Lý lịch tư pháp hiện hành, đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp nhằm giảm tải và tăng tính khả thi giải quyết công việc của các cơ quan nhà nước; tạo thuận lợi, đáp ứng tốt nhất yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Những vấn đề lớn về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 được cụ thể như sau:

Một là, về lệ phí cấp phiếu lý lịch tư pháp:

Điều 10 Luật Lý lịch tư pháp hiện hành quy định cá nhân có yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp phải nộp lệ phí. Theo quy định của Luật Phí và lệ phí, lệ phí cấp phiếu lý lịch tư pháp không có trong danh mục phí, lệ phí; thay vào đó là phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp (dự thảo Luật) sửa đổi quy định về lệ phí cấp phiếu lý lịch tư pháp theo hướng cá nhân có yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp phải nộp phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp.

Hai là, nguồn cung cấp thông tin và nhiệm vụ của các cơ quan trong cung cấp thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp:

Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 đã quy định cụ thể nguồn thông tin lý lịch tư pháp và nhiệm vụ của các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, cơ quan có liên quan của Quân đội trong cung cấp thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (từ Điều 15 đến Điều 19). Tuy nhiên, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật Thi hành án hình sự năm 2010, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có một số thay đổi so với quy định của Luật Lý lịch tư pháp hiện hành. Do đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số quyết định là nguồn thông tin lý lịch tư pháp (quyết định tổng hợp hình phạt; quyết định đình chỉ việc chấp hành án phạt tù; quyết định đình chỉ thi hành án; quyết định rút ngắn thời gian thử thách án treo; quyết định thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ (Điều 15) và nhiệm vụ của Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Quốc phòng nhằm bảo đảm phù hợp với quy định của các văn bản pháp luật mới được ban hành như đã nêu trên (từ Điều 16 đến Điều 19).

Ba là, quy định chặt chẽ hơn về cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2:

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 41 Luật Lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng và cấp theo yêu cầu của cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình. Để giải quyết tình trạng lạm dụng Phiếu lý lịch tư pháp số 2 trong thời gian qua, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và bí mật đời tư của cá nhân, bảo đảm mục đích nhân đạo của chế định xóa án tích, dự thảo Luật sửa đổi quy định này theo hướng Phiếu lý lịch tư pháp số 2 chỉ cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng, không cấp cho cá nhân.

Bốn là, bổ sung quy định bảo đảm thực hiện chế định đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Để bảo đảm thực hiện chế định đương nhiên được xóa tích của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, dự thảo Luật bổ sung nhiệm vụ của Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can cung cấp các quyết định đó cho Sở Tư pháp nơi Viện kiểm sát có trụ sở. Định kỳ, cơ quan quản lý lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan điều tra có liên quan thực hiện rà soát những người đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự. Cơ quan quản lý lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Đồng thời, để bảo đảm tính chính xác của phiếu lý lịch tư pháp, dự thảo Luật quy định trường hợp người yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp có án tích và thông tin về việc đương nhiên xóa án tích chưa được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, cơ quan cấp phiếu lý lịch tư pháp có trách nhiệm đề nghị Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can cung cấp thông tin về việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử người đó.

Đối với thông tin về “hành vi phạm tội mới” có trước ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp có hiệu lực, dự thảo Luật bổ sung quy định về điều khoản thi hành theo hướng Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú có trách nhiệm cung cấp thông tin theo đề nghị của cơ quan quản lý lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp phiếu lý lịch tư pháp.

Năm là, cải cách thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức:

Nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp, dự thảo Luật tập trung sửa đổi, bổ sung các điểm sau đây:

(i) Đa dạng các phương thức nộp hồ sơ và cấp phiếu lý lịch tư pháp: Nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cũng như kết quả thực hiện thí điểm trong thời gian qua, dự thảo Luật bổ sung hình thức phiếu lý lịch tư pháp dưới dạng văn bản giấy hoặc dữ liệu điện tử và phương thức cấp phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính công ích, trực tuyến; bổ sung quy định về hình thức nộp hồ yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp (trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính, trực tuyến).

(ii) Mở rộng quyền lựa chọn cơ quan có thẩm quyền cấp phiếu lý lịch tư pháp: Luật Lý lịch tư pháp (Điều 45) quy định công dân Việt Nam nộp hồ sơ yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp nơi thường trú hoặc nơi tạm trú; trường hợp cư trú ở nước ngoài thì nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú trước khi xuất cảnh. Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú; trường hợp đã rời Việt Nam thì nộp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia. Để tạo thuận lợi cho cá nhân có yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp, đặc biệt là các công dân đi du học, công tác xa nơi đăng ký thường trú, người nước ngoài, dự thảo Luật quy định theo hướng mở rộng quyền lựa chọn cơ quan giải quyết thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp cho một số đối tượng như công dân Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở nhiều nơi, đang cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam có thể nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi người đó cư trú hoặc cơ quan quản lý lý lịch tư pháp.

(iii) Sửa đổi quy định về tra cứu thông tin để cấp phiếu lý lịch tư pháp: Luật Lý lịch tư pháp quy định trường hợp người được cấp phiếu lý lịch tư pháp chỉ có một nơi thường trú duy nhất tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương kể từ khi đủ 14 tuổi trở lên thì tra cứu tại Sở Tư pháp nơi người đó thường trú. Trường hợp người được cấp phiếu lý lịch tư pháp đã cư trú ở nhiều tỉnh, thành phố, có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài thì tra cứu tại Sở Tư pháp nơi tiếp nhận yêu cầu và Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia. Nhằm xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong tra cứu thông tin để cấp phiếu lý lịch tư pháp, dự thảo Luật sửa đổi quy định này theo hướng quy định rõ việc tra cứu thông tin tại cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được thực hiện tại Sở Tư pháp nơi người đó thường trú và cơ quan quản lý lý lịch tư pháp.

(iv) Sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp: Luật Lý lịch tư pháp quy định thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp không quá 10 ngày. Trường hợp công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài, trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích, thì thời hạn không quá 15 ngày. Để tạo thuận lợi hơn cho người yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp, dự thảo Luật sửa đổi quy định về thời hạn theo hướng giảm xuống là 07 ngày làm việc. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế công tác xác minh tình trạng án tích để cấp phiếu lý lịch tư pháp đối với các trường hợp cá nhân đã từng bị kết án bởi nhiều bản án là rất phức tạp, dự thảo Luật bổ sung trường hợp người được cấp phiếu lý lịch tư pháp là người bị kết án bởi nhiều bản án thì thời hạn không quá 20 ngày.

(v) Quy định cụ thể về hồ sơ, thủ tục, thời hạn cấp phiếu đối với người chưa đủ 14 tuổi: Xuất phát từ thực tế giải quyết yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của người chưa đủ 14 tuổi, đây là đối tượng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự, dự thảo Luật bổ sung quy định về hồ sơ yêu cầu cấp phiếu đơn giản hơn (không cần chứng minh nhân dân, chỉ cần có bản sao sổ hộ khẩu; đối với người nước ngoài chỉ cần cần nộp bản sao hộ chiếu); không phải thực hiện tra cứu thông tin lý lịch tư pháp. Đồng thời, thời hạn cấp phiếu được rút ngắn tối đa là 01 ngày làm việc.

Ngoài ra, để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, Bộ Tư pháp cũng xin ý kiến Chính phủ về việc cần thiết phải thay đổi tên gọi của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia - một đơn vị cấp vụ, cục đang được quy định tại Luật Lý lịch tư pháp hiện hành bằng tên gọi Cơ quan quản lý lý lịch tư pháp trong Luật Lý lịch tư pháp (sửa đổi). Sau khi đổi tên, thì “Cơ quan quản lý lý lịch tư pháp” vẫn là một đơn vị cấp vụ, cục thuộc Bộ Tư pháp và do đó hoàn toàn không tạo ra tổ chức mới, không phát sinh thêm biên chế, nhưng lại tạo được điều kiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác lý lịch tư pháp thống nhất, thông suốt trong thực hiện nhiệm vụ. Tại địa phương, Sở Tư pháp vẫn là cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp và cấp phiếu lý lịch tư pháp như quy định của Luật Lý lịch tư pháp hiện hành.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: