Thứ ba 22/09/2026 20:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ ở huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh

Trong phạm vi bài viết, tác giả đã phân tích tình hình vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động quản lý đất rừng phòng hộ, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ tại huyện Cần Giờ, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ.


1. Tình hình vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động quản lý đất rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Cần Giờ

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương triển khai công tác quản lý đất rừng phòng hộ từ rất sớm. Ngay khi Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 (nay là Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004) và Luật Đất đai năm 1993 (nay là Luật Đất đai năm 2013) được ban hành, Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã có những văn bản điều chỉnh hoạt động quản lý đất rừng phòng hộ trên địa bàn Thành phố nói chung và khu vực rừng phòng hộ Cần Giờ nói riêng. Cụ thể, Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã ban hành các quyết định về việc ban hành bản quy định về khoán, bảo vệ rừng, khoanh nuôi, tái sinh rừng, trồng rừng thuộc rừng phòng hộ môi trường, rừng đặc dụng ở TP. Hồ Chí Minh; quyết định về việc nghiêm cấm tỉa thưa rừng phòng hộ Cần Giờ; quyết định về thành lập Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ và quyết định về ban hành quy chế tổ chức hoạt động của Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ. Đây được xem là thời điểm đánh dấu bước tiến mới trong hoạt động quản lý đất rừng phòng hộ tại huyện Cần Giờ. Năm 2001, Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng Khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn Cần Giờ theo Quyết định số 8413/QĐ-UBND ngày 12/12/2001. Qua 06 năm triển khai thực hiện, Dự án đã góp phần bảo vệ tốt diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ. Đến năm 2008, thành phố tiếp tục phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác quản lý phát triển rừng ngập mặn Cần Giờ với nhiệm vụ chính là xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật lâm sinh nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý bảo vệ rừng.

Từ năm 2007 đến nay, thành phố đều phê duyệt dự án chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ Cần Giờ hàng năm để có nguồn kinh phí phục vụ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ huyện Cần Giờ. Kinh phí khoán bảo vệ rừng phòng hộ Cần Giờ cũng được Ủy ban nhân dân thành phố hết sức quan tâm nhằm cải thiện đời sống cho người dân sống trong rừng phòng hộ và người lao động tại các đơn vị nhận khoán bảo vệ rừng.

Theo thống kê từ Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ, từ năm 1997 đến nay, tình hình vi phạm có nhiều biến động, có thể chia ra thành 02 giai đoạn cụ thể:

- Giai đoạn 1 (từ năm 1997 đến năm 2000): Đây là khoảng thời gian mà tình hình vi phạm có sự gia tăng về số lượng theo từng năm. Theo Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ, năm 1997 có 17 vụ vi phạm; năm 1998 có 92 vụ vi phạm, năm 1999 có 65 vụ vi phạm và năm 2000 có 109 vụ vi phạm. Có thể thấy, những năm đầu khi triển khai thực hiện các quy định về quản lý rừng phòng hộ, do chưa có một đội ngũ chuyên trách để thực hiện hoạt động quản lý, giám sát nên số lượng vi phạm các quy định về quản lý đất rừng phòng hộ có số lượng lớn và có xu hướng gia tăng.

- Giai đoạn 2 (từ năm 2001 đến nay): Đây là giai đoạn mà Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ được thành lập và đi vào hoạt động, cùng với đó là hàng loạt các văn bản, quy định về quản lý đất rừng phòng hộ từ trung ương tới địa phương lần lượt được ban hành mới hoặc sửa đổi, thay thế các văn bản cũ. Kết quả là số vụ vi phạm đã giảm dần theo từng năm, cụ thể: Năm 2001 có 80 vụ, năm 2009 có 48 vụ và đến năm 2014 chỉ còn 04 vụ.

2. Hạn chế, vướng mắc trong quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ tại huyện Cần Giờ

Thứ nhất, hạn chế trong các quy định của pháp luật. Chưa có quy định phù hợp về hoạt động sản xuất dưới tán rừng để hộ gia đình yên tâm sản xuất như: Quy định về quy mô, diện tích, cơ sở hạ tầng; thiếu những điều kiện cơ bản để bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, mọi tác động vào rừng và đất rừng đều phải có sự đồng ý của cấp có thẩm quyền nên thủ tục rườm rà khó thực hiện. Do đó, chưa tạo được hành lang pháp lý chặt chẽ cho công tác bảo vệ rừng kết hợp với công tác sản xuất, nuôi trồng thủy hải sản trong rừng phòng hộ. Bên cạnh đó, chưa có các chính sách khuyến nông khuyến lâm phù hợp cũng như các chính sách hỗ trợ về vốn đầu tư sản xuất dưới tán rừng để người dân có thể tiếp cận được tới các nguồn vốn và mô hình có hiệu quả cao nhằm thực hiện tốt công tác sản xuất. Ngoài ra, cũng chưa có các quy định xử phạt chuyên biệt để xử lý các vi phạm về quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ; chưa có các quy định về bảo đảm mức đãi ngộ xứng đáng cho các chủ thể thực hiện hoạt động quản lý đất rừng phòng hộ.

Thứ hai, hạn chế về yếu tố con người. Diện tích đất rừng phòng hộ tại huyện Cần Giờ chiếm hơn 50% diện tích tự nhiên toàn huyện. Do đó, để bảo đảm hiệu quả công tác quản lý, đòi hỏi cần có một đội ngũ cán bộ đủ về số lượng và giỏi về chuyên môn. Tuy nhiên, trên thực tế số lượng đội ngũ thực hiện công tác quản lý này nếu tuân theo các quy định biên chế trong chỉ tiêu về tổ chức cán bộ, công chức, viên chức thì không đủ để đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Hiện nay, nếu tính cả cán bộ, công nhân viên ngoài chỉ tiêu thì tổng cộng chỉ có 108 người. Như vậy, một người trung bình phải quản lý diện tích là 326 ha. Bên cạnh đó, công tác quản lý đất rừng phòng hộ đòi hỏi kiến thức không chỉ về quản lý đất đai mà còn cả những kiến thức chuyên ngành trong quản lý rừng và môi trường. Trong khi đó, sự phối hợp giữa hai ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn với ngành tài nguyên và môi trường tại địa phương còn thiếu chặt chẽ và chưa đáp ứng được các yêu cầu trong công tác quản lý. Hiện nay, bằng việc cho các tổ chức, cá nhân nhận khoán để bảo vệ rừng nên diện tích đất rừng phòng hộ trên địa bàn thành phố về cơ bản đang được duy trì và bảo vệ tốt, số vụ vi phạm có chiều hướng giảm nhưng trong tương lai vẫn cần có những quy định hỗ trợ cho đội ngũ thực hiện công tác quản lý này.

Thứ ba, hạn chế về trang bị cơ sở vật chất. Với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, công tác quản lý nói chung và công tác quản lý đất rừng phòng hộ nói riêng đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật mới bảo đảm được tính hiệu quả và chính xác. Những hỗ trợ về mặt khoa học và công nghệ sẽ giúp giảm bớt gánh nặng công việc của con người, hạn chế việc tăng biên chế không cần thiết, giúp nâng cao tính chính xác và khách quan của hoạt động quản lý. Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan về khí hậu cũng như diện tích rộng lớn của rừng phòng hộ Cần Giờ nên một số trang thiết bị, máy móc đã bị xuống cấp nhưng chưa được bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời. Ngoài ra, một số trang thiết bị đã quá lỗi thời nhưng chưa được thay thế bằng các phương tiện, công nghệ mới do hạn chế về mặt kinh phí.

Thứ tư, hạn chế trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Một trong những hoạt động giúp bảo đảm việc quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ được thực hiện phù hợp với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là thông qua công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm. Thông qua các cuộc thanh tra, kiểm tra và rà soát thực trạng quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ, các cơ quan nhà nước, những người có thẩm quyền sẽ có được cái nhìn toàn cảnh, từ đó có cơ sở để hoạch định các chính sách, kế hoạch trong tương lai và cũng từ những cuộc thanh tra và kiểm tra này nếu thực hiện một cách nghiêm túc sẽ có thể phát hiện được các vi phạm đang còn tồn tại để kịp thời xử lý bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và tránh được tình trạng vi phạm kéo dài. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động này tại huyện Cần Giờ lại chưa được coi trọng và thực hiện đầy đủ, một phần vì nhân lực không đủ dẫn đến số lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trên địa bàn còn hạn chế, chưa bảo đảm được các yêu cầu của công tác quản lý, đặc biệt là với một khu vực có diện tích rộng như khu vực rừng phòng hộ Cần Giờ.

3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ

Qua thực tiễn quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ tại huyện Cần Giờ, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ huyện Cần Giờ như sau:

- Cần có những quy định để các tổ chức, cá nhân nhận khoán bảo vệ rừng và đất rừng phòng hộ được hưởng lợi trực tiếp từ rừng và từ các thu nhập khác. Theo đó, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp, các ngành, các cấp có thẩm quyền cần nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp để các tổ chức, cá nhân nhận khoán bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp được hưởng lợi trực tiếp từ rừng và các thu nhập khác bao gồm các khoản thu từ dịch vụ môi trường rừng theo hướng xã hội hoá, để thay thế dần cơ chế khoán bằng kinh phí ngân sách cấp; điều chỉnh lại định mức khoán, bảo đảm người nhận khoán bảo vệ rừng có mức thu nhập bình quân tối thiểu khoảng 1,5 lần mức chuẩn nghèo của từng địa phương; tăng nguồn vốn hỗ trợ, cho vay đến hộ nhận khoán bảo vệ phát triển rừng, tạo việc làm và giúp đỡ hộ dân sử dụng vốn vay có hiệu quả; đồng thời tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm nhằm đưa khoa học kỹ thuật và kiến thức quản lý cho các hộ gia đình để nâng cao hiểu biết kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh; hoàn thiện các định mức kinh tế kỹ thuật, xác định giá trị của rừng để làm cơ sở cho việc quản lý và kinh doanh rừng trên địa bàn thành phố có hiệu quả.

- Sớm ban hành các quy định dành riêng để xử phạt đối với những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ khi thi hành công vụ. Hiện nay còn xuất hiện các trường hợp giao đất, cho thuê đất hay chuyển mục đích sử dụng đất không đúng thẩm quyền hoặc trao đất cho các đối tượng sử dụng không đúng hạn mức, mục đích… Do đó, cần xây dựng một văn bản riêng để xử lý các trường hợp này, đặc biệt đối với đất rừng phòng hộ - loại đất có vị trí cực kỳ quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường góp phần vào công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, cũng như mục tiêu phát triển kinh tế bền vững mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

- Tiếp tục ban hành các văn bản liên tịch có sự phối hợp giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn điều chỉnh hoạt động quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ. Có thể thấy, hiện nay mới chỉ có Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 29/01/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp đã được ban hành và còn hiệu lực. Trong khi đó, việc quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa hai ngành nhằm bảo đảm tính đồng bộ trong các quy định của pháp luật. Trong thời gian tới, hai bộ cần có những văn bản hướng dẫn liên ngành một số nội dung như: Xử lý vi phạm hành chính trong quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ; hoạt động kinh doanh, sản xuất và khai thác trong khu vực có rừng phòng hộ; hoạt động triển khai thực hiện các dự án du lịch, sinh thái…

- Với mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra thì vai trò của đất rừng phòng hộ trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ngày càng quan trọng. Vì vậy, để người được trao quyền sử dụng đất rừng phòng hộ có thể yên tâm sử dụng cần có những sự hỗ trợ thiết thực và kịp thời từ phía các cơ quan nhà nước về tài chính như lương, thưởng, phụ cấp, cũng như các ưu đãi khác để họ ổn định cuộc sống yên tâm bám rừng, bảo vệ và phát triển quỹ rừng ngày càng bền vững.

- Kiện toàn hệ thống bộ máy quản lý và nâng cao năng lực cán bộ quản lý ngành từ trung ương đến địa phương, tăng cường tính chuyên nghiệp của các cơ quan quản lý đất rừng phòng hộ trên cơ sở đào tạo chuyên sâu cán bộ quản lý, để xây dựng một đội ngũ cán bộ vừa có kiến thức nhưng đồng thời phải có bản lĩnh tư tưởng vững vàng, có đạo đức trong khi thi hành công vụ. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất rừng phòng hộ đến với mọi tầng lớp nhân dân.

- Tiến hành nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ ngang tầm trình độ tiên tiến của các nước trong khu vực nhằm phát huy cao nhất năng lực thể chế. Việc thường xuyên nâng cấp, duy tu, bảo dưỡng các trang thiết bị và cơ sở vật chất là rất cần thiết bởi đặc thù về khí hậu, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều lại sát với biển nên các trang thiết bị và cơ sở hạ tầng phục vụ công tác quản lý đất rừng phòng hộ tại huyện Cần Giờ thường nhanh bị xuống cấp và hỏng hóc, ảnh hưởng tới việc thực thi nhiệm vụ.

- Hiện đại hóa công tác quản lý đất đai thông qua việc áp dụng các công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý cũng như cung ứng các dịch vụ về quản lý đất đai cho người có nhu cầu, ứng dụng những thành quả khoa học và công nghệ vào công tác quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ. Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên. Từ đó có những định hướng cho công tác quản lý, bảo vệ, cải tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên đất đai nói chung và đất rừng phòng hộ nói riêng.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất rừng phòng hộ đến từng người sử dụng đất, đi đôi với thiết lập cơ chế hỗ trợ pháp lý cho người có quyền sử dụng đất để họ hiểu, từ đó nghiêm túc chấp hành đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đất rừng phòng hộ, đồng thời giúp họ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Tăng cường công tác điều tra cơ bản trong lĩnh vực đất đai, có đánh giá tiềm năng và hiệu quả sử dụng đất rừng phòng hộ của các chủ thể được trao quyền sử dụng đất có bảo đảm các yêu cầu về phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về đất rừng phòng hộ

- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, duy trì và mở rộng quan hệ quốc tế; đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương với các tổ chức quốc tế trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao năng lực quản lý; duy trì và tăng cường hợp tác trong việc cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực quản lý đất đai. Nhanh chóng hoàn thành các thủ tục để đăng ký tham gia vào mạng lưới bảo tồn đất ngập nước theo Công ước Ramsar để bảo vệ tốt hơn nữa tài nguyên rừng phòng hộ Cần Giờ.

- Tiếp tục khuyến khích mọi tổ chức cá nhân tham gia bảo vệ và phát triển rừng, đầu tư và hưởng lợi từ nghề rừng; đẩy mạnh triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Lồng ghép công tác quản lý đất rừng phòng hộ với các chương trình, dự án như trồng mới rừng phòng hộ ven biển, các vùng đầu nguồn các lưu vực sông lớn, khu vực xung yếu có nguy cơ cao về sạt lở đất. Tổ chức rà soát và đẩy mạnh công tác giao khoán bảo vệ rừng phòng hộ cho các lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn để tăng cường lực lượng có vũ trang nhằm nâng cao khả năng trấn áp tội phạm, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp, bảo vệ và phát triển diện tích đất rừng, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa. Xây dựng và ban hành quy chế hoạt động của cụm giáp ranh theo địa bàn xã, tổ tự quản và các lực lượng vũ trang để tăng cường công tác tuần tra, phối hợp và nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng.

- Triển khai rà soát diện tích đất sản xuất nông nghiệp, thủy sản, ruộng muối và đất khác trong ranh giới rừng phòng hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước kia để xây dựng phương án thu hồi và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ rừng duy nhất là Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Cần Giờ như phương án quản lý thống nhất đã được phê duyệt. Xác định lại ranh giới đang có sự chồng lấn giữa đất quy hoạch rừng phòng hộ với đất sản xuất, đất ruộng muối, đất ở trong khu dân cư. Xử lý dứt điểm các trường hợp tranh chấp về đất rừng phòng hộ; tổ chức cắm mốc ranh giới rõ ràng, tái xác lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất rừng và bản đồ địa giới hành chính của các xã, thị trấn nhằm thực hiện tốt công tác quản lý ranh đất, tránh tình trạng tái lấn chiếm tái tranh chấp.

Nguyễn Tiến Hưng

Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: