Thứ năm 30/04/2026 07:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản lý lý lịch tư pháp trong việc đáp ứng yêu cầu của cá nhân và hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã

Tóm tắt: Bài viết đề cập, phân tích quy định và thực tiễn thực hiện Luật Lý lịch tư pháp trong việc đáp ứng yêu cầu của cá nhân và hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp

Tóm tắt: Bài viết đề cập, phân tích quy định và thực tiễn thực hiện Luật Lý lịch tư pháp trong việc đáp ứng yêu cầu của cá nhân và hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã với quy định của một số các văn bản pháp luật có liên quan quy định về vấn đề này; đồng thời, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị, góp phần tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm quyền yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Abstract: The article mentions and analyzes provisions and practice of the implementation of the Law on Judicial Records in meeting inpidual requirements and assisting personnel management, business registration, establishment and management, enterprises and cooperatives with provisions of a number of relevant legal documents on this issue; at the same time, making a number of proposals and recommendations, contributing to the continued implementation of administrative procedure reform, ensuring the right to request the issuance of judicial record cards of inpiduals, agencies and organizations.

1. Mục đích quản lý lý lịch tư pháp
Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, lý lịch tư pháp (LLTP) là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản[1]. Mục đích quản lý LLTP là nhằm: (i) Đáp ứng yêu cầu cần chứng minh cá nhân có hay không có án tích, có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản; (ii) Ghi nhận việc xóa án tích, tạo điều kiện cho người đã bị kết án tái hóa nhập cộng đồng; (iii) Hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

Cũng theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, việc đáp ứng theo các mục đích quản lý LLTP như đã nêu trên được thực hiện thông qua yêu cầu cấp Phiếu LLTP của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Phiếu LLTP là phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP[2] cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích; bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản[3]. Phiếu LLTP bao gồm[4]: Phiếu LLTP số 1 và Phiếu LLTP số 2. Phiếu LLTP số 1 cấp cho cá nhân (công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam), cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (cơ quan, tổ chức) để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã[5]. Phiếu LLTP số 2 cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và cấp theo yêu cầu của cá nhân để người đó biết được nội dung về LLTP của mình[6].

Cũng theo quy định của Luật, nội dung ghi trong Phiếu LLTP số 1 và Phiếu LLTP số 2 có sự khác nhau. Phiếu LLTP số 1 chỉ ghi những án tích chưa được xóa (những án tích đã được xóa không ghi vào Phiếu LLTP số 1). Phiếu LLTP số 1 cũng không ghi thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức không có yêu cầu. Khác với Phiếu LLTP số 1, Phiếu LLTP số 2 ghi đầy đủ các thông tin của cá nhân, bao gồm các thông tin về án tích (đối với người đã bị kết án thì ghi đầy đủ án tích đã được xóa, thời điểm được xóa án tích, án tích chưa được xóa, ngày, tháng, năm tuyên án, số bản án, Tòa án đã tuyên bản án, tội danh, điều khoản luật được áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự, án phí, tình trạng thi hành án) và thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã[7].

Như vậy, theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 thì cá nhân có quyền yêu cầu cấp cả hai loại Phiếu LLTP. Tuy nhiên, Phiếu LLTP số 2 chỉ cấp theo yêu cầu của cá nhân nhằm mục đích “để người đó biết được nội dung về LLTP của mình”[8] nên cá nhân không được ủy quyền cho người khác làm thủ tục cấp Phiếu LLTP số 2. Trong khi đó, cá nhân khi có yêu cầu cấp Phiếu LLTP số 1 có thể ủy quyền cho người khác làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu LLTP. Đối với cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chỉ có quyền yêu cầu cấp một loại Phiếu LLTP, đó là Phiếu LLTP số 1 để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

2. Quy định của các văn bản quy phạm pháp luật về phiếu lý lịch tư pháp

Góp phần hỗ trợ, phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã, hiện nay, có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau quy định về Phiếu LLTP để đáp ứng các mục đích nêu trên, có thể kể đến một số lĩnh vực sau đây:

- Trong việc tuyển dụng, tiếp nhận công chức vào cơ quan nhà nước hay được bổ nhiệm để hành nghề trong một số lĩnh vực, pháp luật quy định trong hồ sơ của người trúng tuyển công chức phải có Phiếu LLTP do Sở Tư pháp nơi thường trú cấp[9] hay trong hồ sơ của người được đề nghị tiếp nhận không qua thi tuyển (tiếp nhận đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức) phải có Phiếu LLTP do Sở Tư pháp nơi thường trú cấp[10].

- Trong lĩnh vực công chứng, một trong những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên là “Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về tội phạm do vô ý mà chưa được xóa án tích hoặc về tội phạm do cố ý”[11]. Do đó, một trong những giấy tờ cần phải có trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên, bổ nhiệm lại công chứng viên là Phiếu LLTP[12].

- Trong quy định về hồ sơ đề nghị chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của tổ chức tín dụng, pháp luật quy định phải có Phiếu LLTP của nhân sự dự kiến bầu, bổ nhiệm[13].

- Trong hồ sơ đề nghị chấp thuận dự kiến bổ nhiệm Tổng Giám đốc (Giám đốc) của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, pháp luật quy định phải có Phiếu LLTP của nhân sự dự kiến bổ nhiệm[14].

- Trong cấp chứng chỉ hành nghề đối với một số ngành nghề (như luật sư), một trong những giấy tờ cần phải có khi nộp hồ sơ yêu cầu cấp chứng chỉ hành nghề luật sư[15], cấp lại chứng chỉ hành nghề luật sư trong đó có trường hợp chứng chỉ hành nghề luật sư bị mất, bị rách, bị cháy hoặc vì lý do khác không cố ý[16]… trong hồ sơ phải có Phiếu LLTP.

Trong quy định về cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, pháp luật quy định cụ thể, trong hồ sơ đề nghị cấp lần đầu chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam phải có Phiếu LLTP[17]. Trong hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh lần đầu đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, phải có LLTP (áp dụng đối với trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động)[18]. Trong hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề trong trường hợp bị thu hồi theo quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 29 Luật Khám bệnh, chữa bệnh cũng phải có Phiếu LLTP/LLTP[19].

- Trong thủ tục cấp giấy phép thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam của nhà xuất bản nước ngoài, của tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài, pháp luật quy định phải có “…Phiếu LLTP và sổ hộ khẩu hoặc giấy tờ chứng minh được phép thường trú tại Việt Nam của người đứng đầu văn phòng đại diện do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp”[20]. Trong quy định việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng, thì trong tài liệu chứng minh năng lực của bộ máy quản trị, kiểm soát, điều hành dự kiến phải có Phiếu LLTP số 2 theo quy định của pháp luật trước đây[21], nay được sửa lại thành: Đối với người có quốc tịch Việt Nam thì Phiếu LLTP do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cấp, trong đó phải có đầy đủ thông tin về tình trạng án tích (bao gồm án tích đã được xóa và án tích chưa được xóa) và thông tin về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã; đối với người không có quốc tịch Việt Nam thì Phiếu LLTP hoặc văn bản có giá trị tương đương (có đầy đủ thông tin về tình trạng án tích, bao gồm án tích đã được xóa và án tích chưa được xóa; thông tin về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã) phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp theo quy định[22].

- Trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng cổ phần, đối với hồ sơ của cổ đông góp vốn thành lập, đối với cá nhân là cổ đông sáng lập phải có Phiếu LLTP số 2 theo quy định của pháp luật trước đây[23] thì nay được sửa đổi, bổ sung thành Phiếu LLTP do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cấp, trong đó phải có đầy đủ thông tin về tình trạng án tích (bao gồm án tích đã được xóa và án tích chưa được xóa) và thông tin về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã[24]. Trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng cổ phần, hồ sơ của cổ đông góp vốn thành lập đối với tổ chức là cổ đông sáng lập phải có Phiếu LLTP số 2 theo quy định của pháp luật của người đại diện theo pháp luật, người được cử đại diện phần vốn góp của tổ chức tại tổ chức tín dụng phi ngân hàng trước đây[25] thì nay được sửa đổi, bổ sung lại thành Phiếu LLTP của người đại diện theo pháp luật, người được cử đại diện phần vốn góp của tổ chức tại tổ chức tín dụng phi ngân hàng theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 14 Thông tư này[26].

3. Bất cập, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về mục đích quản lý lý lịch tư pháp trong việc đáp ứng yêu cầu của cá nhân và hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã

Quá trình thực hiện quy định của pháp luật về mục đích quản lý LLTP trong việc đáp ứng yêu cầu của cá nhân và hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã thời gian qua còn một số bất cập, hạn chế sau đây:

Thứ nhất, Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 quy định: Cá nhân có quyền yêu cầu cấp cả hai loại Phiếu LLTP, bao gồm Phiếu LLTP số 1 và Phiếu LLTP số 2. Trong đó, Phiếu LLTP số 2 chỉ cấp theo yêu cầu của cá nhân nhằm mục đích “để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình”[27]. Tuy nhiên, do Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 chưa có các quy định bảo đảm để việc cấp Phiếu LLTP chỉ nhằm đến mục đích như Luật đề ra nên trên thực tế, yêu cầu cấp Phiếu LLTP số 2 của cá nhân ngày càng gia tăng nhưng không nhằm mục đích là để người đó biết được nội dung về LLTP của mình mà xuất phát từ yêu cầu, đề nghị của các cơ quan, tổ chức có liên quan khi cá nhân thực hiện một số thủ tục tại các cơ quan, tổ chức này. Đa số trường hợp yêu cầu cấp Phiếu để định cư, du học, kết hôn, xuất khẩu lao động... theo yêu cầu của cơ quan đại diện ngoại giao một số nước như: Hoa Kỳ, Úc, Canada, Newzeland, Nhật Bản, Trung Quốc (Đài Loan). Một số trường hợp để bổ túc hồ sơ xin việc làm theo yêu cầu của cơ quan, doanh nghiệp trong nước như ngân hàng, hàng không, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Một số trường hợp để bổ túc hồ sơ xin giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự theo quy định của Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Theo báo cáo của các Sở Tư pháp và phản ánh của người dân, khi Phiếu LLTP số 2 được cấp và sử dụng công khai có thể dẫn đến hệ lụy cho cá nhân khi tái hòa nhập cộng đồng, hạn chế cơ hội tìm kiếm việc làm, cơ hội được nhập cảnh, du học, định cư ở nước ngoài đối với người đã từng bị kết án (mặc dù người đó đã được xóa án tích) làm hạn chế ý nghĩa nhân đạo của chế định xóa án tích, xâm phạm bí mật đời tư của công dân[28].

Thứ hai, hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực quản lý nhà nước chỉ quy định chung chung là Phiếu LLTP mà không quy định cụ thể là Phiếu LLTP số 1 hay Phiếu LLTP số 2. Một số văn bản quy phạm pháp luật chỉ quy định là Phiếu LLTP (không nêu cụ thể là Phiếu LLTP số 2) nhưng nội dung yêu cầu trong Phiếu LLTP lại thể hiện chính là Phiếu LLTP số 2 như quy định tại Thông tư số 13/2019/TT-NHNN ngày 21/8/2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư có liên quan đến việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó có Thông tư số 03/2018/TT-NHNN ngày 23/02/2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô. Mặc dù, Phiếu LLTP số 2 chỉ được cấp theo yêu cầu của cá nhân nhằm mục đích “để người đó biết được nội dung về LLTP của mình”[29] nhưng do chưa có cơ sở pháp lý để từ chối yêu cầu cấp Phiếu LLTP số 2 khi cá nhân yêu cầu và sử dụng Phiếu LLTP số 2 không đúng mục đích nên tình trạng cá nhân cung cấp Phiếu LLTP số 2 của mình theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức khác ngày càng nhiều. Năm 2018, tình trạng lạm dụng quyền yêu cầu cấp Phiếu LLTP số 2 đối với công dân tiếp tục tăng nhanh (cấp 166.473 Phiếu, tăng hơn 37% so với năm 2017)[30]. Năm 2019, tình trạng lạm dụng yêu cầu cấp Phiếu LLTP số 2 đối với công dân vẫn tăng nhanh (cấp 209.123 Phiếu, tăng 25,6% so với năm 2018)[31].

Thứ ba, việc cấp Phiếu LLTP hiện nay của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP (Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia - Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp) chủ yếu xuất phát từ yêu cầu của cá nhân. Năm 2019[32], tổng số Phiếu LLTP số 1 đã cấp là 466.508 Phiếu LLTP, trong đó có 466.483/466.508 Phiếu LLTP cấp cho cá nhân với 447.450 Phiếu LLTP cấp cho công dân Việt Nam và 19.033 Phiếu LLTP cấp cho người nước ngoài. Tổng số Phiếu LLTP số 2 đã cấp là 174.269 Phiếu LLTP, trong đó có 174.249/174.269 Phiếu LLTP cấp cho cá nhân với 172.460 Phiếu LLTP cấp cho công dân Việt Nam và 1.789 Phiếu LLTP cấp cho người nước ngoài.

Đối với cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, mặc dù Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 quy định có quyền yêu cầu cấp Phiếu LLTP số 1 để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã nhưng trên thực tế hầu như các cơ quan, tổ chức không thực hiện yêu cầu này. Năm 2019[33], tổng số Phiếu LLTP số 1 đã cấp cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là 25/466.508 Phiếu LLTP. Trong khi đó, nhiều trường hợp là để hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã (việc cung cấp Phiếu LLTP cho các cơ quan, tổ chức này được thực hiện thông qua cá nhân) như trong quy định về thủ tục tuyển dụng công chức, tiếp nhận đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức quy định người trúng tuyển (mà không phải là cơ quan tuyển dụng) yêu cầu đề nghị cấp Phiếu LLTP.

Thứ tư, một trong những mục đích quản lý LLTP là nhằm đáp ứng yêu cầu cần chứng minh cá nhân có hay không có án tích, có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản và hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, pháp luật quy định phải có Phiếu LLTP trở nên không cần thiết, gây khó khăn, phiền hà cho người dân, chưa bảo đảm tinh thần cải cách thủ tục hành chính như: Quy định khi đề nghị cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư trong trường hợp bị mất, bị rách, bị cháy hoặc vì lý do không cố ý phải có Phiếu LLTP; quy định đối với người Việt Nam xin cấp lần đầu chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đang làm việc trong các cơ sở y tế tại thời điểm xin cấp chứng chỉ hành nghề vẫn phải có Phiếu LLTP; trong thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước quy định trường hợp cha dượng/mẹ kế nhận con riêng của vợ/chồng làm con nuôi phải có Phiếu LLTP trong thành phần hồ sơ của người nhận con nuôi…

4. Đề xuất, kiến nghị

Để mục đích quản lý LLTP trong việc đáp ứng yêu cầu của cá nhân và hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã được thực hiện ngày càng hiệu quả trong thực tiễn thi hành, tác giả có một số kiến nghị, đề xuất như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 theo hướng bỏ quy định về Phiếu LLTP số 2. Theo đó, cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu LLTP chỉ được cấp một loại Phiếu LLTP (nội dung của Phiếu LLTP như Phiếu LLTP số 1 hiện nay), bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục đích quản lý LLTP, đó là ghi nhận việc xóa án tích, tạo điều kiện cho người đã bị kết án tái hòa nhập cộng đồng. Đồng thời, nghiên cứu, quy định cụ thể hơn trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong việc yêu cầu cấp Phiếu LLTP của cá nhân có liên quan để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

Thứ hai, tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực quản lý nhà nước theo hướng:

(i) Quy định cụ thể, thống nhất về Phiếu LLTP, chỉ yêu cầu duy nhất 01 loại Phiếu LLTP, khắc phục tình trạng quy định chung chung hoặc quy định khác nhau như hiện nay.

(ii) Chuyển chủ thể yêu cầu cấp Phiếu LLTP từ cá nhân sang cho cơ quan, tổ chức như trong quy định về thủ tục thi tuyển công chức, thủ tục xét tuyển công chức, về Phiếu lý lịch tư pháp trong thành phần hồ sơ quy định theo hướng người trúng tuyển không phải nộp Phiếu LLTP mà chuyển chủ thể đề nghị Sở Tư pháp cấp Phiếu LLTP sang cơ quan tuyển dụng. Trong thủ tục tiếp nhận đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức, về thành phần Phiếu LLTP trong hồ sơ, quy định theo hướng người trúng tuyển không phải nộp Phiếu LLTP mà chuyển chủ thể đề nghị Sở Tư pháp cấp Phiếu LLTP sang cơ quan tuyển dụng[34].

(iii) Rà soát, bỏ yêu cầu về Phiếu LLTP đối với một số trường hợp cụ thể, bảo đảm tinh thần cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân như bỏ yêu cầu phải nộp Phiếu LLTP trong thành phần hồ sơ của người nhận con nuôi trong trường hợp cha dượng/me kế nhận con riêng của vợ/chồng làm con nuôi. Trong Đơn xin nhận con nuôi chỉ cần bổ sung nội dung cam đoan của người xin nhận con nuôi không thuộc các trường hợp bị cấm nhận con nuôi theo quy định của Luật Nuôi con nuôi[35]. Trong quy định cấp lần đầu chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đối với người Việt Nam: Bỏ Phiếu LLTP đối với người xin cấp chứng chỉ hành nghề đang làm việc trong các cơ sở y tế tại thời điểm xin cấp chứng chỉ hành nghề[36]. Bỏ quy định về Phiếu LLTP trong hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề luật sư trong trường hợp bị mất, bị rách, bị cháy hoặc vì lý do khác không cố ý[37].

Thứ ba, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, bảo đảm kịp thời sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản thay thế phù hợp, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của các văn bản và tính khả thi trong thực tiễn thi hành. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo đảm kịp thời phát hiện các hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật, qua đó, có các giải pháp xử lý hoặc đề xuất, kiến nghị phù hợp, góp phần thực hiện có hiệu quả mục đích quản lý LLTP.

ThS. Nguyễn Thị Minh Phương

Bộ Tư pháp



[1]. Khoản 1 Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009.

[2]. Theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Luật lý lịch tư pháp năm 2009 thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP bao gồm Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp.

[3]. Khoản 4 Điều 2 Luật lý lịch tư pháp năm 2009.

[4]. Khoản 1 Điều 41 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009.

[5]. Điểm a khoản 1 Điều 41 và khoản 1, khoản 3 Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009.

[6]. Điểm b khoản 1 Điều 41 và khoản 2 Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009.

[7]. Điều 43 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009.

[8]. Điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009.

[9]. Điểm b khoản 2 Điều 9 Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 03/2015/TT-BNV ngày 10/3/2015).

[10]. Điểm c khoản 3 Điều 10 Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.

[11]. Khoản 1 Điều 13 Luật Công chứng năm 2014.

[12]. Điểm b khoản 2 Điều 12, điểm b khoản 4 Điều 16 Luật Công chứng năm 2014.

[13]. Khoản 5 Điều 1 Thông tư số 13/2019/TT-NHNN ngày 21/8/2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư có liên quan đến việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

[14]. Khoản 6 Điều 1 Thông tư số 13/2019/TT-NHNN ngày 21/8/2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư có liên quan đến việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

[15]. Điểm b khoản 1 Điều 17 Luật Luật sư năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2012).

[16]. Điển b khoản 1 Điều 4 Thông tư số 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Luật luật sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư, Nghị định hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Luật sư về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.

[17]. Khoản 5 Điều 5 Nghị định số 109/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

[18]. Khoản 7 Điều 6 Nghị định số 109/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

[19]. Điểm c khoản 2 Điều 8 Nghị định số 109/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

[20]. Điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định số 195/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xuất bản.

[21]. Điểm a khoản 4 Điều 14 Thông tư số 30/2015/TT-NHNN ngày 25/12/2015 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

[22]. Khoản 3 Điều 1 Thông tư số 01/2019/TT-NHNN ngày 01/02/2019 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 30/2015/TT-NHNN ngày 25/12/2015 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

[23]. Điểm b (ii) khoản 3 Điều 15 Thông tư số 30/2015/TT-NHNN ngày 25/12/2015 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

[24]. Khoản 4 Điều 1 Thông tư số 01/2019/TT-NHNN ngày 01/02/2019 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 30/2015/TT-NHNN ngày 25/12/2015 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

[25]. Điểm d (ii) khoản 3 Điều 15 Thông tư số 30/2015/TT-NHNN ngày 25/12/2015 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

[26]. Khoản 5 Điều 1 Thông tư số 01/2019/TT-NHNN ngày 01/02/2019 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 30/2015/TT-NHNN ngày 25/12/2015 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

[27]. Điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009.

[28]. Báo cáo số 173/BC-BTP ngày 20/6/2017 của Bộ Tư pháp Tổng kết 06 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp, tr.16.

[29]. Điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009.

[30]. Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác tư pháp năm 2018 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2019 (Tài liệu Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2019, Hà Nội, ngày 08/01/2019), tr. 17.

[31]. Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác tư pháp năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2020, tr. 13.

[32]. Biểu mẫu số 12 - Tổng hợp số liệu thống kê về số Phiếu lý lịch tư pháp đã cấp, nguồn: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Lists/ChiDaoDieuHanh/Attachments/2760/2.1.1.%20So%20lieu%20tong%20ket%202019%20-Ban%20de%20in.pdf, truy cập ngày 23/12/2019.

[33]. Biểu mẫu số 12, tlđd.

[34]. Khoản 2 Mục A Phần VII của Phương án đơn giản hóa kèm theo Quyết định số 199/QĐ-TTg ngày 09/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương án đơn giản hóa đối với nhóm thủ tục hành chính, quy định liên quan đến lý lịch tư pháp và yêu cầu nộp bản sao giấy tờ có công chứng, chứng thực.

[35]. Khoản 2 Mục A Phần X của Phương án đơn giản hóa kèm theo Quyết định số 199/QĐ-TTg ngày 09/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương án đơn giản hóa đối với nhóm thủ tục hành chính, quy định liên quan đến lý lịch tư pháp và yêu cầu nộp bản sao giấy tờ có công chứng, chứng thực.

[36]. Khoản 7 Mục A Phần XIV của Phương án đơn giản hóa kèm theo Quyết định số 199/QĐ-TTg ngày 09/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương án đơn giản hóa đối với nhóm thủ tục hành chính, quy định liên quan đến lý lịch tư pháp và yêu cầu nộp bản sao giấy tờ có công chứng, chứng thực.

[37]. Khoản 1 Mục A Phần X của Phương án đơn giản hóa kèm theo Quyết định số 199/QĐ-TTg ngày 09/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương án đơn giản hóa đối với nhóm thủ tục hành chính, quy định liên quan đến lý lịch tư pháp và yêu cầu nộp bản sao giấy tờ có công chứng, chứng thực.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: