Thứ bảy 14/03/2026 11:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành thi hành án dân sự

Bài viết phân tích quy định về chức danh, mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành thi hành án dân sự.

Trong những năm qua, Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo Bộ Tư pháp, lãnh đạo Tổng cục Thi hành án dân sự luôn quan tâm xây dựng, hoàn thiện thể chế về tổ chức, hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự (THADS), trong đó có công tác tổ chức cán bộ. Mặc dù, cơ sở pháp lý về nội dung này đã được ban hành cơ bản đầy đủ, đồng bộ nhưng vẫn cần thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới cho phù hợp chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn. Xuất phát từ yêu cầu trên, Tổng cục đã phối hợp với đơn vị chuyên môn của Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan xây dựng, trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 02/2024/TT-BTP ngày 03/4/2024 quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành THADS (Thông tư số 02/2024/TT-BTP) thay thế Thông tư số 03/2017/TT-BTP ngày 05/4/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành THADS, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 08/2020/TT-BTP ngày 18/12/2020 và Thông tư số 06/2021/TT-BTP ngày 14/10/2021 (Thông tư số 03/2017/TT-BTP).

1. Nhận diện một số vướng mắc, bất cập trong quá trình thực thi Thông tư số 03/2017/TT-BTP

Thứ nhất, Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 101/2020/NĐ-CP ngày 28/8/2020) và Nghị định số 138/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức (Nghị định số 138/2020/NĐ-CP) giao Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền: “Quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch công chức thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Nội vụ”. Theo đó, ngày 05/4/2017, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2017/TT-BTP. Tuy nhiên, một trong những nội dung quan trọng của Thông tư này là tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng chưa thực sự phù hợp với quy định của Chính phủ về tiêu chuẩn chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng, cụ thể:

- Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức (Nghị định số 101/2017/NĐ-CP) quy định: Các bộ, ngành xây dựng chương trình, tổ chức bồi dưỡng, cấp chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho công chức chuyên ngành mà bộ, ngành đó được giao quản lý như công chức chuyên ngành thuế, hải quan, thống kê, THADS… Nội dung chương trình cơ bản gồm 02 phần chính: Kiến thức, kỹ năng chung về quản lý nhà nước (như các ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp) và nghiệp vụ chuyên ngành theo vị trí việc làm (thẩm tra viên, thư ký thi hành án…). Chứng chỉ này là điều kiện bổ nhiệm công chức chuyên ngành. Thông tư số 03/2017/TT-BTP quy định các chứng chỉ này gồm: Chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ THADS, chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch chấp hành viên trung cấp, chứng chỉ nghiệp vụ chấp hành viên cao cấp, chứng chỉ nghiệp vụ thẩm tra viên THADS, chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ thẩm tra viên chính… là điều kiện bổ nhiệm ngạch tương ứng.

- Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 101/2017/NĐ-CP (Nghị định số 89/2021/NĐ-CP) quy định:

(i) Bãi bỏ quy định về thẩm quyền của các các bộ, ngành trong việc ban hành chương trình, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, cấp chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho công chức chuyên ngành do bộ, ngành đó quản lý. Thay vào đó đã quy định: Bộ Nội vụ là cơ quan duy nhất có trách nhiệm xây dựng, ban hành và quản lý Chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch công chức từ chuyên viên và tương đương đến chuyên viên cao cấp và tương đương. Các bộ, ngành ban hành chương trình, tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ theo yêu cầu vị trí việc làm cho công chức chuyên ngành.

(ii) Công chức tất cả các chuyên ngành đều phải được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước theo chương trình trên từ khi Nghị định này có hiệu lực trước khi bổ nhiệm ngạch, ví dụ: Chấp hành viên sơ cấp, thẩm tra viên, thư ký thi hành án phải học chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên. Thẩm tra viên chính, chấp hành viên trung cấp phải học chương trình bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính…

Thực hiện quy định trên, các bộ, ngành cần sửa đổi các tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng trong tiêu chuẩn ngạch công chức của bộ, ngành mình. Đối với Bộ Tư pháp là tiêu chuẩn bổ nhiệm các ngạch chấp hành viên (sơ cấp, trung cấp, cao cấp), thẩm tra viên (thẩm tra viên, chính, cao cấp), thư ký thi hành án.

(iii) Quy định chuyển tiếp về việc bổ nhiệm ngạch, sử dụng chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng theo hướng: Cán bộ, công chức, viên chức có chứng chỉ hoàn thành các chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước (chuyên ngành hành chính hoặc chuyên ngành khác) hoặc đã được bổ nhiệm vào chức vụ, ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức trước ngày 30/6/2022 thì không phải tham gia các chương trình bồi dưỡng tương ứng theo quy định của Nghị định này (chứng chỉ nêu tại mục (i)).

Trường hợp vị trí việc làm chuyên biệt (theo nghề) thì công chức trước khi được bổ nhiệm vào ngạch phải có chứng chỉ đào tạo nghề (trừ trường hợp đặc biệt). Đối với hệ thống tổ chức THADS là các ngạch chấp hành viên phải có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ THADS.

Căn cứ Nghị định số 89/2021/NĐ-CP, Bộ Nội vụ đã ban hành Chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước đối với công chức các ngạch từ chuyên viên đến chuyên viên cao cấp; ban hành Thông tư số 06/2022/TT-BNV ngày 28/6/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2021/TT-BNV ngày 11/6/2021 quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và công chức chuyên ngành văn thư. Đây là quy định chung, làm cơ sở để các bộ, ngành ban hành quy định tiêu chuẩn công chức chuyên ngành (mới) bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, cụ thể: Đối với ngạch chuyên viên cao cấp, bỏ quy định về bằng cử nhân chính trị do đây là bằng cấp đào tạo trình độ đại học được cấp cho mọi người học, không tương đương với trình độ cao cấp lý luận chính trị. Trong hợp cần thiết, người có bằng này phải thực hiện thủ tục hoặc học chuyển đổi để được cấp bằng tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị hoặc giấy xác nhận trình độ lý luận chính trị tương đương cao cấp lý luận chính trị. Đối với ngạch chuyên viên chính và chuyên viên, không còn được sử dụng bằng thạc sỹ quản lý hành chính công, tiến sỹ quản lý hành chính công thay cho chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước ngạch tương đương…

Bộ Tư pháp đã ban hành các chương trình đào tạo nghiệp vụ THADS; các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo yêu cầu vị trí việc làm các ngạch: Chấp hành viên trung cấp, cao cấp; thẩm tra viên, thẩm tra viên chính, thẩm tra viên cao cấp; thư ký thi hành án áp dụng cho công chức chuyên ngành THADS.

Thứ hai, thực hiện quy định của pháp luật về phân cấp quản lý công chức, viên chức, thời gian qua, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2017/TT-BTP. Việc ban hành và tổ chức thực hiện Thông tư này bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về cán bộ, công chức, phù hợp với điều kiện, tình hình thực tiễn trong từng giai đoạn; góp phần chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức chuyên ngành THADS.

Đến nay, bên cạnh những quy định vẫn còn phù hợp thì Thông tư số 03/2017/TT-BTP cũng đã bộc lộ một số tồn tại, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung như: Vị trí việc làm công tác pháp luật chưa được xác định đầy đủ, khó lượng hóa được trong một số trường hợp; chỉ quy định người làm công tác pháp luật mà chưa xác định loại văn bản hay giấy tờ gì để chứng minh, xác định người đó đã làm công tác pháp luật như: Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03/02/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng đã quy định rõ về người làm công tác pháp luật, giấy tờ chứng minh; một số quy định về nhiệm vụ, năng lực công chức chuyên ngành THADS còn có sự chồng chéo, chưa rõ, ví dụ: Nhiệm vụ, quyền hạn, năng lực của các ngạch thẩm tra viên.

Thứ ba, các nội dung đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ của Thông tư số 03/2017/TT-BTP hiện đang được quy định ở một số văn bản khác nhau, dẫn đến khó tiếp cận, khó tra cứu (Thông tư số 08/2020/TT-BTP và Thông tư số 06/2021/TT-BTP).

Do đó, ngày 03/4/2024, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 02/2024/TT-BTP thay thế Thông tư số 03/2017/TT-BTP.

2. Những điểm mới cơ bản của Thông tư số 02/2024/TT-BTP

Thứ nhất, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng: Bổ sung quy định theo đó loại trừ đối tượng áp dụng là các trường hợp đặc biệt được bổ nhiệm ngạch chấp hành viên sơ cấp, chấp hành viên trung cấp, chấp hành viên cao cấp không qua thi tuyển thì áp dụng theo quy định tại khoản 6, khoản 7 Điều 18 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Thứ hai, thời gian làm công tác pháp luật và giấy tờ xác nhận thời gian làm công tác pháp luật áp dụng trong hệ thống tổ chức THADS.

- Về xác định thời gian làm công tác xây dựng pháp luật: (i) Quy định rõ thời gian có trình độ cử nhân luật trở lên giữ ngạch chuyên viên và tương đương trở lên gắn với vị trí việc làm có yêu cầu trình độ cử nhân luật trở lên trong một số cơ quan trong hệ thống chính trị, mà không quy định chung chung là trực tiếp thực hiện công tác xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật như Thông tư số 03/2017/TT-BTP. (ii) Bổ sung thời gian có trình độ cử nhân luật trở lên thuộc trường hợp được tính là tương đương thời gian giữ ngạch theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 30 Nghị định số 138/2020/NĐ-CP. (iii) Bổ sung quy định thời gian hành nghề luật sư, công chứng viên, đấu giá viên, quản tài viên, thừa phát lại.

- Bổ sung quy định về tài liệu, giấy tờ xác định thời gian làm công tác pháp luật là: (i) Quyết định bổ nhiệm ngạch, chức danh, văn bản có nội dung thay đổi ngạch, chức danh (nếu có) đối với người thuộc điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư số 02/2024/TT-BTP. (ii) Bằng cử nhân luật trở lên; quyết định bổ nhiệm ngạch công chức, bổ nhiệm chức danh viên chức, văn bản có nội dung thay đổi ngạch, chức danh (nếu có) hoặc hợp đồng làm việc đối với viên chức kèm bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm được cấp có thẩm quyền phê duyệt phù hợp với vị trí việc làm đã đảm nhiệm, quyết định xếp lương theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 30 Nghị định số 138/2020/NĐ-CP đối với người thuộc điểm b khoản 1 Điều 2 Thông tư số 02/2024/TT-BTP. (iii) Bằng cử nhân luật trở lên; quyết định phê chuẩn chức vụ, chức danh, văn bản có nội dung thay đổi chức vụ, chức danh (nếu có) đối với người thuộc điểm c khoản 1 Điều 2 Thông tư số 02/2024/TT-BTP. (iv) Bằng cử nhân luật trở lên; quyết định cấp Thẻ luật sư, chứng chỉ hành nghề đấu giá viên, chứng chỉ hành nghề quản tài viên, quyết định bổ nhiệm thừa phát lại, quyết định bổ nhiệm công chứng viên, kèm theo giấy tờ chứng minh thời gian đóng bảo hiểm xã hội phù hợp với các chức danh tại điểm d khoản 1 Điều 2 Thông tư số 02/2024/TT-BTP.

Thứ ba, giải thích quy định việc người có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản.

Thứ tư, quy định rõ hơn về tài liệu xác định chủ trì hoặc tham gia xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật, đề tài, đề án, dự án, chương trình nghiên cứu khoa học, sáng kiến.

Thứ năm, đối với ngạch công chức thẩm tra viên cao cấp, thẩm tra viên chính và thẩm tra viên, thêm chữ “thi hành án”.

Thứ sáu, quy định về nhiệm vụ của các ngạch công chức chuyên ngành rõ ràng, cụ thể hơn.

Thứ bảy, về chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng:

- Sửa đổi quy định: Có Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước và nghiệp vụ THADS theo nội dung, chương trình của Bộ Tư pháp; Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước và nghiệp vụ THADS chính; Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước và nghiệp vụ THADS cao cấp tại khoản 4 của các điều từ Điều 5 đến Điều 11 Thông tư số 03/2017/TT-BTP thành: Có Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên và tương đương; Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính và tương đương; Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương tương ứng với mỗi ngạch chuyên ngành THADS tại khoản 4 của các điều từ Điều 5 đến Điều 11 Thông tư số 02/2024/TT-BTP[1].

- Bổ sung chứng chỉ: Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm đối với chấp hành viên cao cấp theo nội dung chương trình của Bộ Tư pháp; Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm đối với chấp hành viên trung cấp theo nội dung chương trình của Bộ Tư pháp; Chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ THADS; Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm đối với thẩm tra viên cao cấp thi hành án theo nội dung chương trình của Bộ Tư pháp; Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm đối với thẩm tra viên chính thi hành án theo nội dung chương trình của Bộ Tư pháp; Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm đối với thẩm tra viên thi hành án theo nội dung chương trình của Bộ Tư pháp; Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm đối với thư ký THADS theo nội dung chương trình của Bộ Tư pháp tại khoản 4 của các điều từ Điều 5 đến Điều 11 Thông tư số 02/2024/TT-BTP.

- Đối với ngạch chấp hành viên cao cấp và thẩm tra viên cao cấp: Bỏ quy định về bằng cử nhân chính trị.

- Đối với ngạch thư ký trung cấp: (i) Sửa đổi quy định: Có bằng tốt nghiệp trung học luật trở lên thành có trình độ trung cấp luật trở lên. (ii) Bỏ quy định có Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước và nghiệp vụ THADS theo nội dung, chương trình của Bộ Tư pháp.

Thứ tám, đối với công chức dự thi nâng ngạch chấp hành viên cao cấp và thẩm tra viên cao cấp không còn áp dụng việc triển khai thực hiện đạt hiệu quả ít nhất 02 sáng kiến trong phạm vi Tổng cục hoặc hệ thống tổ chức THADS.

Thứ chín, sửa đổi quy định: Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng của chấp hành viên, thẩm tra viên thuộc Bộ Quốc phòng được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trên cơ sở bảo đảm không thấp hơn các tiêu chuẩn của các ngạch công chức tương ứng quy định tại Thông tư số 03/2017/TT-BTP thành: Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng của chấp hành viên, thẩm tra viên thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Thứ mười, điều khoản chuyển tiếp:

- Trường hợp công chức có chứng chỉ hoàn thành các chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức chuyên ngành THADS trước ngày 30/6/2022 thì không phải tham gia các chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước; chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm của ngạch công chức tương đương tương ứng theo quy định tại Thông tư số 02/2024/TT-BTP.

- Trường hợp công chức đã được bổ nhiệm vào ngạch công chức chuyên ngành THADS trước ngày Thông tư số 02/2024/TT-BTP có hiệu lực (kể cả trường hợp do yêu cầu vị trí công tác phải chuyển ngạch công chức tương đương nay bố trí lại ngạch cũ) thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định số 89/2021/NĐ-CP.

Như vậy, việc ban hành Thông tư số 02/2024/TT-BTP giúp bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về cán bộ, công chức, phù hợp với điều kiện, tình hình thực tiễn trong từng giai đoạn; góp phần chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức chuyên ngành THADS./.

Điêu Quỳnh Anh

Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục Thi hành án dân sự

[1]. Ví dụ: Có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước đối với công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương hoặc có bằng cao cấp lý luận chính trị - hành chính đối với ngạch chấp hành viên cao cấp, thẩm tra viên cao cấp thi hành án; có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước đối với công chức ngạch chuyên viên hoặc tương đương đối với ngạch chấp hành viên sơ cấp, thẩm tra viên sơ cấp thi hành án, thư ký thi hành án.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 409), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: