Thứ hai 11/05/2026 08:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định về phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Tuy nhiên, việc phát hiện tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước chỉ được quy định ngắn gọn trong Điều 82 Luật này.

1. Đặt vấn đề
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định về phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Tuy nhiên, việc phát hiện tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước chỉ được quy định ngắn gọn trong Điều 82 Luật này. Cụ thể, Điều 82 quy định ba phương thức để phát hiện tham nhũng gồm: Hoạt động tự kiểm tra của doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước; hoạt động thanh tra của cơ quan thanh tra; hoạt động phản ánh, tố cáo, báo cáo của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khi phát hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Trong khi đó, việc phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước lại được Luật Phòng, chống tham nhũng quy định trong một chương riêng (Chương III). Điều này phần nào cho thấy vai trò quan trọng của việc phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước.
Theo Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội. Như vậy, đặc điểm chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước chính là việc kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất được Nhà nước cấp phát, đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước; việc tổ chức, hoạt động đều do Nhà nước quản lý. Chính vì thế, nguy cơ tham nhũng từ những cơ quan, tổ chức, đơn vị này là rất lớn. Nhận diện được nguy cơ này, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã quy định những phương thức để phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Theo đó, Chương III Luật này đã đưa ra ba phương thức cơ bản để phát hiện tham nhũng như sau: (i) Công tác kiểm tra và tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước; (ii) Hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm toán; (iii) Phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng.
2. Một số bất cập trong các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước
2.1. Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra và tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, kiểm tra và tự kiểm tra là hai công tác khác nhau. Theo đó, chủ thể tiến hành công tác tự kiểm tra là tất cả những người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Đối tượng của công tác tự kiểm tra là việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người có chức vụ, quyền hạn do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước quản lý mà thường xuyên, trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác. Mục đích của tự kiểm tra là nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý tham nhũng.
Còn công tác kiểm tra bao gồm: (i) Công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước và (ii) Kiểm tra hoạt động chống tham nhũng trong Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân. Đối với công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước, chủ thể tiến hành là người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước. Đối tượng của công tác này là việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước. Tương tự như công tác tự kiểm tra, mục đích công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước là nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý tham nhũng. Còn đối với kiểm tra hoạt động chống tham nhũng, mục đích của công tác này là nhằm ngăn chặn hành vi lạm quyền, nhũng nhiễu và các hành vi khác vi phạm pháp luật trong hoạt động chống tham nhũng. Như vậy, theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, công tác này không có mục đích phát hiện tham nhũng như công tác tự kiểm tra và công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng quy định rõ hai hình thức kiểm tra là: (i) Kiểm tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch và tập trung vào lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng; (ii) Kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng.
Tuy nhiên, có một số vấn đề được đặt ra như sau:
Thứ nhất, việc Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định đối tượng của công tác kiểm tra (cơ quan quản lý nhà nước) là “việc chấp hành pháp luật”. Tuy nhiên, cụm từ “chấp hành pháp luật” có nội hàm rất rộng, bao gồm việc chấp hành quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng, pháp luật hôn nhân gia đình, pháp luật an toàn giao thông đường bộ,… Vậy một vấn đề đặt ra là, trên thực tế, người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước có phải tiến hành kiểm tra việc chấp hành tất cả các quy định pháp luật trong mọi lĩnh vực của đối tượng được kiểm tra không? Trong khi đó, với quy định về hình thức kiểm tra có thể thấy, việc kiểm tra chủ yếu tập trung vào lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng.
Thứ hai, theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, chủ thể tiến hành công tác kiểm tra là người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay, trong khoa học pháp lý, việc xác định cơ quan quản lý nhà nước bao gồm những cơ quan nào vẫn còn là một vấn đề đang được tranh luận. Một số quan điểm cho rằng, cơ quan quản lý nhà nước không chỉ bao gồm Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp, mà còn bao gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, bởi vì, tất cả những cơ quan này đều có chức năng quản lý. Nhưng một số quan điểm khác lại cho rằng, cơ quan quản lý nhà nước chỉ bao gồm Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp, lý do là, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chỉ là bộ phận cấu thành, là một phần bên trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ, Ủy ban nhân dân. Nghiên cứu các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng thấy rằng, Luật chưa quy định rõ cơ quan quản lý nhà nước bao gồm những cơ quan nào. Như vậy, chỉ có người đứng đầu Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp mới phải tiến hành kiểm tra thường xuyên, đột xuất để phát hiện tham nhũng hay công tác này cũng là trách nhiệm của cả người đứng đầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân?
Thứ ba, đối với công tác kiểm tra, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định hai hình thức kiểm tra. Trong đó, kiểm tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch và tập trung vào lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng. Tuy nhiên, chương trình, kế hoạch kiểm tra này được xây dựng như thế nào, áp dụng trong thời gian bao lâu, do ai xây dựng… vẫn còn là vấn đề mà Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 “bỏ ngỏ”. Bên cạnh đó, đối với công tác tự kiểm tra, Luật này không quy định về các hình thức tự kiểm tra mà lại trao cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước quyền “chủ động tổ chức kiểm tra”. Cách quy định này có thể dẫn đến tình trạng họ “thờ ơ” hoặc tùy tiện trong việc tiến hành công tác tự kiểm tra. Đây có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém hiệu quả của phương thức tự kiểm tra trong việc phát hiện tham nhũng.
2.2. Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm toán
2.2.1. Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, một trong những phương thức để phát hiện tham nhũng là thông qua hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử. Theo đó, hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử bao gồm hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân. Tuy nhiên, theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, giám sát của Quốc hội bao gồm giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội. Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân. Như vậy, giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân đã bao gồm cả giám sát của các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Vì vậy, tên gọi Điều 59 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018: “Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử và xử lý đề nghị của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử” là chưa hợp lý. Giám sát của cơ quan dân cử (tức là giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân) đã bao gồm giám sát của đại biểu dân cử (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân). Bên cạnh đó, việc Luật này sử dụng thuật ngữ “cơ quan dân cử”, “đại biểu dân cử” cũng chưa bảo đảm tính minh bạch, thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật khác. Mặc dù trong khoa học pháp lý, “cơ quan dân cử”, “đại biểu dân cử” là những thuật ngữ được sử dụng để chỉ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Nhưng về mặt pháp lý, Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân đều không sử dụng thuật ngữ “cơ quan dân cử”, “đại biểu dân cử”. Các văn bản này đều sử dụng thuật ngữ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thay cho hai thuật ngữ trên.
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, thông qua hoạt động giám sát nếu phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng thì các chủ thể trên sẽ đề nghị Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân xử lý theo quy định của pháp luật. Khi nhận được đề nghị, Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phải xác minh, xử lý và thông báo kết quả cho cơ quan, đại biểu đã đề nghị. Như vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 không trao cho Quốc hội, Hội đồng nhân dân… quyền trực tiếp xử lý khi phát hiện tham nhũng. Họ chỉ có thể đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý. Các cơ quan này, sau khi nhận được đề nghị, có trách nhiệm xác minh, xử lý và thông báo kết quả cho chủ thể đã đề nghị. Tuy nhiên, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 vẫn chưa quy định rõ những vấn đề sau:
Một là, sau khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội… phải gửi đề nghị đến Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân trong thời hạn chậm nhất là bao lâu? Việc đề nghị này không chỉ là quyền, mà còn là trách nhiệm của các chủ thể này. Nếu họ phát hiện nhưng không đề nghị hoặc đề nghị chậm trễ thì có thể dẫn đến tình trạng “bỏ lọt” các vụ việc tham nhũng.
Hai là, Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân phải xác minh, xử lý và thông báo kết quả cho cơ quan, đại biểu chậm nhất trong thời gian bao lâu kể từ ngày nhận được đề nghị? Hình thức thông báo là gì (bắt buộc là thông báo bằng văn bản hay có thể thông báo bằng những hình thức khác)? Việc Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 không quy định rõ những vấn đề này có thể dẫn đến sự khó khăn cho các cơ quan dân cử, đại biểu dân cử trong việc yêu cầu các cơ quan trên xác minh, xử lý và thông báo kết quả xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.
2.2.2. Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Đồng thời, Luật này cũng quy định thẩm quyền của Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước trong thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng tại Điều 61[1]. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng có thể xảy ra sự trùng lặp. Vì thế, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định Tổng Thanh tra Chính phủ, Tổng Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm phối hợp xử lý trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, nếu Tổng Thanh tra Chính phủ và Tổng Kiểm toán nhà nước không thống nhất ý kiến với nhau khi xử lý trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán thì sẽ giải quyết như thế nào? Đây là vấn đề mà Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 vẫn còn “bỏ ngỏ”.
Bên cạnh đó, Điều 62 Luật này cũng quy định về trách nhiệm xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm toán. Theo đó, trong quá trình thanh tra, kiểm toán nếu phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng thì người ra quyết định thanh tra, người ra quyết định kiểm toán phải chỉ đạo xác minh, làm rõ vụ việc tham nhũng và xử lý như sau: (i) Trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì chuyển ngay hồ sơ vụ việc và kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét, khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cung cấp; (ii) Trường hợp vụ việc không có dấu hiệu tội phạm thì kiến nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi vi phạm. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý phải thông báo bằng văn bản về kết quả xử lý cho Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước đã kiến nghị. Tuy nhiên, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 lại không quy định thời hạn cụ thể mà người ra quyết định thanh tra, người ra quyết định kiểm toán phải thực hiện các công việc trên. Đồng thời, đối với trường hợp thứ hai, Luật này cũng không quy định rõ thời hạn cụ thể mà chủ thể có thẩm quyền xử lý phải xử lý vụ việc và thông báo kết quả xử lý.
2.3. Phát hiện tham nhũng thông qua phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, phản ánh, tố cáo, báo cáo là ba hoạt động khác nhau. Một là, về chủ thể thực hiện phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng: Chủ thể thực hiện phản ánh về hành vi tham nhũng là cá nhân, tổ chức. Nhưng chủ thể tố cáo hành vi tham nhũng chỉ có thể là cá nhân, không bao gồm tổ chức. Còn chủ thể báo cáo về hành vi tham nhũng lại là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Hai là, về chủ thể nhận phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng: Chủ thể nhận tố cáo, phản ánh là cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền theo pháp luật về tố cáo và pháp luật về tiếp công dân. Còn chủ thể nhận báo cáo về hành vi tham nhũng là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của người báo cáo hoặc là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý cán bộ (trong trường hợp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan đến hành vi tham nhũng). Ba là, về thủ tục: Việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo. Việc tiếp nhận, xử lý phản ánh về hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiếp công dân. Việc báo cáo và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng được quy định tại Điều 66 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Theo đó, khi phát hiện hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình công tác thì chủ thể được giao trách nhiệm phải báo cáo ngay với người có thẩm quyền. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo về hành vi tham nhũng, người được báo cáo phải xử lý vụ việc theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, xử lý và thông báo cho người báo cáo biết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày; trường hợp cần thiết thì người được báo cáo quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng và bảo vệ người báo cáo. Tuy nhiên, việc quy định “khi phát hiện hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình công tác thì chủ thể được giao trách nhiệm phải báo cáo ngay với người có thẩm quyền” chưa thật sự rõ ràng. Bởi lẽ, “báo cáo ngay” theo quy định trên là báo cáo trong thời hạn chậm nhất là bao lâu kể từ khi phát hiện hành vi tham nhũng? Đồng thời, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng chưa quy định rõ những tiêu chí để xác định “vụ việc phức tạp”, “trường hợp cần thiết” trong quy định trên. Điều này có thể dẫn đến nguy cơ tuỳ tiện, lạm quyền của người được báo cáo khi xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.
Về bảo vệ người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng, theo Điều 67 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo. Người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng được áp dụng các biện pháp bảo vệ như bảo vệ người tố cáo. Tuy nhiên, theo Luật Tố cáo năm 2018, việc bảo vệ người tố cáo không chỉ giới hạn trong việc bảo vệ đối với một mình cá nhân người tố cáo, mà còn bao gồm sự bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo. Điều này nhằm bảo đảm sự an toàn và yên tâm cho người tố cáo khi thực hiện tố cáo. Bởi khi thực hiện tố cáo, không chỉ bản thân người tố cáo, mà những người thân thích của họ cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro có thể xảy ra. Trên thực tế, có thể thấy rằng, khi thực hiện phản ánh hay báo cáo về hành vi tham nhũng, người thân thích của chủ thể phản ánh, báo cáo cũng có thể bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, vị trí công tác, việc làm hay bị trù dập, phân biệt đối xử. Do đó, họ cũng cần được bảo vệ. Tuy nhiên, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 lại quy định chủ thể được áp dụng các biện pháp bảo vệ trong phản ánh, báo cáo hành vi tham nhũng chỉ là người phản ánh, báo cáo, không bao gồm người thân thích của họ. Điều này chưa thật sự hợp lý.
3. Kiến nghị hoàn thiện
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã có những quy định khá đầy đủ về phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn tồn tại một số bất cập cũng như các “khoảng trống” cần được sửa đổi, bổ sung, giải thích, hướng dẫn cụ thể hơn. Để khắc phục điều này, theo tác giả cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, các chủ thể có thẩm quyền cần sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm làm rõ hơn các “khoảng trống” của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về công tác kiểm tra, tự kiểm tra. Theo đó, đối tượng của công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước cần được quy định rõ là “việc chấp hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng”. Chủ thể tiến hành công tác kiểm tra nên được quy định theo hướng mở rộng là người đứng đầu Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các cấp. Đồng thời, cần quy định rõ kế hoạch tự kiểm tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu về tự kiểm tra của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước trong 01 năm do các chủ thể này xây dựng. Kế hoạch kiểm tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu về kiểm tra của những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp trong 01 năm do các chủ thể này xây dựng.
Thứ hai, các chủ thể có thẩm quyền cần sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm làm rõ hơn các “khoảng trống” của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về thời hạn thực hiện một số hoạt động như: Thời hạn Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội… phải gửi đề nghị đến Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân khi phát hiện tham nhũng; thời hạn Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân phải xác minh, xử lý và thông báo kết quả cho cơ quan dân cử, đại biểu dân cử (theo Điều 59 Luật này); thời hạn thanh tra, kiểm toán chuyển hồ sơ vụ việc và kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét, khởi tố vụ án hình sự, thời hạn thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cung cấp; kiến nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi vi phạm; thời hạn cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý thông báo bằng văn bản về kết quả xử lý cho Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước đã kiến nghị (theo Điều 62 Luật này); thời hạn báo cáo với chủ thể có thẩm quyền khi phát hiện hành vi tham nhũng (theo Điều 66 Luật này). Đồng thời, cần quy định rõ các tiêu chí để xác định “vụ việc phức tạp”, “trường hợp cần thiết” trong Điều 66 Luật này.
Thứ ba, nên nghiên cứu, sửa đổi một số quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 như: (i) Tên gọi của Điều 59 Luật này cần được sửa đổi thành “Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và xử lý đề nghị của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân”. (ii) Điều 67 Luật này cần sửa đổi quy định về bảo vệ người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng theo hướng việc bảo vệ người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Trương Thị Minh Thùy
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Điều 61 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định: Cơ quan thanh tra, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng theo thẩm quyền như sau: (i) Thanh tra Chính phủ thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan ở trung ương thực hiện; người công tác tại Thanh tra Chính phủ thực hiện; (ii) Thanh tra Bộ thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này; (iii) Thanh tra tỉnh thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương thực hiện, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này. Các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng tại các cơ quan, tổ chức có quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công theo phân công của Tổng Kiểm toán nhà nước.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: