Thứ sáu 16/01/2026 22:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật của Việt Nam và Cộng hòa Pháp - Góc nhìn so sánh và đề xuất hoàn thiện pháp luật[1]

Hủy việc kết hôn trái pháp luật là một biện pháp chế tài của luật, được áp dụng để xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật, được quy định khá rõ trong pháp luật Việt Nam và Pháp. Việc nghiên cứu, so sánh pháp luật hai quốc gia sẽ cung cấp một số kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

1. Khái niệm kết hôn trái pháp luật

Khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”. So với quy định trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bổ sung cụm từ “tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền” nên việc kết hôn sẽ không thuộc khái niệm kết hôn trái pháp luật nếu việc kết hôn đó được đăng ký tại cơ quan không có thẩm quyền. Quy định kết hôn trái pháp luật nhằm phân định thẩm quyền giải quyết vi phạm quy định về kết hôn theo hướng nếu việc kết hôn chỉ vi phạm quy định về thẩm quyền đăng ký thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan đăng ký hộ tịch, những vi phạm khác về kết hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án[2]. Theo quy định, việc kết hôn trái pháp luật sẽ bị hủy khi có yêu cầu của chủ thể có quyền và theo quyết định của Tòa án.

Khác với Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam, Bộ luật Dân sự Pháp không đưa ra định nghĩa về kết hôn trái pháp luật mà chỉ quy định cụ thể về giải quyết yêu cầu hủy hôn nhân từ Điều 180 đến Điều 202. Do đó, có thể hiểu rằng, theo pháp luật Pháp, kết hôn trái pháp luật là việc kết hôn không tuân thủ các quy định về kết hôn, bao gồm quy định về điều kiện kết hôn và quy định về đăng ký kết hôn. Việc kết hôn sẽ bị hủy theo quyết định của Tòa án trên cơ sở yêu cầu của những chủ thể có quyền theo quy định của luật trong từng trường hợp.

2. Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật

2.1. So sánh pháp luật của Pháp và pháp luật của Việt Nam

Giống như pháp luật của các nước châu Âu, pháp luật của Pháp quy định về hủy hôn nhân trên cơ sở quy định chung về hủy hợp đồng nên có sự phân chia thành hai trường hợp: Hôn nhân vô hiệu tương đối và hôn nhân vô hiệu tuyệt đối. Tinh thần chung là, nếu có căn cứ về việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án cần phải tuyên bố hôn nhân vô hiệu. Tuy nhiên, với quan điểm “che chở cho hôn nhân”, pháp luật về gia đình của Pháp quy định về hủy hôn nhân theo hướng hẹp hơn so với quy định của luật chung về hủy hợp đồng. Theo đó, không phải tất cả các trường hợp kết hôn trái pháp luật đều dẫn đến việc hủy bỏ hôn nhân[3].

Hôn nhân sẽ vô hiệu tương đối trong hai trường hợp: (i) Người kết hôn bị cưỡng ép hoặc bị nhầm lẫn (không có sự tự nguyện); (ii) Người chưa thành niên được miễn điều kiện về tuổi kết hôn nhưng không có sự đồng ý của những người theo quy định của Bộ luật Dân sự. Đối với trường hợp (i), chỉ có bên bị cưỡng ép, bị nhầm lẫn hoặc Viện Công tố mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu[4]. Quy định Viện Công tố có quyền yêu cầu việc hủy việc kết hôn xuất phát từ yêu cầu đấu tranh chống lại hành vi cưỡng ép kết hôn. Đối với trường hợp (ii), người có quyền yêu cầu tuyên bố hôn nhân vô hiệu gồm: Những người mà theo quy định của Bộ luật Dân sự phải có sự đồng ý của họ (cha mẹ, ông, bà…) và vợ hoặc chồng mà khi kết hôn chưa đủ 18 tuổi[5]. Tuy nhiên, những người này không có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn nếu họ đã tán thành việc kết hôn một cách rõ ràng hay ngầm định hoặc trong thời hạn 05 năm, kể từ khi biết việc kết hôn mà người này không yêu cầu hủy việc kết hôn; vợ/chồng không còn quyền yêu cầu hủy hôn nhân nếu trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày người này đủ 18 tuổi mà người này không có yêu cầu hủy việc kết hôn[6].

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu hủy hôn nhân đã thay đổi kể từ Luật số 2008-561 ngày 17/6/2008. Đối với trường hợp hôn nhân vô hiệu tương đối, người bị cưỡng ép kết hôn hoặc có sự nhầm lẫn chỉ có thể yêu cầu hủy hôn nhân trong thời hạn 05 năm, kể từ khi kết hôn[7]. Đối với trường hợp kết hôn khi chưa đủ 18 tuổi, thời hiệu khởi kiện cũng là 05 năm như đã nêu ở đoạn trên.

Hôn nhân bị xác định vô hiệu tuyệt đối khi sự vi phạm có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm trật tự công. Đó là 05 trường hợp: (i) Kết hôn khi chưa đủ tuổi kết hôn mà không thuộc trường hợp được miễn tuổi (Điều 144, Điều 145); (ii) Người kết hôn mất hoàn toàn khả năng nhận thức (Điều 146)[8]; (iii) Việc kết hôn trái với nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng (Điều 147); (iv) Kết hôn giữa những người có quan hệ gần mà luật cấm kết hôn (các điều 161, 162, 163); (v) Vi phạm quy định về đăng ký kết hôn, gồm: Khi đăng ký kết hôn không có mặt của người kết hôn (Điều 146-1), không công bố dự định kết hôn trước khi cử hành hôn lễ, người cử hành hôn lễ không đúng thẩm quyền (Điều 191)[9].

Việc xử lý đối với các trường hợp hôn nhân vô hiệu tuyệt đối được quy định rất nghiêm khắc do quan điểm cần bảo vệ trật tự công. Điều 184 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Tất cả những cuộc hôn nhân được xác lập mà vi phạm quy định tại các điều 144, 146, 146-1, 147, 161, 162 và 163 đều có thể bị yêu cầu hủy trong thời hạn 30 năm kể từ khi cử hành hôn lễ theo yêu cầu của chính vợ chồng, người có lợi ích liên quan hoặc Viện công tố”. Theo đó, việc giải quyết các trường hợp hôn nhân vô hiệu tuyệt đối không thể có ngoại lệ, kể cả khi Tòa án giải quyết mà người kết hôn đã đủ tuổi kết hôn (trường hợp kết hôn khi chưa đủ tuổi) hoặc quan hệ hôn nhân thứ nhất đã chấm dứt (trường hợp kết hôn khi đang có vợ, có chồng)[10].

Phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu trong trường hợp này khá rộng, gồm: Vợ, chồng; vợ hoặc chồng của người kết hôn với người khác trong trường hợp kết hôn vi phạm nguyên tắc đơn hôn; những người có quyền và lợi ích liên quan và Viện Công tố[11]. Về thời hiệu, từ năm 2008, Điều 184 Bộ luật Dân sự quy định thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu là 30 năm kể từ ngày cử hành hôn lễ. Do tính chất nghiêm trọng của sự vi phạm nên luật của Pháp đã định ra một thời hiệu khởi kiện rất dài và như vậy, nguy cơ hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu luôn hiện hữu.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Việt Nam không có quy định về hôn nhân vô hiệu tương đối và tuyệt đối như pháp luật của Pháp nhưng cũng có những sự phân biệt trong việc giải quyết việc kết hôn trái pháp luật đối với những dạng vi phạm khác nhau. Điều 11 Luật này quy định: “Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó”[12]. Theo đó, việc kết hôn mặc dù là trái pháp luật nhưng nó chỉ bị hủy nếu ở một trong hai trường hợp: (i) Tại thời điểm Tòa án giải quyết, các bên kết hôn vẫn chưa đủ điều kiện kết hôn; (ii) Hai người kết hôn không yêu cầu công nhận hôn nhân của họ. Quy định của pháp luật Việt Nam về hủy việc kết hôn trái pháp luật tạo ra nhiều ngoại lệ, nhất là đối với trường hợp kết hôn khi chưa đủ tuổi kết hôn hoặc kết hôn khi đang có vợ, có chồng. Điều này thể hiện quan điểm linh hoạt, mềm dẻo của pháp luật Việt Nam mà đã được thực hiện từ trước, trong thực tiễn xét xử của các Tòa án[13]. Đây là quan điểm khác biệt so với pháp luật của Pháp. Tuy nhiên, đối với các trường hợp kết hôn giả tạo hoặc giữa những người có quan hệ gần mà Luật Hôn nhân và gia đình cấm kết hôn thì việc giải quyết không thể có ngoại lệ, việc kết hôn trái pháp luật trong các trường hợp này phải bị hủy[14].

Về chủ thể có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nhiều quy định giống như Bộ luật Dân sự Pháp trong việc phân biệt theo hai trường hợp. Đối với trường hợp kết hôn có sự cưỡng ép hoặc lừa dối kết hôn thì chỉ có người bị cưỡng ép, bị lừa dối mới có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn. Các chủ thể có quyền yêu cầu đối với trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn khác gồm: Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ (khoản 2 Điều 10). Tuy nhiên, khác với pháp luật Pháp, pháp luật Việt Nam không quy định về thời hiệu yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Các chủ thể nêu trên có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật vào bất cứ thời điểm nào[15].

2.2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Thứ nhất, quy định về xử lý việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Việt Nam thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt. Tuy nhiên, điều này dẫn đến khả năng người kết hôn không tuân thủ quy định về điều kiện kết hôn. Từ kinh nghiệm pháp luật của Pháp và trong điều kiện xã hội của Việt Nam, pháp luật Việt Nam cần sửa đổi theo hướng quy định chặt chẽ hơn về xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật. Luật Hôn nhân và gia đình chỉ nên quy định một ngoại lệ cho phép Tòa án công nhận hôn nhân trong trường hợp cưỡng ép hoặc lừa dối kết hôn với điều kiện hai bên sau khi kết hôn đã có quá trình chung sống bình thường như một quan hệ vợ chồng trong thời gian từ 06 tháng trở lên; trong trường hợp này chỉ cần một bên kết hôn đề nghị Tòa án công nhận hôn nhân.

Thứ hai, về thời hiệu yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, cũng như những quan hệ dân sự khác, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng cần quy định về thời hiệu yêu cầu trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình để tạo ra một sự ổn định cho quan hệ này. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của pháp luật Pháp đã được sửa đổi từ năm 2008. Cụ thể, đối với trường hợp bị cưỡng ép, lừa dối kết hôn thì thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết là 05 năm kể từ ngày kết hôn; đối với các trường hợp vi phạm các điều kiện kết hôn khác thì thời hiệu yêu cầu là 30 năm kể từ ngày kết hôn.

3. Hậu quả pháp lý khi hủy việc kết hôn trái pháp luật

3.1. So sánh pháp luật của Pháp và pháp luật của Việt Nam

Về nguyên tắc chung, pháp luật của Pháp và pháp luật của Việt Nam đều thừa nhận hủy việc kết hôn trái pháp luật có tính hồi tố, nghĩa là việc kết hôn không có giá trị pháp lý ngay từ khi nó được thực hiện (từ thời điểm kết hôn). Ở Pháp, theo quy định của luật chung, khi giao dịch dân sự bị tuyên bố vô hiệu, không phân biệt đó là vô hiệu tương đối hay vô hiệu tuyệt đối thì đều dẫn đến hậu quả là giao dịch không có giá trị ngay từ thời điểm xác lập, tức là tuyên bố vô hiệu có hiệu lực hồi tố. Theo đó, thông thường, khi hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu, các bên đã kết hôn bị coi là chưa bao giờ có tư cách vợ, chồng và giữa họ không có quyền, nghĩa vụ của vợ chồng; quan hệ của họ được xem xét như trường hợp hai người sống chung (concubins)[16]. Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập” (khoản 1 Điều 131). Theo bản chất pháp lý của chế tài hủy việc kết hôn trái pháp luật và kết hợp với quy định chung của Bộ luật Dân sự về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, cần hiểu quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật có hiệu lực hồi tố đến thời điểm kết hôn, nghĩa là ngay từ khi kết hôn trái pháp luật, quan hệ vợ chồng không phát sinh, các bên kết hôn không có quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng.

Về hậu quả pháp lý đối với con chung, pháp luật của hai nước thể hiện quan điểm giống nhau là bảo vệ quyền lợi của con không phân biệt quan hệ của cha, mẹ chúng là hợp pháp hay trái pháp luật[17]. Theo đó, khi tuyên bố hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án sẽ giải quyết những vấn đề về con chung như khi giải quyết ly hôn.

Tuy nhiên, về hậu quả pháp lý đối với quan hệ của hai người kết hôn, pháp luật của hai nước có một điểm khác biệt về bảo vệ người kết hôn ngay tình. Điều 201 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu vẫn phát sinh hiệu lực đối với vợ chồng nếu họ xác lập hôn nhân một cách ngay tình. Nếu chỉ một bên vợ hoặc chồng ngay tình thì hôn nhân chỉ phát sinh hiệu lực đối với bên ngay tình”. Điều luật này tạo ra một tình trạng pháp lý cho quan hệ của hai người kết hôn trái pháp luật mà học thuyết ở Pháp gọi là “mariage putatif” (như hôn nhân) khi người kết hôn ngay tình. Khi quan hệ của hai bên kết hôn trái pháp luật được thừa nhận “như hôn nhân” thì quyết định của Tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu không có hiệu lực hồi tố mà nó chỉ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân từ thời điểm bị tuyên bố vô hiệu; trước thời điểm này, hôn nhân vẫn phát sinh hiệu lực (các bên vẫn có các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng). Nói cách khác, trong trường hợp này, hậu quả pháp lý của hôn nhân vô hiệu giống như hậu quả của ly hôn.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Việt Nam về cơ bản giữ quan điểm chung về hủy việc kết hôn trái pháp luật khi quy định về quan hệ giữa hai người kết hôn. Khoản 3 Điều 12 Luật này quy định: “Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này”. Theo đó, các quan hệ về tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa hai bên kết hôn trái pháp luật được giải quyết như những trường hợp chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn. Các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của vợ chồng sẽ không được áp dụng cho quan hệ của hai người kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 tạo ra một ngoại lệ trong việc giải quyết quan hệ tài sản của các bên: “Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập” (khoản 2 Điều 16). Với quy định này, khi giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án cần đánh giá những diễn biến trong quan hệ của hai bên kết hôn cũng như tình hình của con (nếu có) và đóng góp thực tế của mỗi bên trong việc duy trì đời sống chung để thực hiện việc phân chia tài sản đảm bảo sự công bằng.

3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Pháp luật của Việt Nam quy định bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con cũng như của bên có đóng góp vào việc duy trì đời sống chung. Quy định này phù hợp với tình trạng ở Việt Nam trong bối cảnh còn chịu ảnh hưởng nhiều của tập quán khiến cho người phụ nữ thường là người phải đảm trách các công việc gia đình. Do đó, nó góp phần thúc đẩy bình đẳng giới thực chất. Tuy nhiên, quy định này không có nội dung rõ ràng nên trong thực tế dễ bị lạm dụng dẫn đến không đảm bảo công bằng khi giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật. Mặt khác, quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa đáp ứng được yêu cầu cần bảo vệ người bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn, trong đó nạn nhân có thể là nam giới. Về điều này, từ kinh nghiệm trong Bộ luật Dân sự Pháp, một giải pháp phù hợp cho việc hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam đó là, cần bổ sung quy định về bảo vệ người bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo hướng thừa nhận cho họ có quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đến thời điểm việc kết hôn bị hủy.

Tóm lại, pháp luật của Pháp và pháp luật của Việt Nam về hủy việc kết hôn trái pháp luật có nhiều điểm giống và khác nhau. Sự giống và khác nhau đó có nguyên nhân từ những yếu tố về lịch sử, văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội. Mặc dù vậy, việc nghiên cứu so sánh pháp luật của hai nước vẫn có thể gợi mở về giải pháp cho pháp luật của mỗi nước.

TS. Bùi Minh Hồng

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp cơ sở “Kết hôn và chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật một số nước”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023.

[2]. Xem: Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Gérard CORNU, Droit civil, La famille, 9e édition, Montchestien, 2006, pages 313 - 315;

Philippe MALAURIE et Laurent AYNÈS, Droit de la famille, 6e édition, LGDJ, Lextenso éditions, 2018, pages 172 - 175.

[4]. Điều 180 Bộ luật Dân sự Pháp.

[5]. Điều 182 Bộ luật Dân sự Pháp.

[6]. Điều 183 Bộ luật Dân sự Pháp.

[7]. Điều 181 Bộ luật Dân sự Pháp.

[8]. Đây là trường hợp người đã thành niên kết hôn trong tình trạng mất hoàn toàn năng lực nhận thức. Trong quyết định của Tòa phá án ngày 28/5/1980, đối với vụ việc trong đó người kết hôn 72 tuổi, 02 năm trước khi kết hôn, người này trong tình trạng bị bại não mà cần được chăm sóc như một đứa trẻ, Tòa án đã đưa ra quan điểm cần hủy việc kết hôn vì người kết hôn không có chút khả năng nhận thức nào. Trường hợp này cần coi là hôn nhân vô hiệu tuyệt đối.

[9]. Tuy nhiên, đối với trường hợp vi phạm quy định về đăng ký kết hôn, trên thực tế, án lệ chỉ coi sự vi phạm này là căn cứ để hủy việc kết hôn nếu nó thể hiện ý đồ gian dối của người kết hôn nhằm tạo ra một cuộc hôn nhân giả và thẩm phán có thẩm quyền đánh giá trong từng vụ việc cụ thể để xác định người kết hôn có ý định gian dối hay không.

Xem: Gérard CORNU, Droit civil, La famille, 9e édition, Montchestien, 2006, p. 314.

[10]. Tuy nhiên, có tác giả cho rằng, đối với trường hợp kết hôn khi đang có vợ, có chồng nhưng sau đó người vợ/chồng thứ nhất đã chết thì sự vô hiệu của hôn nhân phải biến mất, bởi vì nếu tuyên bố hôn nhân vô hiệu, sau đó hai vợ chồng có thể kết hôn lại ngay lập tức.

Xem: Philippe MALAURIE et Laurent AYNÈS, Droit de la famille, 6e édition, LGDJ, Lextenso éditions, 2018, p. 178.

[11]. Từ Điều 184 đến Điều 191 Bộ luật Dân sự Pháp.

[12]. Quy định này được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

[13]. Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.

[14]. Các trường hợp được quy định tại điểm a và điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[15]. Truyền thống lập pháp ở Việt Nam theo quan điểm không quy định về thời hiệu khởi kiện đối với các vụ, việc về hôn nhân và gia đình.

[16]. Philippe MALAURIE et Laurent AYNÈS, Droit de la famille, 6e édition, LGDJ, Lextenso éditions, 2018, page 179.

[17]. Xem: Điều 202 Bộ luật Dân sự Pháp và Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2104 của Việt Nam.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: