Thứ ba 13/10/2026 11:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của pháp luật hiện hành về thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên

Thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên tại Việt Nam hiện nay là một trong những quy định đã được sửa đổi, bổ sung trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 nhằm bảo đảm các quyền, nghĩa vụ cơ bản của phạm nhân là người chưa thành niên. Nội dung bài viết tập trung phân tích những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật Việt Nam về thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên.

Tóm tắt: Thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên tại Việt Nam hiện nay là một trong những quy định đã được sửa đổi, bổ sung trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 nhằm bảo đảm các quyền, nghĩa vụ cơ bản của phạm nhân là người chưa thành niên. Nội dung bài viết tập trung phân tích những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật Việt Nam về thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên.

Abstract: Execution of prison sentences against minors in Vietnam is currently one of the amended and supplemented provisions in the Law on Execution of Criminal Judgments in 2019 to ensure the basic rights and obligations of a juvenile prisoner. The content of the article focuses on analyzing the theoretical issues and provisions of Vietnamese law on the execution of prison sentences for minors.

Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên là hoạt động phức tạp, có tính chất đặc thù, là hoạt động “lưỡng tính”, vừa có yếu tố của hoạt động tư pháp, vừa có yếu tố của hoạt động hành chính[1]. Chính vì vậy, pháp luật về thi hành án hình sự đã có những quy định đặc thù cho nhóm đối tượng này khi họ bị Tòa án kết án phạt tù. Các cơ quan, người có thẩm quyền khi thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên, bên cạnh việc tuân thủ những nguyên tắc về thi hành án hình sự nói chung, còn phải tuân thủ các nguyên tắc riêng.
1. Về chế độ quản lý đối với phạm nhân là người chưa thành niên
Phạm nhân là người chưa thành niên được giam giữ theo chế độ riêng phù hợp với sức khỏe, giới tính và đặc điểm nhân thân. Theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự hiện hành, phạm nhân là người chưa thành niên sẽ được tổ chức giam giữ ở khu riêng. Quy định này thể hiện sự cần thiết của việc xử lý khác biệt giữa phạm nhân là người thành niên và phạm nhân là người chưa thành niên dựa trên những lý do sau đây:
Thứ nhất, theo thống kê, tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện từ năm 2016 đến năm 2019 đang có xu hướng ngày càng phức tạp, nguy hiểm và hình phạt được áp dụng đối với họ chủ yếu là hình phạt tù, cụ thể: (i) Năm 2018: Tổng số bị cáo là người chưa thành niên bị xét xử là 2.743 bị cáo (tội ít nghiêm trọng: 2.298 bị cáo, tội nghiêm trọng: 338 bị cáo, tội rất nghiêm trọng: 96 bị cáo, tội đặc biệt nghiêm trọng: 11 bị cáo). (ii) Năm 2019: Tổng số bị cáo bị xét xử là 2.260 bị cáo (tội ít nghiêm trọng: 1.764 bị cáo, tội nghiêm trọng: 339 bị cáo, tội rất nghiêm trọng: 131 bị cáo, tội đặc biệt nghiêm trọng: 26 bị cáo)[2]. Trong khi đó, trong giai đoạn từ 2016 - 2018 có 8.085 người chưa thành niên bị xét xử sơ thẩm hình sự và bị kết án. Số người chưa thành niên bị xét xử và kết án trung bình mỗi năm trong giai đoạn này là 2.695 người (đã giảm 41% so với giai đoạn 2011 - 2015). Từ năm 2016 trở đi, các quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tăng cường miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội để giám sát, giáo dục tại cộng đồng cũng như việc hạn chế áp dụng hình phạt tù có thời hạn đã bắt đầu có hiệu lực trong thực tế. Thống kê của Tòa án nhân dân tối cao cho thấy, ở giai đoạn này, tỷ lệ người chưa thành niên phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng biện pháp tư pháp có tăng, nhưng cũng chưa đến 1%. Như vậy, hình phạt tù có thời hạn vẫn được áp dụng hết sức phổ biến (hơn 91%) tuy có giảm nhẹ (2%) so với giai đoạn 2011 - 2015 (hơn 93%)[3]. Như vậy, thực tiễn đã đặt ra yêu cầu cần phải có một khu giam giữ riêng đối với phạm nhân là người chưa thành niên.
Thứ hai, xuất phát từ việc nhận thức rõ khả năng dễ bị tổn thương, dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài, việc giam giữ riêng đối với họ là thực sự cần thiết. Khi một phạm nhân là người chưa thành niên được giam giữ chung với người đã thành niên thì khả năng họ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tiêu cực từ phạm nhân đã thành niên là rất cao. Nhất là khi phạm nhân thành niên đó là người đã từng bị kỷ luật. Hơn nữa, một trong những nguyên nhân dẫn đến việc người chưa thành niên thực hiện tội phạm đó chính là do người đã thành niên xúi giục. Vì vậy, quy định về việc giam giữ tách biệt này còn có ý nghĩa ngăn chặn tất cả những yếu tố có khả năng tác động xấu đến phạm nhân là người chưa thành niên. Từ đó, góp phần phòng ngừa tội phạm, hạn chế việc bị tác động để chống đối các quy định trong trại giam gây khó khăn cho việc thi hành án, việc giáo dục, thay đổi họ.
Thứ ba, việc tách biệt trong giam giữ sẽ giúp tăng hiệu quả giám sát, quản lý, giáo dục và bảo đảm chế độ đối với phạm nhân là người chưa thành niên. Giám sát, quản lý phạm nhân là người chưa thành niên và người đã thành niên cần phải có phương pháp khác nhau. Đối với người chưa thành niên, việc quản lý, giám sát cần mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Bên cạnh sự giám sát từ các cán bộ thi hành án, sự hỗ trợ từ phía gia đình, xã hội sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với phạm nhân là người chưa thành niên trong quá trình chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng. Ngược lại, việc giám sát nghiêm khắc như người đã thành niên hoặc chung với người đã thành niên khiến người chưa thành niên khó chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng hơn và thậm chí dễ tái phạm khi chịu ảnh hưởng không tích cực từ người đã thành niên.
Như vậy, bên cạnh tình hình tội phạm chưa thành niên tăng cao, kết hợp với một thực tế rằng hình phạt tù có thời hạn vẫn là hình phạt chủ đạo được áp dụng đối với họ, tác giả nhận thấy, việc tổ chức giam giữ người chưa thành niên riêng biệt là thực sự cần thiết. Tuy nhiên, pháp luật thi hành án hình sự hiện hành vẫn chưa có những quy định cụ thể về vấn đề này. Luật Thi hành án hình sự năm 2019 chỉ quy định một cách chung chung. Những hướng dẫn trong Nghị định số 133/2020/NĐ-CP ngày 09/11/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Thi hành án hình sự (Nghị định số 133/2020/NĐ-CP) cũng chưa đưa ra hướng thực hiện cụ thể. Trong khi đó, theo quan điểm của tác giả, phạm nhân là người chưa thành niên cũng có thể được coi như một “xã hội loài người” thu nhỏ. Ở đó, bao gồm hầu hết các nhóm được quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 - nhóm phạm nhân cần được bố trí khu giam giữ riêng. Ví dụ: Phạm nhân là người chưa thành niên có thể là: Người mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm; người có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình trong thời gian chờ quyết định của Tòa án; phạm nhân là người đồng tính, người chưa xác định rõ giới tính; phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân; phạm nhân là người nước ngoài… Trong khi đó, ở một số trại giam, mặc dù người chưa thành niên được giam trong phòng riêng, nhưng lại trong cùng khu vực giam người thành niên, có cùng cổng ra vào và sân chung, do đó, không tránh được sự tiếp xúc giữa người chưa thành niên với phạm nhân là người thành niên[4]. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là, cần phải có một giải pháp hợp lý và quy định cách thức tổ chức trại giam hợp lý hơn để bảo đảm việc giam giữ riêng được thực hiện trên thực tế một cách hiệu quả.
2. Quy định về giáo dục, học văn hóa, học nghề và lao động cho phạm nhân là người chưa thành niên
2.1. Quy định về giáo dục, học văn hóa, học nghề
Phạm nhân là người chưa thành niên có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Tại Việt Nam, đây là độ tuổi tương đương với học sinh trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông. Tuy nhiên, cũng có những người thuộc độ tuổi này nhưng chưa học xong chương trình tiểu học hoặc thậm chí là không biết chữ. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc nhận thức của phạm nhân, là một trong những nguyên nhân khiến họ đi vào con đường phạm pháp. Chính vì vậy, để việc giáo dục, cải tạo có hiệu quả thì cần tạo điều kiện cho họ học tập, nâng cao kiến thức, rèn luyện đạo đức và đặc biệt là xóa mù chữ (trong trường hợp không biết chữ). Từ đó, giúp họ nhận thức được mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của mình gây ra và xác định lại hướng đi đúng đắn. Bên cạnh việc giáo dục, dạy dỗ nâng cao ý thức và nhận thức cho phạm nhân là người chưa thành niên, pháp luật thi hành án hình sự hiện hành cũng quan tâm đến việc trang bị những điều kiện cần thiết để họ chuẩn bị cho việc tái hòa nhập cộng đồng sau khi đã chấp hành xong án phạt tù.
Xuất phát từ sự cần thiết đó, pháp luật thi hành án hình sự đã có những quy định phù hợp, tạo điều kiện cho việc giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên về văn hóa, pháp luật và dạy nghề thông qua việc quy định trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, tổ chức, cá nhân:
Trách nhiệm chung của trại giam: Trại giam có trách nhiệm giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên về văn hóa, pháp luật và dạy nghề phù hợp với độ tuổi, học vấn, giới tính và sức khỏe, chuẩn bị điều kiện để họ hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù. Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở. Giáo dục tiểu học là bắt buộc đối với phạm nhân chưa học xong chương trình tiểu học. Chương trình, nội dung học tập, học nghề của phạm nhân dưới 18 tuổi do Chính phủ quy định[5].
Trách nhiệm của cá nhân là người trực tiếp dạy văn hóa cho phạm nhân: Giáo viên dạy văn hóa cho phạm nhân là cán bộ, chiến sĩ của các cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc của các cơ sở giáo dục địa phương. Những phạm nhân đã cải tạo tiến bộ, có trình độ học vấn, khả năng sư phạm, nhân thân tốt, không phải là đối tượng chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu, lưu manh chuyên nghiệp, côn đồ, hung hãn, mắc bệnh truyền nhiễm, nghiện ma tuý, không phải là phạm nhân xâm phạm an ninh quốc gia có thể bố trí hỗ trợ cán bộ, chiến sĩ dạy văn hóa xóa mù chữ cho phạm nhân[6].
Về trách nhiệm phối hợp của cơ quan tổ chức khác trong việc dạy văn hóa cho phạm nhân: Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo nơi có cơ sở giam giữ phạm nhân phối hợp thực hiện, cử giáo viên đến dạy văn hóa cho phạm nhân; quản lý, chỉ đạo thực hiện các chương trình học văn hóa, tổ chức xét công nhận hoàn thành chương trình xóa mù chữ, phổ cập tiểu học, cấp bằng tốt nghiệp trung học cơ sở cho phạm nhân; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho cán bộ dạy văn hóa cho phạm nhân. Cơ sở giam giữ phạm nhân bố trí hội trường, phòng học bảo đảm việc dạy và học cho phạm nhân[7].
Đồng thời, cơ quan chuyên môn về văn hóa, thể thao cấp tỉnh, cấp huyện phải bồi dưỡng chuyên môn công tác văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, hoạt động thư viện cho cán bộ chiến sĩ cơ sở giam giữ phạm nhân[8].
Những quy định cụ thể về nhiệm vụ của từng cá nhân, cơ quan, tổ chức đã giúp nâng cao trách nhiệm của họ trong việc giáo dục người chưa thành niên phạm tội. Việc giáo dục văn hóa cho phạm nhân là người chưa thành niên đã được quan tâm, chú trọng. Các trại giam ở một số tỉnh trên cơ sở áp dụng linh hoạt quy định của pháp luật, đã chủ động phối hợp với cơ quan, tổ chức khác, tạo được những môi trường giáo dục, học tập thoải mái, vui vẻ. Hội liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Đoàn Thanh niên Công an của một số tỉnh cũng thể hiện được vai trò của mình trong việc phối hợp với trại giam để giáo dục những phạm nhân trong độ tuổi thanh niên thông qua việc tổ chức những chương trình giao lưu định kỳ. Chương trình bao gồm nhiều hoạt động sôi nổi như giao lưu văn nghệ; nghe chuyên gia chia sẻ về những định hướng nghề nghiệp, việc làm, khởi nghiệp cho người sắp chấp hành xong án phạt tù; xem các phóng sự về nghề nghiệp, việc làm; xem tiểu phẩm ý nghĩa về khát vọng hoàn lương; giao lưu, gặp gỡ với những phạm nhân có hoàn cảnh đặc biệt và người thân của họ. Đây là những hoạt động ý nghĩa nhằm đồng hành, hỗ trợ cũng như tiếp thêm nguồn động lực cho những thanh niên đã mắc sai lầm, vấp ngã, đang cố gắng cải tạo tốt, tái hòa nhập cộng đồng, hướng về một tương lai tốt đẹp phía trước[9]. Thông qua việc tạo một không gian thoải mái vừa mang tính giải trí, vừa mang tính giáo dục cho những phạm nhân trong độ tuổi thanh niên, việc cảm hóa, giáo dục họ đã đem lại những kết quả nhất định.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu chương trình học tập văn hóa của phạm nhân chưa thành niên được hướng dẫn tại Điều 12 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP, tác giả nhận thấy rằng, chương trình học tập của người chưa thành niên thực sự rất “nặng” và chưa phù hợp. Những nội dung học tập còn mang tính khái quát, chung chung hoặc “cao siêu”, chưa phù hợp với trình độ văn hóa của người học. Nội dung chương trình lớn, nhiều bài học có nội dung là các quy định chi tiết của rất nhiều văn bản pháp luật nhưng thời lượng ngắn, đòi hỏi giáo viên phải vừa có kiến thức chuyên sâu, vừa có năng lực và kinh nghiệm sư phạm. Trong khi đó, cán bộ giáo dục (người thầy) chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và trại giam cũng chưa có cơ chế nâng cao năng lực sư phạm cho họ[10]. Chính vì vậy, việc dạy học văn hóa tại các trại giam vẫn còn nhiều hạn chế, vướng mắc. Nguyên nhân chủ yếu khiến chất lượng dạy - học vẫn chưa thực sự hiệu quả có liên quan đến những tài liệu giảng dạy chưa phù hợp với những đối tượng người học, chưa có sự phân hóa rõ ràng giữa chương trình học tập của người chưa thành niên và người thành niên. Tác giả cho rằng, với sự phát triển chưa đầy đủ cả về thể chất, tinh thần, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, việc đơn giản hóa tài liệu học tập là điều thực sự cần thiết để đem lại hiệu quả giáo dục cho phạm nhân là người chưa thành niên.
2.2. Quy định về lao động
Song song với việc được bảo đảm quyền tiếp cận về giáo dục, học tập văn hóa, phạm nhân là người chưa thành niên cũng phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ lao động của mình. So với người đã thành niên, người chưa thành niên sẽ được lao động ở khu riêng; được bố trí các công việc phù hợp với độ tuổi và không phải làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại. Quy định này nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện về thể chất, bảo đảm về sức khoẻ cho bản thân họ. Đồng thời, thông qua quá trình lao động, người chưa thành niên sẽ nhận thức được giá trị của sức lao động nói chung và giá trị lao động của bản thân nói riêng. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc rèn luyện, hoàn thiện về nhận thức, nhân cách.
3. Quy định về chế độ gặp, liên lạc điện thoại với thân nhân
Sự động viên, khuyến khích, quan tâm của người thân và gia đình chính là động lực để các phạm nhân vượt qua mặc cảm, yên tâm tiếp tục lao động, học tập, cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội. Chính vì vậy, pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam hiện hành đã có những quy định cụ thể về chế độ gặp, liên lạc điện thoại với thân nhân của phạm nhân là người chưa thành niên:
Đối với việc gặp trực tiếp: Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được gặp thân nhân không quá 03 lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 03 giờ. Căn cứ kết quả xếp loại chấp hành án, yêu cầu giáo dục cải tạo, thành tích lao động, học tập của phạm nhân, giám thị trại giam quyết định kéo dài thời gian gặp nhưng không quá 24 giờ. Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được khen thưởng thì được gặp thân nhân thêm 01 lần trong 01 tháng[11].
Đối với việc liên lạc bằng điện thoại: Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được liên lạc bằng điện thoại trong nước với thân nhân không quá 04 lần trong 01 tháng, mỗi lần không quá 10 phút, có sự giám sát của cán bộ trại giam và tự chịu chi phí[12]. Phạm nhân sẽ được liên lạc với thân nhân bằng điện thoại thêm 01 lần trong tháng và không quá 10 phút; trong trường hợp cấp bách, Thủ trưởng cơ sở giam giữ xem xét, giải quyết cho phạm nhân được liên lạc bằng điện thoại với thân nhân nhưng không quá 10 phút. Phạm nhân chỉ được liên lạc bằng điện thoại trong nước với thân nhân theo số điện thoại và nội dung liên lạc đã được đăng ký[13]. Cán bộ trại giam giám sát chặt chẽ nội dung trao đổi của phạm nhân với thân nhân; nếu phát hiện nội dung trao đổi không đúng với đăng ký thì phải dừng cuộc gọi; lập biên bản và đề xuất xử lý kỷ luật nếu xét thấy cần thiết[14].
Đối với việc liên lạc với thân nhân qua thư từ: Mỗi tháng phạm nhân được gửi 02 lá thư dưới sự kiểm tra, kiểm duyệt của người có thẩm quyền.
Như vậy, pháp luật thi hành án hình sự đã ghi nhận những quy định cần thiết nhằm tạo điều kiện cho việc gặp gỡ, duy trì mối quan hệ tình thân giữa người chưa thành niên và thân nhân của họ.

ThS. Ngô Thị Vân Anh
Trường Đại học Luật Hà Nội




[1]. TS. Lê Hữu Thể, TS. Đỗ Văn Đương, ThS. Nguyễn Thị Thủy (đồng chủ biên), Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, tr. 422.
[2]. Nguồn: Văn phòng tổng hợp, Tòa án nhân dân tối cao, (2020).
[3]. Bộ Tư pháp, UNICEF, Báo cáo nghiên cứu pháp luật về phòng ngừa, xử lý, phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Việt Nam, 2019, tr. 81; 82.
[4]. Bộ Tư pháp, UNICEF, Báo cáo nghiên cứu pháp luật về phòng ngừa, xử lý, phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Việt Nam, 2019, tr. 92. https://www.unicef.org/vietnam/media/4391/file/JJ%20Sitan%20VN%20full%20report.pdf (truy cập ngày 09/11/2021).
[5]. Khoản 2 Điều 74 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
[6]. Khoản 3 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP.
[7]. Khoản 4 Nghị định số 133/NĐ-CP.
[8]. Điểm đ khoản 2 Điều 25 Nghị định số 133/2020/NĐ.
[9]. Chương trình giáo dục phạm nhân trong độ tuổi thanh niên và giúp đỡ thanh niên tái hoà nhập cộng đồng năm 2019, báo điện tử Đăk Nông, http://baodaknong.org.vn/thoi-su-trong-tinh/chuong-trinh-giao-duc-pham-nhan-trong-do-tuoi-thanh-nien-va-giup-do-thanh-nien-tai-hoa-nhap-cong-dong-nam-2019-76129.html.
[10]. Nguyễn Quang Vũ (2019), Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 94.
[11]. Điều 76 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
[12]. Điều 76 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
[13]. Khoản 3 Điều 12 Thông tư số 14/2020/TT-BCA ngày 10/2/2020 của Bộ Công an quy định chi tiết chế độ gặp, nhận quà và liên lạc của phạm nhân.
[14]. Khoản 6 Điều 12 Thông tư số 14/2020/TT-BCA ngày 10/2/2020 của Bộ Công an quy định chi tiết chế độ gặp, nhận quà và liên lạc của phạm nhân.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: