Thứ hai 26/10/2026 21:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật của Việt Nam và Cộng hòa Pháp - Góc nhìn so sánh và đề xuất hoàn thiện pháp luật[1]

Hủy việc kết hôn trái pháp luật là một biện pháp chế tài của luật, được áp dụng để xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật, được quy định khá rõ trong pháp luật Việt Nam và Pháp. Việc nghiên cứu, so sánh pháp luật hai quốc gia sẽ cung cấp một số kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

1. Khái niệm kết hôn trái pháp luật

Khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”. So với quy định trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bổ sung cụm từ “tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền” nên việc kết hôn sẽ không thuộc khái niệm kết hôn trái pháp luật nếu việc kết hôn đó được đăng ký tại cơ quan không có thẩm quyền. Quy định kết hôn trái pháp luật nhằm phân định thẩm quyền giải quyết vi phạm quy định về kết hôn theo hướng nếu việc kết hôn chỉ vi phạm quy định về thẩm quyền đăng ký thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan đăng ký hộ tịch, những vi phạm khác về kết hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án[2]. Theo quy định, việc kết hôn trái pháp luật sẽ bị hủy khi có yêu cầu của chủ thể có quyền và theo quyết định của Tòa án.

Khác với Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam, Bộ luật Dân sự Pháp không đưa ra định nghĩa về kết hôn trái pháp luật mà chỉ quy định cụ thể về giải quyết yêu cầu hủy hôn nhân từ Điều 180 đến Điều 202. Do đó, có thể hiểu rằng, theo pháp luật Pháp, kết hôn trái pháp luật là việc kết hôn không tuân thủ các quy định về kết hôn, bao gồm quy định về điều kiện kết hôn và quy định về đăng ký kết hôn. Việc kết hôn sẽ bị hủy theo quyết định của Tòa án trên cơ sở yêu cầu của những chủ thể có quyền theo quy định của luật trong từng trường hợp.

2. Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật

2.1. So sánh pháp luật của Pháp và pháp luật của Việt Nam

Giống như pháp luật của các nước châu Âu, pháp luật của Pháp quy định về hủy hôn nhân trên cơ sở quy định chung về hủy hợp đồng nên có sự phân chia thành hai trường hợp: Hôn nhân vô hiệu tương đối và hôn nhân vô hiệu tuyệt đối. Tinh thần chung là, nếu có căn cứ về việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án cần phải tuyên bố hôn nhân vô hiệu. Tuy nhiên, với quan điểm “che chở cho hôn nhân”, pháp luật về gia đình của Pháp quy định về hủy hôn nhân theo hướng hẹp hơn so với quy định của luật chung về hủy hợp đồng. Theo đó, không phải tất cả các trường hợp kết hôn trái pháp luật đều dẫn đến việc hủy bỏ hôn nhân[3].

Hôn nhân sẽ vô hiệu tương đối trong hai trường hợp: (i) Người kết hôn bị cưỡng ép hoặc bị nhầm lẫn (không có sự tự nguyện); (ii) Người chưa thành niên được miễn điều kiện về tuổi kết hôn nhưng không có sự đồng ý của những người theo quy định của Bộ luật Dân sự. Đối với trường hợp (i), chỉ có bên bị cưỡng ép, bị nhầm lẫn hoặc Viện Công tố mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu[4]. Quy định Viện Công tố có quyền yêu cầu việc hủy việc kết hôn xuất phát từ yêu cầu đấu tranh chống lại hành vi cưỡng ép kết hôn. Đối với trường hợp (ii), người có quyền yêu cầu tuyên bố hôn nhân vô hiệu gồm: Những người mà theo quy định của Bộ luật Dân sự phải có sự đồng ý của họ (cha mẹ, ông, bà…) và vợ hoặc chồng mà khi kết hôn chưa đủ 18 tuổi[5]. Tuy nhiên, những người này không có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn nếu họ đã tán thành việc kết hôn một cách rõ ràng hay ngầm định hoặc trong thời hạn 05 năm, kể từ khi biết việc kết hôn mà người này không yêu cầu hủy việc kết hôn; vợ/chồng không còn quyền yêu cầu hủy hôn nhân nếu trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày người này đủ 18 tuổi mà người này không có yêu cầu hủy việc kết hôn[6].

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu hủy hôn nhân đã thay đổi kể từ Luật số 2008-561 ngày 17/6/2008. Đối với trường hợp hôn nhân vô hiệu tương đối, người bị cưỡng ép kết hôn hoặc có sự nhầm lẫn chỉ có thể yêu cầu hủy hôn nhân trong thời hạn 05 năm, kể từ khi kết hôn[7]. Đối với trường hợp kết hôn khi chưa đủ 18 tuổi, thời hiệu khởi kiện cũng là 05 năm như đã nêu ở đoạn trên.

Hôn nhân bị xác định vô hiệu tuyệt đối khi sự vi phạm có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm trật tự công. Đó là 05 trường hợp: (i) Kết hôn khi chưa đủ tuổi kết hôn mà không thuộc trường hợp được miễn tuổi (Điều 144, Điều 145); (ii) Người kết hôn mất hoàn toàn khả năng nhận thức (Điều 146)[8]; (iii) Việc kết hôn trái với nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng (Điều 147); (iv) Kết hôn giữa những người có quan hệ gần mà luật cấm kết hôn (các điều 161, 162, 163); (v) Vi phạm quy định về đăng ký kết hôn, gồm: Khi đăng ký kết hôn không có mặt của người kết hôn (Điều 146-1), không công bố dự định kết hôn trước khi cử hành hôn lễ, người cử hành hôn lễ không đúng thẩm quyền (Điều 191)[9].

Việc xử lý đối với các trường hợp hôn nhân vô hiệu tuyệt đối được quy định rất nghiêm khắc do quan điểm cần bảo vệ trật tự công. Điều 184 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Tất cả những cuộc hôn nhân được xác lập mà vi phạm quy định tại các điều 144, 146, 146-1, 147, 161, 162 và 163 đều có thể bị yêu cầu hủy trong thời hạn 30 năm kể từ khi cử hành hôn lễ theo yêu cầu của chính vợ chồng, người có lợi ích liên quan hoặc Viện công tố”. Theo đó, việc giải quyết các trường hợp hôn nhân vô hiệu tuyệt đối không thể có ngoại lệ, kể cả khi Tòa án giải quyết mà người kết hôn đã đủ tuổi kết hôn (trường hợp kết hôn khi chưa đủ tuổi) hoặc quan hệ hôn nhân thứ nhất đã chấm dứt (trường hợp kết hôn khi đang có vợ, có chồng)[10].

Phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu trong trường hợp này khá rộng, gồm: Vợ, chồng; vợ hoặc chồng của người kết hôn với người khác trong trường hợp kết hôn vi phạm nguyên tắc đơn hôn; những người có quyền và lợi ích liên quan và Viện Công tố[11]. Về thời hiệu, từ năm 2008, Điều 184 Bộ luật Dân sự quy định thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu là 30 năm kể từ ngày cử hành hôn lễ. Do tính chất nghiêm trọng của sự vi phạm nên luật của Pháp đã định ra một thời hiệu khởi kiện rất dài và như vậy, nguy cơ hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu luôn hiện hữu.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Việt Nam không có quy định về hôn nhân vô hiệu tương đối và tuyệt đối như pháp luật của Pháp nhưng cũng có những sự phân biệt trong việc giải quyết việc kết hôn trái pháp luật đối với những dạng vi phạm khác nhau. Điều 11 Luật này quy định: “Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó”[12]. Theo đó, việc kết hôn mặc dù là trái pháp luật nhưng nó chỉ bị hủy nếu ở một trong hai trường hợp: (i) Tại thời điểm Tòa án giải quyết, các bên kết hôn vẫn chưa đủ điều kiện kết hôn; (ii) Hai người kết hôn không yêu cầu công nhận hôn nhân của họ. Quy định của pháp luật Việt Nam về hủy việc kết hôn trái pháp luật tạo ra nhiều ngoại lệ, nhất là đối với trường hợp kết hôn khi chưa đủ tuổi kết hôn hoặc kết hôn khi đang có vợ, có chồng. Điều này thể hiện quan điểm linh hoạt, mềm dẻo của pháp luật Việt Nam mà đã được thực hiện từ trước, trong thực tiễn xét xử của các Tòa án[13]. Đây là quan điểm khác biệt so với pháp luật của Pháp. Tuy nhiên, đối với các trường hợp kết hôn giả tạo hoặc giữa những người có quan hệ gần mà Luật Hôn nhân và gia đình cấm kết hôn thì việc giải quyết không thể có ngoại lệ, việc kết hôn trái pháp luật trong các trường hợp này phải bị hủy[14].

Về chủ thể có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nhiều quy định giống như Bộ luật Dân sự Pháp trong việc phân biệt theo hai trường hợp. Đối với trường hợp kết hôn có sự cưỡng ép hoặc lừa dối kết hôn thì chỉ có người bị cưỡng ép, bị lừa dối mới có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn. Các chủ thể có quyền yêu cầu đối với trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn khác gồm: Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ (khoản 2 Điều 10). Tuy nhiên, khác với pháp luật Pháp, pháp luật Việt Nam không quy định về thời hiệu yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Các chủ thể nêu trên có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật vào bất cứ thời điểm nào[15].

2.2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Thứ nhất, quy định về xử lý việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Việt Nam thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt. Tuy nhiên, điều này dẫn đến khả năng người kết hôn không tuân thủ quy định về điều kiện kết hôn. Từ kinh nghiệm pháp luật của Pháp và trong điều kiện xã hội của Việt Nam, pháp luật Việt Nam cần sửa đổi theo hướng quy định chặt chẽ hơn về xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật. Luật Hôn nhân và gia đình chỉ nên quy định một ngoại lệ cho phép Tòa án công nhận hôn nhân trong trường hợp cưỡng ép hoặc lừa dối kết hôn với điều kiện hai bên sau khi kết hôn đã có quá trình chung sống bình thường như một quan hệ vợ chồng trong thời gian từ 06 tháng trở lên; trong trường hợp này chỉ cần một bên kết hôn đề nghị Tòa án công nhận hôn nhân.

Thứ hai, về thời hiệu yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, cũng như những quan hệ dân sự khác, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng cần quy định về thời hiệu yêu cầu trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình để tạo ra một sự ổn định cho quan hệ này. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của pháp luật Pháp đã được sửa đổi từ năm 2008. Cụ thể, đối với trường hợp bị cưỡng ép, lừa dối kết hôn thì thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết là 05 năm kể từ ngày kết hôn; đối với các trường hợp vi phạm các điều kiện kết hôn khác thì thời hiệu yêu cầu là 30 năm kể từ ngày kết hôn.

3. Hậu quả pháp lý khi hủy việc kết hôn trái pháp luật

3.1. So sánh pháp luật của Pháp và pháp luật của Việt Nam

Về nguyên tắc chung, pháp luật của Pháp và pháp luật của Việt Nam đều thừa nhận hủy việc kết hôn trái pháp luật có tính hồi tố, nghĩa là việc kết hôn không có giá trị pháp lý ngay từ khi nó được thực hiện (từ thời điểm kết hôn). Ở Pháp, theo quy định của luật chung, khi giao dịch dân sự bị tuyên bố vô hiệu, không phân biệt đó là vô hiệu tương đối hay vô hiệu tuyệt đối thì đều dẫn đến hậu quả là giao dịch không có giá trị ngay từ thời điểm xác lập, tức là tuyên bố vô hiệu có hiệu lực hồi tố. Theo đó, thông thường, khi hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu, các bên đã kết hôn bị coi là chưa bao giờ có tư cách vợ, chồng và giữa họ không có quyền, nghĩa vụ của vợ chồng; quan hệ của họ được xem xét như trường hợp hai người sống chung (concubins)[16]. Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập” (khoản 1 Điều 131). Theo bản chất pháp lý của chế tài hủy việc kết hôn trái pháp luật và kết hợp với quy định chung của Bộ luật Dân sự về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, cần hiểu quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật có hiệu lực hồi tố đến thời điểm kết hôn, nghĩa là ngay từ khi kết hôn trái pháp luật, quan hệ vợ chồng không phát sinh, các bên kết hôn không có quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng.

Về hậu quả pháp lý đối với con chung, pháp luật của hai nước thể hiện quan điểm giống nhau là bảo vệ quyền lợi của con không phân biệt quan hệ của cha, mẹ chúng là hợp pháp hay trái pháp luật[17]. Theo đó, khi tuyên bố hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án sẽ giải quyết những vấn đề về con chung như khi giải quyết ly hôn.

Tuy nhiên, về hậu quả pháp lý đối với quan hệ của hai người kết hôn, pháp luật của hai nước có một điểm khác biệt về bảo vệ người kết hôn ngay tình. Điều 201 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu vẫn phát sinh hiệu lực đối với vợ chồng nếu họ xác lập hôn nhân một cách ngay tình. Nếu chỉ một bên vợ hoặc chồng ngay tình thì hôn nhân chỉ phát sinh hiệu lực đối với bên ngay tình”. Điều luật này tạo ra một tình trạng pháp lý cho quan hệ của hai người kết hôn trái pháp luật mà học thuyết ở Pháp gọi là “mariage putatif” (như hôn nhân) khi người kết hôn ngay tình. Khi quan hệ của hai bên kết hôn trái pháp luật được thừa nhận “như hôn nhân” thì quyết định của Tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu không có hiệu lực hồi tố mà nó chỉ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân từ thời điểm bị tuyên bố vô hiệu; trước thời điểm này, hôn nhân vẫn phát sinh hiệu lực (các bên vẫn có các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng). Nói cách khác, trong trường hợp này, hậu quả pháp lý của hôn nhân vô hiệu giống như hậu quả của ly hôn.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Việt Nam về cơ bản giữ quan điểm chung về hủy việc kết hôn trái pháp luật khi quy định về quan hệ giữa hai người kết hôn. Khoản 3 Điều 12 Luật này quy định: “Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này”. Theo đó, các quan hệ về tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa hai bên kết hôn trái pháp luật được giải quyết như những trường hợp chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn. Các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của vợ chồng sẽ không được áp dụng cho quan hệ của hai người kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 tạo ra một ngoại lệ trong việc giải quyết quan hệ tài sản của các bên: “Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập” (khoản 2 Điều 16). Với quy định này, khi giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án cần đánh giá những diễn biến trong quan hệ của hai bên kết hôn cũng như tình hình của con (nếu có) và đóng góp thực tế của mỗi bên trong việc duy trì đời sống chung để thực hiện việc phân chia tài sản đảm bảo sự công bằng.

3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Pháp luật của Việt Nam quy định bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con cũng như của bên có đóng góp vào việc duy trì đời sống chung. Quy định này phù hợp với tình trạng ở Việt Nam trong bối cảnh còn chịu ảnh hưởng nhiều của tập quán khiến cho người phụ nữ thường là người phải đảm trách các công việc gia đình. Do đó, nó góp phần thúc đẩy bình đẳng giới thực chất. Tuy nhiên, quy định này không có nội dung rõ ràng nên trong thực tế dễ bị lạm dụng dẫn đến không đảm bảo công bằng khi giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật. Mặt khác, quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa đáp ứng được yêu cầu cần bảo vệ người bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn, trong đó nạn nhân có thể là nam giới. Về điều này, từ kinh nghiệm trong Bộ luật Dân sự Pháp, một giải pháp phù hợp cho việc hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam đó là, cần bổ sung quy định về bảo vệ người bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo hướng thừa nhận cho họ có quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đến thời điểm việc kết hôn bị hủy.

Tóm lại, pháp luật của Pháp và pháp luật của Việt Nam về hủy việc kết hôn trái pháp luật có nhiều điểm giống và khác nhau. Sự giống và khác nhau đó có nguyên nhân từ những yếu tố về lịch sử, văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội. Mặc dù vậy, việc nghiên cứu so sánh pháp luật của hai nước vẫn có thể gợi mở về giải pháp cho pháp luật của mỗi nước.

TS. Bùi Minh Hồng

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp cơ sở “Kết hôn và chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật một số nước”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023.

[2]. Xem: Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Gérard CORNU, Droit civil, La famille, 9e édition, Montchestien, 2006, pages 313 - 315;

Philippe MALAURIE et Laurent AYNÈS, Droit de la famille, 6e édition, LGDJ, Lextenso éditions, 2018, pages 172 - 175.

[4]. Điều 180 Bộ luật Dân sự Pháp.

[5]. Điều 182 Bộ luật Dân sự Pháp.

[6]. Điều 183 Bộ luật Dân sự Pháp.

[7]. Điều 181 Bộ luật Dân sự Pháp.

[8]. Đây là trường hợp người đã thành niên kết hôn trong tình trạng mất hoàn toàn năng lực nhận thức. Trong quyết định của Tòa phá án ngày 28/5/1980, đối với vụ việc trong đó người kết hôn 72 tuổi, 02 năm trước khi kết hôn, người này trong tình trạng bị bại não mà cần được chăm sóc như một đứa trẻ, Tòa án đã đưa ra quan điểm cần hủy việc kết hôn vì người kết hôn không có chút khả năng nhận thức nào. Trường hợp này cần coi là hôn nhân vô hiệu tuyệt đối.

[9]. Tuy nhiên, đối với trường hợp vi phạm quy định về đăng ký kết hôn, trên thực tế, án lệ chỉ coi sự vi phạm này là căn cứ để hủy việc kết hôn nếu nó thể hiện ý đồ gian dối của người kết hôn nhằm tạo ra một cuộc hôn nhân giả và thẩm phán có thẩm quyền đánh giá trong từng vụ việc cụ thể để xác định người kết hôn có ý định gian dối hay không.

Xem: Gérard CORNU, Droit civil, La famille, 9e édition, Montchestien, 2006, p. 314.

[10]. Tuy nhiên, có tác giả cho rằng, đối với trường hợp kết hôn khi đang có vợ, có chồng nhưng sau đó người vợ/chồng thứ nhất đã chết thì sự vô hiệu của hôn nhân phải biến mất, bởi vì nếu tuyên bố hôn nhân vô hiệu, sau đó hai vợ chồng có thể kết hôn lại ngay lập tức.

Xem: Philippe MALAURIE et Laurent AYNÈS, Droit de la famille, 6e édition, LGDJ, Lextenso éditions, 2018, p. 178.

[11]. Từ Điều 184 đến Điều 191 Bộ luật Dân sự Pháp.

[12]. Quy định này được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

[13]. Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.

[14]. Các trường hợp được quy định tại điểm a và điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[15]. Truyền thống lập pháp ở Việt Nam theo quan điểm không quy định về thời hiệu khởi kiện đối với các vụ, việc về hôn nhân và gia đình.

[16]. Philippe MALAURIE et Laurent AYNÈS, Droit de la famille, 6e édition, LGDJ, Lextenso éditions, 2018, page 179.

[17]. Xem: Điều 202 Bộ luật Dân sự Pháp và Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2104 của Việt Nam.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.

Theo dõi chúng tôi trên: