Thứ ba 03/03/2026 20:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan điểm và định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp

Dự án Luật Lý lịch tư pháp (sửa đổi) đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017 theo Nghị quyết số 22/2016/QH14 ngày 29/7/2016 của Quốc hội. Ngày 23/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1840/QĐ-TTg phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, theo đó, Bộ Tư pháp được giao chủ trì xây dựng Dự án Luật Lý lịch tư pháp (sửa đổi), dự kiến trình Chính phủ vào tháng 6/2017 và sẽ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào tháng 8/2017.

Một số quan điểm chỉ đạo trong quá trình xây dựng dự án Luật Lý lịch tư pháp (sửa đổi) được quán triệt là:

Thứ nhất, thể chế hóa các quy định mới của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền bí mật đời tư cá nhân; bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của Luật Lý lịch tư pháp với các văn bản pháp luật khác có liên quan, đặc biệt là chế định đương nhiên xóa án tích được quy định trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự;

Thứ hai, căn cứ vào kết quả tổng kết thực tiễn 06 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, kế thừa, phát huy hiệu quả những quy định của Luật Lý lịch tư pháp đã được áp dụng tốt, đi vào cuộc sống và tháo gỡ từng bước những khó khăn, vướng mắc về trao đổi, cung cấp thông tin, xác minh điều kiện đương nhiên xóa án tích... trong thực tiễn thi hành hiện nay;

Thứ ba, tiếp tục thực hiện chủ trương cải cách hành chính về thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp, đa dạng hóa phương thức nhận hồ sơ yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp và cấp phiếu lý lịch tư pháp, bảo đảm thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp hướng tới phục vụ tốt hơn nữa cho người dân.

Xuất phát từ các quan điểm chỉ đạo ở trên, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp dự kiến sửa đổi 20 điều, bổ sung 01 điều; tập trung sửa đổi, bổ sung một số nội dung nhằm cập nhật các quy định mới được ban hành sau Luật Lý lịch tư pháp hiện hành, đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp nhằm giảm tải và tăng tính khả thi giải quyết công việc của các cơ quan nhà nước; tạo thuận lợi, đáp ứng tốt nhất yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Những vấn đề lớn về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 được cụ thể như sau:

Một là, về lệ phí cấp phiếu lý lịch tư pháp:

Điều 10 Luật Lý lịch tư pháp hiện hành quy định cá nhân có yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp phải nộp lệ phí. Theo quy định của Luật Phí và lệ phí, lệ phí cấp phiếu lý lịch tư pháp không có trong danh mục phí, lệ phí; thay vào đó là phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp (dự thảo Luật) sửa đổi quy định về lệ phí cấp phiếu lý lịch tư pháp theo hướng cá nhân có yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp phải nộp phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp.

Hai là, nguồn cung cấp thông tin và nhiệm vụ của các cơ quan trong cung cấp thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp:

Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 đã quy định cụ thể nguồn thông tin lý lịch tư pháp và nhiệm vụ của các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, cơ quan có liên quan của Quân đội trong cung cấp thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (từ Điều 15 đến Điều 19). Tuy nhiên, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật Thi hành án hình sự năm 2010, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có một số thay đổi so với quy định của Luật Lý lịch tư pháp hiện hành. Do đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số quyết định là nguồn thông tin lý lịch tư pháp (quyết định tổng hợp hình phạt; quyết định đình chỉ việc chấp hành án phạt tù; quyết định đình chỉ thi hành án; quyết định rút ngắn thời gian thử thách án treo; quyết định thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ (Điều 15) và nhiệm vụ của Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Quốc phòng nhằm bảo đảm phù hợp với quy định của các văn bản pháp luật mới được ban hành như đã nêu trên (từ Điều 16 đến Điều 19).

Ba là, quy định chặt chẽ hơn về cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2:

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 41 Luật Lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng và cấp theo yêu cầu của cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình. Để giải quyết tình trạng lạm dụng Phiếu lý lịch tư pháp số 2 trong thời gian qua, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và bí mật đời tư của cá nhân, bảo đảm mục đích nhân đạo của chế định xóa án tích, dự thảo Luật sửa đổi quy định này theo hướng Phiếu lý lịch tư pháp số 2 chỉ cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng, không cấp cho cá nhân.

Bốn là, bổ sung quy định bảo đảm thực hiện chế định đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Để bảo đảm thực hiện chế định đương nhiên được xóa tích của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, dự thảo Luật bổ sung nhiệm vụ của Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can cung cấp các quyết định đó cho Sở Tư pháp nơi Viện kiểm sát có trụ sở. Định kỳ, cơ quan quản lý lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan điều tra có liên quan thực hiện rà soát những người đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự. Cơ quan quản lý lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Đồng thời, để bảo đảm tính chính xác của phiếu lý lịch tư pháp, dự thảo Luật quy định trường hợp người yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp có án tích và thông tin về việc đương nhiên xóa án tích chưa được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, cơ quan cấp phiếu lý lịch tư pháp có trách nhiệm đề nghị Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can cung cấp thông tin về việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử người đó.

Đối với thông tin về “hành vi phạm tội mới” có trước ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp có hiệu lực, dự thảo Luật bổ sung quy định về điều khoản thi hành theo hướng Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú có trách nhiệm cung cấp thông tin theo đề nghị của cơ quan quản lý lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp phiếu lý lịch tư pháp.

Năm là, cải cách thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức:

Nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp, dự thảo Luật tập trung sửa đổi, bổ sung các điểm sau đây:

(i) Đa dạng các phương thức nộp hồ sơ và cấp phiếu lý lịch tư pháp: Nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cũng như kết quả thực hiện thí điểm trong thời gian qua, dự thảo Luật bổ sung hình thức phiếu lý lịch tư pháp dưới dạng văn bản giấy hoặc dữ liệu điện tử và phương thức cấp phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính công ích, trực tuyến; bổ sung quy định về hình thức nộp hồ yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp (trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính, trực tuyến).

(ii) Mở rộng quyền lựa chọn cơ quan có thẩm quyền cấp phiếu lý lịch tư pháp: Luật Lý lịch tư pháp (Điều 45) quy định công dân Việt Nam nộp hồ sơ yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp nơi thường trú hoặc nơi tạm trú; trường hợp cư trú ở nước ngoài thì nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú trước khi xuất cảnh. Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú; trường hợp đã rời Việt Nam thì nộp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia. Để tạo thuận lợi cho cá nhân có yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp, đặc biệt là các công dân đi du học, công tác xa nơi đăng ký thường trú, người nước ngoài, dự thảo Luật quy định theo hướng mở rộng quyền lựa chọn cơ quan giải quyết thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp cho một số đối tượng như công dân Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở nhiều nơi, đang cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam có thể nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi người đó cư trú hoặc cơ quan quản lý lý lịch tư pháp.

(iii) Sửa đổi quy định về tra cứu thông tin để cấp phiếu lý lịch tư pháp: Luật Lý lịch tư pháp quy định trường hợp người được cấp phiếu lý lịch tư pháp chỉ có một nơi thường trú duy nhất tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương kể từ khi đủ 14 tuổi trở lên thì tra cứu tại Sở Tư pháp nơi người đó thường trú. Trường hợp người được cấp phiếu lý lịch tư pháp đã cư trú ở nhiều tỉnh, thành phố, có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài thì tra cứu tại Sở Tư pháp nơi tiếp nhận yêu cầu và Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia. Nhằm xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong tra cứu thông tin để cấp phiếu lý lịch tư pháp, dự thảo Luật sửa đổi quy định này theo hướng quy định rõ việc tra cứu thông tin tại cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được thực hiện tại Sở Tư pháp nơi người đó thường trú và cơ quan quản lý lý lịch tư pháp.

(iv) Sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp: Luật Lý lịch tư pháp quy định thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp không quá 10 ngày. Trường hợp công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài, trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích, thì thời hạn không quá 15 ngày. Để tạo thuận lợi hơn cho người yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp, dự thảo Luật sửa đổi quy định về thời hạn theo hướng giảm xuống là 07 ngày làm việc. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế công tác xác minh tình trạng án tích để cấp phiếu lý lịch tư pháp đối với các trường hợp cá nhân đã từng bị kết án bởi nhiều bản án là rất phức tạp, dự thảo Luật bổ sung trường hợp người được cấp phiếu lý lịch tư pháp là người bị kết án bởi nhiều bản án thì thời hạn không quá 20 ngày.

(v) Quy định cụ thể về hồ sơ, thủ tục, thời hạn cấp phiếu đối với người chưa đủ 14 tuổi: Xuất phát từ thực tế giải quyết yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của người chưa đủ 14 tuổi, đây là đối tượng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự, dự thảo Luật bổ sung quy định về hồ sơ yêu cầu cấp phiếu đơn giản hơn (không cần chứng minh nhân dân, chỉ cần có bản sao sổ hộ khẩu; đối với người nước ngoài chỉ cần cần nộp bản sao hộ chiếu); không phải thực hiện tra cứu thông tin lý lịch tư pháp. Đồng thời, thời hạn cấp phiếu được rút ngắn tối đa là 01 ngày làm việc.

Ngoài ra, để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, Bộ Tư pháp cũng xin ý kiến Chính phủ về việc cần thiết phải thay đổi tên gọi của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia - một đơn vị cấp vụ, cục đang được quy định tại Luật Lý lịch tư pháp hiện hành bằng tên gọi Cơ quan quản lý lý lịch tư pháp trong Luật Lý lịch tư pháp (sửa đổi). Sau khi đổi tên, thì “Cơ quan quản lý lý lịch tư pháp” vẫn là một đơn vị cấp vụ, cục thuộc Bộ Tư pháp và do đó hoàn toàn không tạo ra tổ chức mới, không phát sinh thêm biên chế, nhưng lại tạo được điều kiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác lý lịch tư pháp thống nhất, thông suốt trong thực hiện nhiệm vụ. Tại địa phương, Sở Tư pháp vẫn là cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp và cấp phiếu lý lịch tư pháp như quy định của Luật Lý lịch tư pháp hiện hành.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: