Thứ sáu 11/09/2026 17:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật của Việt Nam và Cộng hòa Pháp - Góc nhìn so sánh và đề xuất hoàn thiện pháp luật[1]

Hủy việc kết hôn trái pháp luật là một biện pháp chế tài của luật, được áp dụng để xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật, được quy định khá rõ trong pháp luật Việt Nam và Pháp. Việc nghiên cứu, so sánh pháp luật hai quốc gia sẽ cung cấp một số kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

1. Khái niệm kết hôn trái pháp luật

Khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”. So với quy định trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bổ sung cụm từ “tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền” nên việc kết hôn sẽ không thuộc khái niệm kết hôn trái pháp luật nếu việc kết hôn đó được đăng ký tại cơ quan không có thẩm quyền. Quy định kết hôn trái pháp luật nhằm phân định thẩm quyền giải quyết vi phạm quy định về kết hôn theo hướng nếu việc kết hôn chỉ vi phạm quy định về thẩm quyền đăng ký thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan đăng ký hộ tịch, những vi phạm khác về kết hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án[2]. Theo quy định, việc kết hôn trái pháp luật sẽ bị hủy khi có yêu cầu của chủ thể có quyền và theo quyết định của Tòa án.

Khác với Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam, Bộ luật Dân sự Pháp không đưa ra định nghĩa về kết hôn trái pháp luật mà chỉ quy định cụ thể về giải quyết yêu cầu hủy hôn nhân từ Điều 180 đến Điều 202. Do đó, có thể hiểu rằng, theo pháp luật Pháp, kết hôn trái pháp luật là việc kết hôn không tuân thủ các quy định về kết hôn, bao gồm quy định về điều kiện kết hôn và quy định về đăng ký kết hôn. Việc kết hôn sẽ bị hủy theo quyết định của Tòa án trên cơ sở yêu cầu của những chủ thể có quyền theo quy định của luật trong từng trường hợp.

2. Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật

2.1. So sánh pháp luật của Pháp và pháp luật của Việt Nam

Giống như pháp luật của các nước châu Âu, pháp luật của Pháp quy định về hủy hôn nhân trên cơ sở quy định chung về hủy hợp đồng nên có sự phân chia thành hai trường hợp: Hôn nhân vô hiệu tương đối và hôn nhân vô hiệu tuyệt đối. Tinh thần chung là, nếu có căn cứ về việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án cần phải tuyên bố hôn nhân vô hiệu. Tuy nhiên, với quan điểm “che chở cho hôn nhân”, pháp luật về gia đình của Pháp quy định về hủy hôn nhân theo hướng hẹp hơn so với quy định của luật chung về hủy hợp đồng. Theo đó, không phải tất cả các trường hợp kết hôn trái pháp luật đều dẫn đến việc hủy bỏ hôn nhân[3].

Hôn nhân sẽ vô hiệu tương đối trong hai trường hợp: (i) Người kết hôn bị cưỡng ép hoặc bị nhầm lẫn (không có sự tự nguyện); (ii) Người chưa thành niên được miễn điều kiện về tuổi kết hôn nhưng không có sự đồng ý của những người theo quy định của Bộ luật Dân sự. Đối với trường hợp (i), chỉ có bên bị cưỡng ép, bị nhầm lẫn hoặc Viện Công tố mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu[4]. Quy định Viện Công tố có quyền yêu cầu việc hủy việc kết hôn xuất phát từ yêu cầu đấu tranh chống lại hành vi cưỡng ép kết hôn. Đối với trường hợp (ii), người có quyền yêu cầu tuyên bố hôn nhân vô hiệu gồm: Những người mà theo quy định của Bộ luật Dân sự phải có sự đồng ý của họ (cha mẹ, ông, bà…) và vợ hoặc chồng mà khi kết hôn chưa đủ 18 tuổi[5]. Tuy nhiên, những người này không có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn nếu họ đã tán thành việc kết hôn một cách rõ ràng hay ngầm định hoặc trong thời hạn 05 năm, kể từ khi biết việc kết hôn mà người này không yêu cầu hủy việc kết hôn; vợ/chồng không còn quyền yêu cầu hủy hôn nhân nếu trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày người này đủ 18 tuổi mà người này không có yêu cầu hủy việc kết hôn[6].

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu hủy hôn nhân đã thay đổi kể từ Luật số 2008-561 ngày 17/6/2008. Đối với trường hợp hôn nhân vô hiệu tương đối, người bị cưỡng ép kết hôn hoặc có sự nhầm lẫn chỉ có thể yêu cầu hủy hôn nhân trong thời hạn 05 năm, kể từ khi kết hôn[7]. Đối với trường hợp kết hôn khi chưa đủ 18 tuổi, thời hiệu khởi kiện cũng là 05 năm như đã nêu ở đoạn trên.

Hôn nhân bị xác định vô hiệu tuyệt đối khi sự vi phạm có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm trật tự công. Đó là 05 trường hợp: (i) Kết hôn khi chưa đủ tuổi kết hôn mà không thuộc trường hợp được miễn tuổi (Điều 144, Điều 145); (ii) Người kết hôn mất hoàn toàn khả năng nhận thức (Điều 146)[8]; (iii) Việc kết hôn trái với nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng (Điều 147); (iv) Kết hôn giữa những người có quan hệ gần mà luật cấm kết hôn (các điều 161, 162, 163); (v) Vi phạm quy định về đăng ký kết hôn, gồm: Khi đăng ký kết hôn không có mặt của người kết hôn (Điều 146-1), không công bố dự định kết hôn trước khi cử hành hôn lễ, người cử hành hôn lễ không đúng thẩm quyền (Điều 191)[9].

Việc xử lý đối với các trường hợp hôn nhân vô hiệu tuyệt đối được quy định rất nghiêm khắc do quan điểm cần bảo vệ trật tự công. Điều 184 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Tất cả những cuộc hôn nhân được xác lập mà vi phạm quy định tại các điều 144, 146, 146-1, 147, 161, 162 và 163 đều có thể bị yêu cầu hủy trong thời hạn 30 năm kể từ khi cử hành hôn lễ theo yêu cầu của chính vợ chồng, người có lợi ích liên quan hoặc Viện công tố”. Theo đó, việc giải quyết các trường hợp hôn nhân vô hiệu tuyệt đối không thể có ngoại lệ, kể cả khi Tòa án giải quyết mà người kết hôn đã đủ tuổi kết hôn (trường hợp kết hôn khi chưa đủ tuổi) hoặc quan hệ hôn nhân thứ nhất đã chấm dứt (trường hợp kết hôn khi đang có vợ, có chồng)[10].

Phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu trong trường hợp này khá rộng, gồm: Vợ, chồng; vợ hoặc chồng của người kết hôn với người khác trong trường hợp kết hôn vi phạm nguyên tắc đơn hôn; những người có quyền và lợi ích liên quan và Viện Công tố[11]. Về thời hiệu, từ năm 2008, Điều 184 Bộ luật Dân sự quy định thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu là 30 năm kể từ ngày cử hành hôn lễ. Do tính chất nghiêm trọng của sự vi phạm nên luật của Pháp đã định ra một thời hiệu khởi kiện rất dài và như vậy, nguy cơ hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu luôn hiện hữu.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Việt Nam không có quy định về hôn nhân vô hiệu tương đối và tuyệt đối như pháp luật của Pháp nhưng cũng có những sự phân biệt trong việc giải quyết việc kết hôn trái pháp luật đối với những dạng vi phạm khác nhau. Điều 11 Luật này quy định: “Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó”[12]. Theo đó, việc kết hôn mặc dù là trái pháp luật nhưng nó chỉ bị hủy nếu ở một trong hai trường hợp: (i) Tại thời điểm Tòa án giải quyết, các bên kết hôn vẫn chưa đủ điều kiện kết hôn; (ii) Hai người kết hôn không yêu cầu công nhận hôn nhân của họ. Quy định của pháp luật Việt Nam về hủy việc kết hôn trái pháp luật tạo ra nhiều ngoại lệ, nhất là đối với trường hợp kết hôn khi chưa đủ tuổi kết hôn hoặc kết hôn khi đang có vợ, có chồng. Điều này thể hiện quan điểm linh hoạt, mềm dẻo của pháp luật Việt Nam mà đã được thực hiện từ trước, trong thực tiễn xét xử của các Tòa án[13]. Đây là quan điểm khác biệt so với pháp luật của Pháp. Tuy nhiên, đối với các trường hợp kết hôn giả tạo hoặc giữa những người có quan hệ gần mà Luật Hôn nhân và gia đình cấm kết hôn thì việc giải quyết không thể có ngoại lệ, việc kết hôn trái pháp luật trong các trường hợp này phải bị hủy[14].

Về chủ thể có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nhiều quy định giống như Bộ luật Dân sự Pháp trong việc phân biệt theo hai trường hợp. Đối với trường hợp kết hôn có sự cưỡng ép hoặc lừa dối kết hôn thì chỉ có người bị cưỡng ép, bị lừa dối mới có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn. Các chủ thể có quyền yêu cầu đối với trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn khác gồm: Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ (khoản 2 Điều 10). Tuy nhiên, khác với pháp luật Pháp, pháp luật Việt Nam không quy định về thời hiệu yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Các chủ thể nêu trên có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật vào bất cứ thời điểm nào[15].

2.2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Thứ nhất, quy định về xử lý việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Việt Nam thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt. Tuy nhiên, điều này dẫn đến khả năng người kết hôn không tuân thủ quy định về điều kiện kết hôn. Từ kinh nghiệm pháp luật của Pháp và trong điều kiện xã hội của Việt Nam, pháp luật Việt Nam cần sửa đổi theo hướng quy định chặt chẽ hơn về xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật. Luật Hôn nhân và gia đình chỉ nên quy định một ngoại lệ cho phép Tòa án công nhận hôn nhân trong trường hợp cưỡng ép hoặc lừa dối kết hôn với điều kiện hai bên sau khi kết hôn đã có quá trình chung sống bình thường như một quan hệ vợ chồng trong thời gian từ 06 tháng trở lên; trong trường hợp này chỉ cần một bên kết hôn đề nghị Tòa án công nhận hôn nhân.

Thứ hai, về thời hiệu yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, cũng như những quan hệ dân sự khác, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng cần quy định về thời hiệu yêu cầu trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình để tạo ra một sự ổn định cho quan hệ này. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của pháp luật Pháp đã được sửa đổi từ năm 2008. Cụ thể, đối với trường hợp bị cưỡng ép, lừa dối kết hôn thì thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết là 05 năm kể từ ngày kết hôn; đối với các trường hợp vi phạm các điều kiện kết hôn khác thì thời hiệu yêu cầu là 30 năm kể từ ngày kết hôn.

3. Hậu quả pháp lý khi hủy việc kết hôn trái pháp luật

3.1. So sánh pháp luật của Pháp và pháp luật của Việt Nam

Về nguyên tắc chung, pháp luật của Pháp và pháp luật của Việt Nam đều thừa nhận hủy việc kết hôn trái pháp luật có tính hồi tố, nghĩa là việc kết hôn không có giá trị pháp lý ngay từ khi nó được thực hiện (từ thời điểm kết hôn). Ở Pháp, theo quy định của luật chung, khi giao dịch dân sự bị tuyên bố vô hiệu, không phân biệt đó là vô hiệu tương đối hay vô hiệu tuyệt đối thì đều dẫn đến hậu quả là giao dịch không có giá trị ngay từ thời điểm xác lập, tức là tuyên bố vô hiệu có hiệu lực hồi tố. Theo đó, thông thường, khi hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu, các bên đã kết hôn bị coi là chưa bao giờ có tư cách vợ, chồng và giữa họ không có quyền, nghĩa vụ của vợ chồng; quan hệ của họ được xem xét như trường hợp hai người sống chung (concubins)[16]. Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập” (khoản 1 Điều 131). Theo bản chất pháp lý của chế tài hủy việc kết hôn trái pháp luật và kết hợp với quy định chung của Bộ luật Dân sự về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, cần hiểu quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật có hiệu lực hồi tố đến thời điểm kết hôn, nghĩa là ngay từ khi kết hôn trái pháp luật, quan hệ vợ chồng không phát sinh, các bên kết hôn không có quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng.

Về hậu quả pháp lý đối với con chung, pháp luật của hai nước thể hiện quan điểm giống nhau là bảo vệ quyền lợi của con không phân biệt quan hệ của cha, mẹ chúng là hợp pháp hay trái pháp luật[17]. Theo đó, khi tuyên bố hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án sẽ giải quyết những vấn đề về con chung như khi giải quyết ly hôn.

Tuy nhiên, về hậu quả pháp lý đối với quan hệ của hai người kết hôn, pháp luật của hai nước có một điểm khác biệt về bảo vệ người kết hôn ngay tình. Điều 201 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu vẫn phát sinh hiệu lực đối với vợ chồng nếu họ xác lập hôn nhân một cách ngay tình. Nếu chỉ một bên vợ hoặc chồng ngay tình thì hôn nhân chỉ phát sinh hiệu lực đối với bên ngay tình”. Điều luật này tạo ra một tình trạng pháp lý cho quan hệ của hai người kết hôn trái pháp luật mà học thuyết ở Pháp gọi là “mariage putatif” (như hôn nhân) khi người kết hôn ngay tình. Khi quan hệ của hai bên kết hôn trái pháp luật được thừa nhận “như hôn nhân” thì quyết định của Tòa án tuyên bố hôn nhân vô hiệu không có hiệu lực hồi tố mà nó chỉ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân từ thời điểm bị tuyên bố vô hiệu; trước thời điểm này, hôn nhân vẫn phát sinh hiệu lực (các bên vẫn có các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng). Nói cách khác, trong trường hợp này, hậu quả pháp lý của hôn nhân vô hiệu giống như hậu quả của ly hôn.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Việt Nam về cơ bản giữ quan điểm chung về hủy việc kết hôn trái pháp luật khi quy định về quan hệ giữa hai người kết hôn. Khoản 3 Điều 12 Luật này quy định: “Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này”. Theo đó, các quan hệ về tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa hai bên kết hôn trái pháp luật được giải quyết như những trường hợp chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn. Các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của vợ chồng sẽ không được áp dụng cho quan hệ của hai người kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 tạo ra một ngoại lệ trong việc giải quyết quan hệ tài sản của các bên: “Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập” (khoản 2 Điều 16). Với quy định này, khi giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án cần đánh giá những diễn biến trong quan hệ của hai bên kết hôn cũng như tình hình của con (nếu có) và đóng góp thực tế của mỗi bên trong việc duy trì đời sống chung để thực hiện việc phân chia tài sản đảm bảo sự công bằng.

3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Pháp luật của Việt Nam quy định bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con cũng như của bên có đóng góp vào việc duy trì đời sống chung. Quy định này phù hợp với tình trạng ở Việt Nam trong bối cảnh còn chịu ảnh hưởng nhiều của tập quán khiến cho người phụ nữ thường là người phải đảm trách các công việc gia đình. Do đó, nó góp phần thúc đẩy bình đẳng giới thực chất. Tuy nhiên, quy định này không có nội dung rõ ràng nên trong thực tế dễ bị lạm dụng dẫn đến không đảm bảo công bằng khi giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật. Mặt khác, quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa đáp ứng được yêu cầu cần bảo vệ người bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn, trong đó nạn nhân có thể là nam giới. Về điều này, từ kinh nghiệm trong Bộ luật Dân sự Pháp, một giải pháp phù hợp cho việc hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam đó là, cần bổ sung quy định về bảo vệ người bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo hướng thừa nhận cho họ có quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đến thời điểm việc kết hôn bị hủy.

Tóm lại, pháp luật của Pháp và pháp luật của Việt Nam về hủy việc kết hôn trái pháp luật có nhiều điểm giống và khác nhau. Sự giống và khác nhau đó có nguyên nhân từ những yếu tố về lịch sử, văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội. Mặc dù vậy, việc nghiên cứu so sánh pháp luật của hai nước vẫn có thể gợi mở về giải pháp cho pháp luật của mỗi nước.

TS. Bùi Minh Hồng

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp cơ sở “Kết hôn và chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật một số nước”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023.

[2]. Xem: Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Gérard CORNU, Droit civil, La famille, 9e édition, Montchestien, 2006, pages 313 - 315;

Philippe MALAURIE et Laurent AYNÈS, Droit de la famille, 6e édition, LGDJ, Lextenso éditions, 2018, pages 172 - 175.

[4]. Điều 180 Bộ luật Dân sự Pháp.

[5]. Điều 182 Bộ luật Dân sự Pháp.

[6]. Điều 183 Bộ luật Dân sự Pháp.

[7]. Điều 181 Bộ luật Dân sự Pháp.

[8]. Đây là trường hợp người đã thành niên kết hôn trong tình trạng mất hoàn toàn năng lực nhận thức. Trong quyết định của Tòa phá án ngày 28/5/1980, đối với vụ việc trong đó người kết hôn 72 tuổi, 02 năm trước khi kết hôn, người này trong tình trạng bị bại não mà cần được chăm sóc như một đứa trẻ, Tòa án đã đưa ra quan điểm cần hủy việc kết hôn vì người kết hôn không có chút khả năng nhận thức nào. Trường hợp này cần coi là hôn nhân vô hiệu tuyệt đối.

[9]. Tuy nhiên, đối với trường hợp vi phạm quy định về đăng ký kết hôn, trên thực tế, án lệ chỉ coi sự vi phạm này là căn cứ để hủy việc kết hôn nếu nó thể hiện ý đồ gian dối của người kết hôn nhằm tạo ra một cuộc hôn nhân giả và thẩm phán có thẩm quyền đánh giá trong từng vụ việc cụ thể để xác định người kết hôn có ý định gian dối hay không.

Xem: Gérard CORNU, Droit civil, La famille, 9e édition, Montchestien, 2006, p. 314.

[10]. Tuy nhiên, có tác giả cho rằng, đối với trường hợp kết hôn khi đang có vợ, có chồng nhưng sau đó người vợ/chồng thứ nhất đã chết thì sự vô hiệu của hôn nhân phải biến mất, bởi vì nếu tuyên bố hôn nhân vô hiệu, sau đó hai vợ chồng có thể kết hôn lại ngay lập tức.

Xem: Philippe MALAURIE et Laurent AYNÈS, Droit de la famille, 6e édition, LGDJ, Lextenso éditions, 2018, p. 178.

[11]. Từ Điều 184 đến Điều 191 Bộ luật Dân sự Pháp.

[12]. Quy định này được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

[13]. Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.

[14]. Các trường hợp được quy định tại điểm a và điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[15]. Truyền thống lập pháp ở Việt Nam theo quan điểm không quy định về thời hiệu khởi kiện đối với các vụ, việc về hôn nhân và gia đình.

[16]. Philippe MALAURIE et Laurent AYNÈS, Droit de la famille, 6e édition, LGDJ, Lextenso éditions, 2018, page 179.

[17]. Xem: Điều 202 Bộ luật Dân sự Pháp và Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2104 của Việt Nam.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: