Thứ bảy 02/05/2026 21:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về hiến tặng mô, tạng theo pháp luật một số nước trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam

Ghép tạng là một trong những thành tựu lớn nhất của nhân loại từ giữa thế kỷ XX, khởi đầu từ ca ghép tạng thành công đầu tiên năm 1954 tại Hoa Kỳ, đến nay thế giới đã có lịch sử hơn 70 năm ghép tạng với nhiều thành tựu vượt bậc, từ ghép thận đến nay đã ghép được các tạng khó như gan, tim, phổi, chi thể, tử cung, mặt… nguồn tạng ghép cũng có nhiều biến chuyển từ ghép người cho sống cùng huyết thống đến người cho sống không cùng huyết thống, người cho chết não và gần đây là người cho ngừng tim. Để tạo hành lang pháp lý quan trọng thúc đẩy và triển khai hoạt động hiến, lấy ghép mô tạng hiệu quả, nhân văn và công bằng, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xây dựng chính sách, pháp luật về hiến, lấy ghép mô, tạng và Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Vì vậy, bài viết đề cập quy định pháp luật về hiến tặng mô, tạng ở một số nước trên thế giới, trên cơ sở đó đưa ra một số kinh nghiệm áp dụng tại Việt Nam.


1. Quy định về hiến tặng mô, tạng theo pháp luật một số nước trên thế giới

Thứ nhất, về điều kiện hiến tặng mô, tạng

Nghiên cứu quy định pháp luật một số nước trên thế giới thì về cơ bản, các nước đều quy định điều kiện về độ tuổi, sức khỏe, điều kiện về thủ tục, đây chính là điểm tương đồng về quy định pháp luật giữa các quốc gia:

- Điều kiện về độ tuổi: Theo Đạo luật Hiến tặng tạng và mô của Hà Lan, công dân Hà Lan có thể ghi lại sự đồng ý của mình để hiến tặng tạng hoặc mô của mình trong hệ thống đăng ký quốc gia. Khi làm điều này, cá nhân có thể chỉ định tạng hoặc mô nào cá nhân đó muốn hiến tặng sau khi chết. Trẻ em dưới 12 tuổi không được đăng ký hiến mô, tạng, những trẻ em tuổi từ 12 đến 15 có thể đăng ký làm người hiến tạng. Tuy nhiên, cha mẹ hoặc người hiến tạng có thể phản đối mong muốn của con mình về hiến tặng tạng, ngay cả khi đứa trẻ là người hiến tặng đã đăng ký cho đến khi đứa trẻ bước sang tuổi 16[1]. Luật về cấy ghép tạng của Nhật Bản năm 1997 quy định chỉ những người từ 15 tuổi trở lên mới có thể bày tỏ ý định hiến tạng. Quy định này đã làm giảm đáng kể khả năng cấy ghép cho trẻ nhỏ, đặc biệt là ghép tim cho trẻ nhỏ đã trở thành không thể[2]. Pháp luật Pháp quy định rất chặt chẽ về vấn đề này, người chưa thành niên không được hiến mô, tạng khi còn sống, bởi đối tượng này chưa phát triển hoàn thiện về sinh học cũng như tâm, sinh lý. Những người được hiến mô, tạng khi còn sống phải là người đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực nhận thức và năng lực hành vi[3]. Tại Hoa Kỳ, Đạo luật Quà tặng giải phẫu thống nhất (The Uniform Anatomical Gift Act - UAGA) được Nghị viện Hoa Kỳ thông qua năm 1968, sửa đổi, bổ sung các năm 1987 và 2006. Các thẻ phải được ký bởi một người trên 18 tuổi và được chứng kiến bởi hai người lớn khác. Một số bang ở Hoa Kỳ còn yêu cầu sự đồng thuận từ gia đình của người hiến tạng[4]. Ở Ma Rốc, Đạo luật về hiến, lấy, ghép bộ phận cơ thể người và hiến, lấy mô số 16-98 năm 1998 quy định: “Nếu người hiến là người còn sống thì phải là người thành niên và phải thể hiện sự tự nguyện của mình trước các cơ quan có thẩm quyền”[5]. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, Điều 5 Luật Hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 (Luật năm 2006) quy định: “Cá nhân phải từ đủ 18 tuổi trở lên mới có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể khi còn sống và sau khi chết”.

- Điều kiện về sức khỏe: Pháp luật Pháp đã quy định điều kiện về sức khỏe thành nguyên tắc an toàn về y tế và cẩn trọng, bởi nếu các cơ sở y tế có thẩm quyền không kiểm tra kỹ về tình trạng sức khỏe của người hiến mà người hiến lại bị mắc bệnh nan y thì có thể gây nguy hiểm cho người nhận hoặc nếu không kiểm tra cẩn trọng về yếu tố sinh hóa, sự phù hợp giữa hai cơ thể người hiến và người nhận có thể dẫn tới những hậu quả khó lường như mô, tạng không sử dụng được. Ở Việt Nam, Luật năm 2006 chỉ quy định chung chung người hiến và người nhận đều phải làm những thủ tục để kiểm tra sức khỏe và không quy định kiểm tra sức khỏe bao gồm những gì, nhưng nghiên cứu các quy định cụ thể trong Quyết định số 43/2006/QĐ-BYT ngày 29/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế năm 2006 về việc ban hành quy trình kỹ thuật ghép thận từ người cho sống và quy trình kỹ thuật ghép gan từ người cho sống có quy định điều kiện để người hiến được tuyển sử dụng là không bị ung thư, xơ gan, nhiễm HIV dương tính… Điều đó cho thấy, những quy định cụ thể về sức khỏe với người hiến thận hoặc gan ở Việt Nam được quy định cụ thể trong các văn bản dưới luật và tương đối chặt chẽ nhằm đảm bảo sức khỏe cho cả người hiến và người nhận.

Thứ hai, về thủ tục hiến mô, tạng

Theo pháp luật Pháp, thủ tục đăng ký hiến khi còn sống và đăng ký từ chối hiến sau khi chết được thực hiện thông quan cơ quan Y sinh quốc gia và các cơ sở y tế được cấp phép[6]. Ví dụ, về thủ tục lấy mô, tạng hiến sau khi chết ở Pháp, trước tiên là tiến hành cứu chữa cho người bệnh đó, nếu người bệnh đó không thể cứu chữa được thì cần phải tiến hành chuẩn đoán để biết chính xác người đó đã chết hay chưa. Sau khi xác định chắc chắn rằng người đó đã chết, bước tiếp theo là kiểm tra an toàn y tế - thủ tục này được quy định chặt chẽ trong các đạo luật về đạo đức y sinh. Tiếp đó là giai đoạn tổ chức việc tiến hành lấy mô, bộ phận cơ thể người; sau đó là giai đoạn phân phối mảnh ghép. Ở Ma Rốc, người hiến khi còn sống phải thể hiện sự đồng ý về việc hiến trước Tòa án sơ thẩm. Trường hợp cá nhân không muốn hiến mô, tạng sau khi chết phải đăng ký từ chối hiến vào sổ đăng ký từ chối hiến tại Tòa án sơ thẩm. Ở Nhật Bản, việc hiến tạng chỉ được cho phép nếu người hiến tặng thể hiện bằng văn bản trước khi chết, tuy nhiên, pháp luật Nhật Bản cũng quy định một số vấn đề đặc biệt liên quan đến việc cấy ghép tạng đối với những người thân trong gia đình: (i) Nếu không có thành viên gia đình nào đủ điều kiện ghép vì lý do y tế hoặc lý do khác, tạng sẽ được cấy ghép cho các cá nhân khác ngoài gia đình; (ii) Nếu bạn đã chỉ định tên của gia đình mà một bộ phận sẽ được hiến tạng trên cơ sở ưu tiên thì đây sẽ được coi là ý định quyên góp ưu tiên của bạn nhằm vào cả gia đình đó; (iii) Nếu bạn tuyên bố ý định hạn chế hiến tặng cho người nhận được chỉ định, chẳng hạn như: “Tôi chỉ muốn hiến tạng cho C”, sẽ không có tạng nào được tặng cho người khác kể cả gia đình bạn; (iv) Để ngăn chặn các vụ tự tử nhằm mục đích hiến tạng cho gia đình, pháp luật Nhật Bản cũng xác định rằng không có việc hiến tạng ưu tiên cho gia đình của người chết được thực hiện trong các trường hợp tự tử. Ở Việt Nam, pháp luật quy định người có đủ điều kiện theo quy định của Luật năm 2006 có quyền bày tỏ nguyện vọng hiến mô, tạng của mình với cơ sở y tế, khi nhận được thông tin của người hiến mô, bộ phận cơ thể, cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người. Sau khi nhận được thông báo về trường hợp hiến mô, tạng, Trung tâm Điều phối quốc gia về bộ phận cơ thể có trách nhiệm thông báo cho cơ sở y tế có đủ điều kiện về trang thiết bị, về đội ngũ cán bộ y tế để tiến hành các thủ tục đăng ký cho người hiến. Khi nhận được thông báo của Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, cơ sở y tế có trách nhiệm trực tiếp gặp người hiến để tư vấn thông tin có liên quan đến hiến, lấy mô, tạng và hướng dẫn việc đăng ký hiến lấy mô, tạng, hướng dẫn việc đăng ký hiến theo mẫu đơn; thực hiện việc kiểm tra sức khỏe cho người hiến; người hiến mô, tạng để được hiến phải đảm bảo được điều kiện về sức khỏe.

Thứ ba, về vấn đề xác định chết não trong trường hợp hiến mô, tạng sau khi chết

Ở Canada, pháp luật không quy định về khám nghiệm cận lâm sàng mà cho phép áp dụng các kỹ thuật mới để chẩn đoán chết não, thậm chí một kỹ thuật mới đang ở giai đoạn thử nghiệm cũng có thể được áp dụng. Tại Nhật Bản, chết não chỉ được chấp nhận là một tiêu chí có giá trị pháp lý cho sự kết thúc của cuộc sống một con người khi cấy ghép nội tạng có hiệu lực vào tháng 10/1997. Việc hiến tặng tạng của người hiến chết não chỉ được cho phép nếu người hiến tặng thể hiện bằng văn bản trước khi chết, ý định của họ đồng ý hiến tạng và đồng ý nộp bản tuyên bố chết não được ủy quyền và thành viên gia đình của họ (vợ/chồng, cha mẹ, con cái, ông bà, cháu và các thành viên sống trong gia đình) đã không phản đối việc hiến tạng. Quy định này làm cho việc ghép tạng ở Nhật Bản gặp nhiều khó khăn, bởi người Nhật Bản thường có suy nghĩ rằng một con người chỉ chết khi tim và phổi ngừng hoạt động, họ thường phản đối việc cắt bỏ tạng từ những bệnh nhân chết não. Bên cạnh đó, các quy tắc liên quan đến hiến tạng sau khi chết não cũng được nới lỏng ngay cả khi ý định của một cá nhân không rõ ràng, việc hiến tạng của họ đã trở nên khả thi, dưới sự đồng ý của gia đình. Luật về hiến, lấy, ghép bộ phận cơ thể của Tây Ban Nha năm 1979 quy định điều kiện chẩn đoán chết não là hôn mê có nguyên nhân đã biết và đặc điểm không thể phục hồi, phải có bằng chứng lâm sàng hoặc hình ảnh thần kinh về một tổn thương nghiêm trọng ở hệ thần kinh trung ương tương thích với tình trạng chết não[7]. Pháp luật của Pháp quy định chỉ cần có 02 bác sĩ xác định chết não và không quy định cụ thể chuyên môn của từng người. Để chẩn đoán chết não, pháp luật Pháp bắt buộc phải căn cứ vào kết quả khám nghiệm lâm sàng và khám cận lâm sàng: Xét nghiệm cận lâm sàng bằng một trong hai cách: (i) Chụp điện não đồ 02 lần; (ii) Chụp động mạch não một lần. Bên cạnh đó, pháp luật nước này cũng quy định về các dấu hiệu lâm sàng của chết não như: Rơi vào trạng thái hôn mê sâu, mất nhận thức và mất mọi vận động tự nhiên; mất toàn bộ phản xạ của thân não; ngừng thở hoàn toàn (rút máy trợ thở và kiếm tra nồng độ cacbonic trong máu). Nhóm quản lý cấy ghép bệnh viện sẽ tiến hành kiểm tra cần thiết với người thân của người đã chết và liên hệ với cơ quan quản lý khu vực dịch vụ y tế. Quá trình này có thể dừng lại bất cứ lúc nào, vì lý do y tế (suy giảm tạng) hoặc vì thông tin mới cho thấy rằng người chết não đã từ chối từ trước đó. Ở Hàn Quốc, khi yêu cầu xác định chết não được đưa ra, người đứng đầu cơ sở chết não sẽ phải có mặt tại nơi bệnh nhân nằm điều trị và nghiên cứu đầy đủ tình trạng của một bệnh nhân nghi ngờ chết não mà dự kiến sẽ trở thành đối tượng chết não và phải làm đơn yêu cầu xác định chết não lên Hội đồng xác định chết não, kèm theo biên bản do hai chuyên gia trở lên và một bác sĩ phụ trách điều trị cùng thực hiện. Ủy ban xác định chết não khi nhận được yêu cầu xác định chết não sẽ đưa ra quyết định chết não với sự tham dự của đa số thành viên ủy ban, bao gồm tối thiểu hai hoặc nhiều chuyên gia y tế và một hoặc nhiều thành viên không phải là nhân viên y tế và phải có sự đồng thuận của các thành viên có mặt[8]. Ở Việt Nam, việc xác định chết não cũng được quy định trong pháp luật hiện hành, khác với Pháp, việc xác định chết não ở Việt Nam dựa trên quyết định của 03 chuyên gia về hồi sức cấp cứu, chuyên gia về thần kinh hoặc phẫu thuật thần kinh, chuyên gia về giám định pháp y xác định (Điều 27 Luật năm 2006) và Luật này cũng quy định cụ thể tiêu chuẩn lâm sàng và tiêu chuẩn thời gian để xác định chết não.

Thứ tư, về cơ quan quản lý hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và ngân hàng mô

Ở Tây Ban Nha, sau khi Luật về hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người được ban hành năm 1979, đến năm 1989, Tổ chức Cấy ghép quốc gia (ONT) đã chính thức ra đời và đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Tây Ban Nha trở thành một trong những quốc gia hàng đầu trên thế giới về hiến mô, tạng phục vụ chữa bệnh và nghiên cứu khoa học. Ở Ma Rốc, không có cơ quan độc lập ở mức độ quốc gia có trách nhiệm quản lý hoạt động hiến, ghép mô, tạng mà nhiệm vụ này do Bộ Y tế của quốc gia này trực tiếp quản lý. Tuy nhiên, quốc gia này có một hội đồng tư vấn về ghép mô, tạng. Để đảm bảo nguồn mô dự trữ cho việc cấy, ghép mô, pháp luật Ma Rốc có quy định về việc thành lập các ngân hàng mô, nhưng đến năm 2006 quốc gia này mới chỉ tập trung vào đào tạo cho đội ngũ cán bộ y tế và các ca ghép giác mạc chủ yếu lấy từ nguồn nhập khẩu ở nước ngoài. Ở Pháp, để đảm bảo cho hoạt động hiến, lấy ghép mô, tạng được tiến hành hiệu quả, Pháp đã thành lập Trung tâm Cấy, ghép quốc gia từ rất sớm, Trung tâm này trước đây có Tổng giám đốc chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Y tế. Đến năm 2005, Trung tâm này được đổi tên thành Cơ quan y sinh quốc gia. Theo Luật Hiến, lấy, ghép tạng Hàn Quốc, việc quản lý ghép mô, bộ phận cơ thể được thực hiện bởi Cơ quan Quản lý ghép nội tạng quốc gia, cơ quan này sẽ được chỉ định bởi Pháp lệnh của Bộ Y tế, cơ quan này có nhiệm vụ: Lựa chọn người được ghép tạng; đăng ký và quản lý những người muốn hiến tạng và quản lý dữ liệu liên quan đến thông tin cá nhân và kết quả khám sức khỏe của những người hiến nội tạng và những người tiềm năng nhận tạng; hướng dẫn và giám sát các tổ chức đăng ký ghép tạng, các cơ quan thực hiện xác định chết não; khảo sát và nghiên cứu về lấy nội tạng, ghép nội tạng và quản lý thông tin, thống kê, các chiến dịch truyền thông, quan hệ công chúng. Pháp luật Việt Nam cũng dành hẳn một chương quy định về ngân hàng mô và Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép mô, bộ phận cơ thể người (từ Điều 35 đến Điều 38, Chương V, Luật năm 2006), những quy định này đã góp phần quan trọng trong việc khám, chữa bệnh và đảm bảo sức khỏe cho người dân Việt Nam.

2. Một số gợi mở cho Việt Nam

Trên cơ sở phân tích pháp luật về hiến mô, tạng của một số nước trên thế giới, tác giả đưa ra một số kinh nghiệm để nghiên cứu quy định trong pháp luật của Việt Nam như sau:

Một là, luật cũng nên quy định cụ thể về điều kiện hiến mô, tạng vì mục đích nghiên cứu khoa học và giảng dạy một cách chặt chẽ bởi hiến mô, tạng là một trong hai mục đích quan trọng được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 (đó là mục đích chữa bệnh và nghiên cứu khoa học).

Hai là, nên quy định về bảo hiểm y tế toàn dân vào trong luật. Thực tế vấn đề này ở Việt Nam còn bất cập, người hiến phải trả toàn bộ chi phí cho việc hiến mô, tạng (khám sức khỏe, chi phí phẫu thuật…). Do đó, nếu xây dựng bảo hiểm y tế về hiến, lấy, ghép mô, tạng trong hệ thống y tế toàn dân sẽ hỗ trợ đắc lực cho người hiến mô tạng; thu hút số người đăng ký hiến bộ phận cơ thể ngày càng nhiều hơn theo kinh nghiệm của các quốc gia tiên tiến trên thế giới như Pháp, Singapore, Bỉ, Hà Lan…

Ba là, nên mở rộng độ tuổi đối với người hiến tặng mô, tạng chết não. Nghĩa là bất kỳ người nào nếu chết não (dù dưới 18 tuổi, là trẻ em) được gia đình xác nhận là khi còn sống, người đó có nguyện vọng hiến tặng mô tạng nếu chẳng may qua đời và Luật cần sửa đổi theo hướng không giới hạn độ tuổi đối với người hiến sau khi chết não. Tuy nhiên, đối với người hiến khi còn sống, bên cạnh độ tuổi quy định từ đủ 18 tuổi đối với người hiến tạng cùng huyết thống, cần bổ sung quy định mở rộng điều kiện độ tuổi đối với người hiến tạng không cùng huyết thống, theo đó, cần nâng cao độ tuổi hiến tạng lên 35 tuổi hoặc 40 tuổi, bởi ở độ tuổi này, người hiến thường đã hoàn thiện cả về thể chất, tinh thần và đã cơ bản ổn định cuộc sống, với quy định này cũng sẽ góp phần hạn chế tình trạng mua bán tạng hiện nay.

Bốn là, nên sớm sửa đổi, bổ sung Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác; xác định rõ tạng hiến là quà tặng sự sống, là tài sản quốc gia, không thuộc sở hữu riêng của cơ sở y tế nào; tuân thủ tuyên bố Istanbul về chống mua bán tạng và du lịch ghép tạng; hoạt động điều phối hiến, lấy, ghép tạng cần tham gia ngay từ khi có đánh giá chết não và chủ trì việc điều phối, vận chuyển cũng như thanh toán các chi phí cho các bên liên quan; xây dựng gói chi phí “điều phối” bao gồm: Chẩn đoán chết não, hồi sức bệnh nhân chết não; lấy, bảo quản, vận chuyển mô, tạng; phục hồi thi thể bệnh nhân chết não, vận chuyển và mai táng; tri ân người hiến chết não; truyền thông, vận động… làm cơ sở thanh toán và áp dụng chung trong cả nước; xây dựng giá gói dịch vụ ghép thận làm cơ sở cho bảo hiểm y tế thanh toán theo tỉ lệ 80%, phần còn lại do bệnh nhân cùng thanh toán.

Như vậy, vấn đề hiến tặng mô, tạng đã và đang là một vấn đề nóng bỏng tại nhiều nước trên thế giới và Việt Nam trong thời gian vừa qua. Việc quy định vấn đề này trong hệ thống pháp luật của các nước đã góp phần thúc đẩy cho ngành y học giải phẫu phát triển theo hướng chuyên nghiệp, khuyến khích người đi đăng ký hiến mô, tạng ngày càng nhiều, thông qua đó đã cứu sống rất nhiều người bệnh. Tuy nhiên, để quyền này thực sự phát huy hiệu quả hơn nữa thì cần có những quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật của từng quốc gia.

ThS. Nguyễn Hoàng Phúc
Bộ Y tế
NCS. Đoàn Thị Ngọc Hải
Đại học Luật Hà Nội


[1]. Đạo luật Hiến tặng tạng và mô của Hà Lan.

[2]. Luật về cấy ghép tạng của Nhật Bản năm 1997.

[3]. Bộ luật Y tế công cộng của Cộng hòa Pháp, tài liệu Hội thảo dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người, Nhà pháp luật Việt - Pháp, Hà Nội, 2006.

[4]. Đạo luật Quà tặng giải phẫu thống nhất (The Uniform Anatomical Gift Act – UAGA) của Hoa Kỳ năm 1968.

[5]. Luật số 16-98 về cho, lấy và ghép mô, bộ phận cơ thể người của Ma Rốc năm 1998.

[6]. Kỷ yếu Tọa đàm dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người, tài liệu tham khảo lưu hành nội bộ - Bản dịch của Nhà pháp luật Việt - Pháp. Hà Nội, ngày 4,5/4/2006.

[7]. Luật về lấy, ghép bộ phận cơ thể người của Tây Ban Nha năm 1979.

[8]. Luật Hiến, lấy, ghép tạng của Hàn Quốc.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: