Thứ bảy 08/08/2026 23:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản lý mạng xã hội: Cần tiếp cận theo xu hướng phát triển

Tóm tắt: Bài viết này phân tích vai trò, ý nghĩa của mạng xã hội; khả năng (hiệu quả) của mạng xã hội trong quản lý xã hội và vấn đề quản lý mạng xã hội tại Việt Nam hiện nay đang gây ra những tác động gì? Cần làm gì để cải thiện?


Abstract: This article is aimed at analyzing the role, meaning of social network; the ability (effect) of social network in the social management and which impact the social network management may have in Vietnam at present? What should be done to improve this?

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”[1], đồng thời, “công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”[2]. Như vậy, tiếp cận thông tin và sử dụng thông tin để quản lý xã hội của công dân Việt Nam là một quyền hiến định theo Hiến pháp hiện hành. Khả năng giới hạn một quyền hiến định cần phải tuân theo các thủ tục chặt chẽ mà không phải sự tùy tiện trong quyết định hay hành vi của cơ quan công quyền[3]. Đó chính là nền tảng thiết yếu để vận hành một xã hội dân chủ và pháp quyền tại Việt Nam[4].

1. Đo lường hiệu quả của mạng xã hội trong quản lý xã hội

Công nghệ thông tin khai sinh ra nền “dân chủ điện tử”. Dân chủ điện tử dựa trên công nghệ thông tin thúc đẩy bởi thị trường, được nhiều người cho là hoàn toàn trung lập khi áp dụng, vì nó được sử dụng bởi các công dân khi liên lạc, truyền thông, cũng như bởi các chính quyền để tăng cường giám sát hay kiểm soát công dân[5]. Tuy vậy, công nghệ thông tin nghiêng hơn về phía trao quyền cho công dân, theo những cách sau: (i) Cho phép thông tin các loại về chính quyền được tiếp cận trực tiếp bởi công dân ở gần như mọi thời điểm trong một không gian linh hoạt; (ii) Nó gia tăng đáng kể tốc độ truyền thông, trong khi giảm chi phí, hỗ trợ liên lạc và công tác tổ chức giữa các công dân; (iii) Là phương tiện tương tác trung gian, hỗ trợ các hình thức thảo luận và tranh luận mới vượt qua rào cản về khoảng cách địa lý; (iv) Nó hầu như nằm ngoài phạm vi kiểm soát của chính quyền, cho dù có cố gắng kiểm soát việc sử dụng và phát triển, nó khiến cho biên giới quốc gia và sự kiểm duyệt hầu như không còn liên quan gì.

Những thuận lợi của mạng internet nêu trên có thể làm lợi cho các nhóm, tổ chức tội phạm, lạm dụng tình dục trẻ em, xâm phạm quyền riêng tư, nhưng đó là cái giá thỏa đáng phải trả cho tiềm năng dân chủ từ công nghệ. Từ quan điểm dân chủ, điều quan trọng hơn là mọi lợi thế đều phụ thuộc vào khả năng tiếp cận nó và khả năng này phân bổ không đồng đều giữa các công dân tại các vùng miền, có mức sống khác nhau. Khả năng trao quyền của công nghệ càng lớn, sự tước đoạt quyền của những người không thể tiếp cận hay sử dụng nó càng cao. Một số ví dụ về sự khác biệt giữa các khu vực trên thế giới trong khả năng tiếp cận công nghệ thông tin theo tỷ lệ dân số: Năm 2016 có 47,1% dân số thế giới đã được tiếp cận internet, tăng từ mức 43% của năm 2015. Trong năm 2015, tỷ lệ tăng trưởng truy cập mạng của của các nước đang phát triển là 35,3% so với 82,2% của các nước đang phát triển. 4,2 tỷ người chưa được tiếp cận mạng internet đa phần là ở các nước kém phát triển, điều kiện kinh tế khó khăn. Theo Liên minh Viễn thông Thế giới (ITU) thì hiện nay, 03 nước đứng đầu về lượng người truy cập mạng internet là: Hàn Quốc, Pháp và Ireland. Và 03 nước đang có tỷ lệ người truy cập mạng ít nhất là: Senegan, Pakistan và Zambia. Việt Nam là một trong số các nước có lượng người truy cập internet đứng đầu thế giới. Cụ thể, theo thống kê thời điểm hiện tại, Việt Nam đang có khoảng hơn 30 triệu người dùng mạng chiếm 34,1% dân số Việt Nam và bằng 1,4% dân số thế giới[6].

Kể từ năm 2004, khi mà internet băng thông rộng được triển khai mạnh và mạng xã hội trên internet phát triển bùng nổ, thì các hoạt động truyền thông xã hội ở Việt Nam cũng trở nên rất sôi động. Đến nay, có thể nhận diện các khu vực hoạt động chính của truyền thông xã hội ở Việt Nam mà nhiều cá nhân đang tham gia thường xuyên, cụ thể như[7]: (i) Các cuộc thảo luận trên các diễn đàn trực tuyến, trên chức năng phản hồi (comment) của các bản tin điện tử (tin trên báo điện tử, tin trên các website, status hoặc entry mạng xã hội); (ii) Các hoạt động đưa tin và xuất bản của cá nhân trên internet, chẳng hạn như đăng bài trên website cá nhân, viết blog entry, đăng tải video clip lên YouTube, viết status và note Facebook, đăng tải hình ảnh trên internet (Facebook, Instagram…); (iii) Các hoạt động kết nối và phát tán thông tin trên môi trường mạng điện tử, chẳng hạn như tag các mục nội dung cho bạn bè trên mạng, chia sẻ các mục nội dung, chia sẻ tài liệu trên dịch vụ đám mây… Theo số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông[8], đến hết năm 2014, Việt Nam là một trong những quốc gia phát triển internet nhanh trên thế giới với hơn 32 triệu người sử dụng internet, tương đương tỷ lệ 35% số dân. Cùng với đó, thông tin điện tử trên mạng internet, bao gồm báo chí điện tử và truyền thông xã hội cũng có sự phát triển rất nhanh chóng. Tính đến cuối năm 2014, nước ta có hơn 300 mạng xã hội đã đăng ký hoạt động. Bên cạnh đó, một số lượng rất lớn các blog cá nhân cũng góp phần đáng kể phát triển truyền thông xã hội. Kết quả nghiên cứu của một công ty chuyên về điều tra xã hội học trong lĩnh vực internet cho thấy, hơn 95% số người truy cập internet để đọc thông tin, chủ yếu thông qua các website tổng hợp và các mạng xã hội. Theo đó, nhu cầu tìm kiếm và sử dụng thông tin là nhu cầu chủ đạo của người dùng internet. Hơn nữa, những số liệu thống kê không chính thức cũng cho thấy các website truyền thông xã hội chiếm đến 80% số lượng người sử dụng thường xuyên trong số 10 website lớn nhất ở Việt Nam.

Mạng xã hội Facebook mới đây đã đưa ra một số thống kê về thói quen và hành vi sử dụng Facebook của người Việt Nam. Theo đó, có 20 triệu người Việt Nam sử dụng Facebook mỗi ngày và trung bình mỗi người dành ra tới 2,5 giờ cho mạng xã hội lớn nhất hành tinh này. Thống kê cũng cho thấy tại Việt Nam, mỗi tháng có tới 30 triệu người dùng Facebook, trong đó có 27 triệu người có sử dụng các thiết bị di động để truy cập mạng xã hội này. Nếu tính trên phạm vi hàng ngày, số người truy cập Facebook nói chung và số người truy cập Facebook qua di động nói riêng lần lượt là 20 triệu và 17 triệu người.

Qua những con số trên có thể thấy, truyền thông xã hội đang cạnh tranh với các phương tiện truyền thông đại chúng khác về số lượng người xem và quảng cáo. Tuy nhiên, kết quả các khảo sát cho thấy, số người xem truyền hình, đọc báo, tạp chí, báo mạng, nghe đài, băng, đĩa lớn hơn số người viết, xem truyền thông xã hội. Cụ thể: (i) Số người trẻ tuổi viết, xem truyền thông xã hội tăng nhanh, tập trung chủ yếu ở các khu đô thị lớn; số người lớn tuổi cũng có xu hướng sử dụng mạng xã hội để giao tiếp; (ii) Truyền thông xã hội là kênh thông tin mà báo chí tham khảo như một nguồn tin, doanh nghiệp hướng tới để quảng bá sản phẩm; (iii) Các nhóm lợi ích, nhóm công chúng cũng tận dụng truyền thông xã hội cho mục tiêu của mình; (iv) Xu hướng phát triển đan xen giữa tích cực và tiêu cực nhưng trên bình diện chung thì cái tích cực đang được phát huy, cái tiêu cực đang bị kìm chế; (v) Truyền thông xã hội ở Việt Nam tiếp tục thu hút đông đảo người dùng và số lượng người xem. Tuy nhiên, khoảng cách lượt người xem các trang truyền thông xã hội của Việt Nam ngày càng xa so với mạng xã hội Facebook.

2. Quản lý mạng xã hội phải phù hợp xu hướng phát triển

Tại phiên chất vấn trước Quốc hội ngày 17/11/2017, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đã khẳng định: “Chúng ta không thể cấm mạng xã hội hoạt động, vấn đề là làm thế nào để tăng cường mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của mạng xã hội”[9]. Có tới 70 chất vấn đã được gửi tới ông Bộ trưởng Bộ này và điều mà dư luận quan tâm là mạng xã hội với không ít những hệ lụy cũng như cách phản ứng trong quản lý của Việt Nam xưa nay.

Mạng xã hội giờ đây không ít những tác hại, thông tin sai - đúng, giả - thật lẫn lộn. Và thực tế đã xảy ra những hậu quả khôn lường, theo số liệu mà Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông đưa ra: Từ năm 2014 đến nay, có 05 - 06 người tự tử vì bị bôi xấu trên mạng xã hội. Chưa kể những hệ lụy mang tính tác động tới tâm tư, tình cảm, cái nhìn rất khó lượng hóa. Tuy nhiên, những “năng lượng đen”, những thông tin bịa đặt, những xấu xí của mạng xã hội chỉ là một phần nhỏ trong những ưu việt và tiện ích mà mạng xã hội mang lại. Với 70% người Việt Nam dùng internet, 53 triệu tài khoản Facebook, nếu biết cách khai thác, đó chính xác là một lợi thế, một nguồn lực rất lớn[10]. Nhìn khách quan, nếu những thông tin xấu lan tỏa thì những thông tin, chính sách, thông điệp cũng có thể đến với người dân. Như vậy, vấn đề nằm ở chỗ chúng ta chọn gì, mà không phải đi ngược lại sự tiến bộ, không thể cực đoan đi đến sự cấm đoán trước khi nỗ lực đấu tranh cho cái tốt tồn tại.

Cũng tại phiên chất vấn trên, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông ví von: Mạng xã hội như con đường và “đừng coi việc sử dụng là xấu, điều quan trọng nằm ở ý thức của người sử dụng”. Theo ông Bộ trưởng, với việc kiên quyết xử lý những thông tin thiếu chính xác, sai sự thật trên cơ sở tăng cường thông tin chính xác, thông tin tốt trên báo chí, không để báo chí bị dẫn dắt bởi mạng xã hội, cũng là một cách thức hiệu quả để đẩy lùi các thông tin xấu, sai sự thật trên mạng. Đây được xem là một cách tiếp cận chính xác, thể hiện sự tin tưởng và tôn trọng quyền được tiếp cận thông tin của người dân. Bởi chính người dùng sẽ là những người quyết định làm gì với những tin xấu, tin độc hại. Quản lý trong một xã hội hiện đại không thể nằm ngoài những điều phổ quát như vậy.

Hiển nhiên, trên quan điểm của một quyền không tuyệt đối, quyền tiếp cận thông tin hay tự do ngôn luận cần được ra quản lý trên cơ sở các giới hạn chính đáng đã được hiến định[11]. Từ thực tiễn phát triển của truyền thông xã hội và những tác động của nó đối với báo chí chính thống, nhận thấy cần phải có giải pháp nhằm phát huy những ưu điểm và hạn chế những mặt tiêu cực của mạng truyền thông xã hội, cụ thể như sau:

Một là, Nhà nước cần kịp thời bổ sung, hoàn thiện các văn bản cần thiết phù hợp với thực tiễn để bảo đảm môi trường pháp lý rõ ràng, minh bạch, công khai và bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân khi tham gia truyền thông xã hội. Các cá nhân, tổ chức cần phải có trách nhiệm pháp lý với các thông tin đưa lên mạng xã hội hay trang thông tin điện tử. Cần làm tốt công tác xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích đối với doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh trong lĩnh vực thông tin, truyền thông.

Hai là, tăng cường tính bảo mật và đấu tranh với tội phạm tin học. Cảnh báo với các cá nhân, tổ chức những nguyên tắc bảo mật tối thiểu khi tham gia các diễn đàn, mạng xã hội. Với các đơn vị xây dựng các trang thông tin điện tử, mạng xã hội, các sản phẩm trên internet, thì ngay từ khi xây dựng, sản phẩm đã phải thực hiện các biện pháp công nghệ về bảo mật thông tin hệ thống cũng như thông tin của sản phẩm và thông tin người sử dụng sản phẩm. Các đơn vị chuyên trách về an ninh mạng cần kịp thời hỗ trợ các tổ chức, cá nhân khi phát hiện dấu hiệu xuất hiện những “lỗ hổng” của việc bảo mật và cả khi bị tội phạm tin học tấn công. Các thành viên trên mạng xã hội cũng kịp thời cảnh báo cho nhau khi phát hiện những đường link độc hại hoặc có nguy cơ bị cướp tài khoản cá nhân. Mỗi cơ quan cần xây dựng những bộ quy tắc, quy định về những thông tin nội bộ, những thông tin bảo mật của đơn vị mình; xử lý nghiêm những hành vi phát tán thông tin nội bộ không được phép của các thành viên gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đơn vị mình; quy định về tư cách cá nhân khi phát ngôn trên các mạng xã hội… Tuy nhiên, việc xây dựng quy chế nội bộ còn phải căn cứ trên các quy định pháp luật, tránh việc lạm quyền, xâm phạm quyền công dân của cán bộ, nhân viên.

Ba là, kiểm chứng và phản biện kịp thời với thông tin sai. Cần xây dựng kế hoạch đấu tranh phản bác các luận điệu tuyên truyền sai trái, phản động trên các mạng xã hội, theo đó, mặt công tác này phải được triển khai thường xuyên, có trọng tâm. Nếu như ngày xưa có những tin đồn qua trò chuyện với tốc độ lan truyền chậm, thì bây giờ, qua các trang thông tin điện tử, mạng xã hội tốc độ lan truyền tăng lên gấp bội. Đối với những thông tin sai trái gây ảnh hưởng lớn trong xã hội, thì ngoài việc cộng đồng đấu tranh cho chân lý, cần có sự ra tay của các cơ quan chức năng kịp thời ngăn chặn những luồng thông tin này kể cả về mặt công nghệ và hành pháp.

Bốn là, tăng cường tuyên truyền tới cộng đồng về những lợi - hại của mạng xã hội. Bản thân các trang thông tin điện tử hay mạng xã hội chỉ là công cụ cho người dùng sử dụng. Cần khuyến cáo tới cộng đồng những nguyên tắc khi tham gia truyền thông xã hội, trước hết là vì quyền lợi của chính người dùng, sau đó là sự tôn trọng không gian sống của người khác. Khi tiếp nhận các thông tin cần có những phán đoán và kiểm chứng trước khi nghĩ đến việc lan tỏa thông tin. Điều này là thiết yếu trong xã hội thông tin như hiện nay.

Năm là, tăng cường hơn nữa công tác thanh, kiểm tra, xử lý vi phạm, đặc biệt là sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng có liên quan và của cả hệ thống chính trị. Cần xử lý nghiêm những hành vi mạo danh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cá nhân, đơn vị; xử lý hình sự những hành vi mạo danh để trục lợi, lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bên cạnh đó, những đơn vị cung cấp dịch vụ cũng cần thường xuyên có những cảnh báo gửi đến khách hàng, tránh để bị kẻ xấu lợi dụng mạo danh, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi khách hàng của mình.

Sáu là, khuyến khích các mạng xã hội tích cực và những thành viên tốt. Trên thế giới ảo cũng như cuộc sống thực luôn có những cái xấu và cái tốt xuất hiện đen xen nhau. Nếu như những cái tốt đủ lớn thì sẽ thu hẹp dần những cái xấu. Đấu tranh với cái xấu quyết liệt bao nhiêu thì việc khuyến khích, động viên những cái tốt càng phải tăng cường bấy nhiêu. Nếu có nhiều trang tốt thu hút người dùng thì cũng là một cách hạn chế người dùng đến với những trang có mục đích xấu.

PGS.TS. Nguyễn Quốc Sửu

Học viện Hành chính Quốc gia

ThS. Nguyễn Minh Thắng

Đại học Kỹ thuật, Hậu cần Công an nhân dân





[1]. Điều 25 Hiến pháp năm 2013.

[2]. Điều 28 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

[4]. Khoản 1 Điều 2; Điều 3 Hiến pháp năm 2013.

[5]. Tham khảo:David Beetham - Kevin Boyle (2009), Giới thiệu về dân chủ: 80 câu hỏi - đáp (câu hỏi số 50), UNESCO.

[6]. Theo báo cáo của Liên minh Viễn thông Thế giới (ITU) công bố các năm 2015, 2016.

[7]. Tham khảo: ĐMQ (2016), Thực trạng và giải pháp quản lý truyền thông xã hội tại Việt Nam hiện nay, nguồn: http://ictvietnam.vn/danh-gia-va-trao-doi/thuc-trang-va-giai-phap-quan-ly-truyen-thong-xa-hoi-tai-viet-nam-hien-nay.htm (Ngày đăng: 01/09/2016; truy cập lần cuối: 14/11/2017).

[8]. Tham khảo: ĐMQ (2016), Thực trạng và giải pháp quản lý truyền thông xã hội tại Việt Nam hiện nay, tlđd.

[9]. Tham khảo: LĐO (2017), Mạng xã hội và ý thức người sử dụng, nguồn: https://laodong.vn/su-kien-binh-luan/mang-xa-hoi-va-y-thuc-nguoi-su-dung-576775.ldo (Ngày đăng: 18/11/2017; truy cập lần cuối: 19/11/2017).

[10]. Tham khảo: LĐO (2017), Mạng xã hội và ý thức người sử dụng, tlđd.

[11]. Xem Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: