Thứ tư 23/09/2026 14:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật. Trên cơ sở phân tích những tồn tại và hạn chế, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện nội dung quy định pháp luật về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật. Trên cơ sở phân tích những tồn tại và hạn chế, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện nội dung quy định pháp luật về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật trong thời gian tiếp theo.

Abstract: The article analyzes Vietnamese provisions on handling objects under vegetable quarantine. Bases on the analysis of insufficiencies and limitations, the author raises some proposals for completing contents of legal provisions on handling objects under vegetable quarantine in the next time.

Xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật là một nội dung quan trọng trong pháp luật về kiểm dịch thực vật của các nước. Các quy phạm pháp luật về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật nhằm ngăn cản sự xuất hiện, lây lan của các sinh vật gây hại là đối tượng của kiểm dịch thực vật thông qua việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật - pháp lý khác nhau ngăn chặn hoặc tiêu diệt chúng. Các quy định về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật của pháp luật Việt Nam hiện nay được ghi nhận trong Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Việc ban hành phù hợp và thực hiện hiệu quả các quy định này không chỉ góp phần bảo vệ thực vật, ngành trồng trọt trong nước mà còn thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nông sản. Do vậy, cần có những phân tích và đánh giá nghiêm túc đối với quy định pháp luật về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật.

1. Quy định pháp luật về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật

Theo khoản 15 Điều 3 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013, xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật là việc áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn hoặc diệt trừ triệt để đối tượng kiểm dịch thực vật, đối tượng phải kiểm soát và sinh vật gây hại lạ. Cũng tại Điều 3 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, đối tượng kiểm dịch thực vật được định nghĩa là sinh vật gây hại có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng đối với thực vật, chưa có hoặc có nhưng phân bố hẹp ở Việt Nam và phải được kiểm soát nghiêm ngặt; đối tượng phải kiểm soát là sinh vật gây hại không phải là đối tượng kiểm dịch thực vật nhưng sự có mặt của chúng trên vật liệu dùng để làm giống có nguy cơ gây thiệt hại lớn về kinh tế, phải được kiểm soát ở Việt Nam; và sinh vật gây hại là sinh vật gây hại chưa xác định được tên khoa học và chưa từng được phát hiện ở Việt Nam. Như vậy, xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật là việc áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn hoặc diệt trừ triệt để sinh vật gây hại - là các sinh vật gây ra thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp đối với thực vật bao gồm vi sinh vật gây bệnh, côn trùng gây hại, cỏ dại và các sinh vật có hại khác (khoản 6 Điều 3 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013).

1.1. Những trường hợp xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật

Khoản 1 Điều 34 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 xác định, trong các trường hợp sau, vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật phải được xử lý:

Những vật thể bị nhiễm đối tượng kiểm dịch thực vật của Việt Nam, đối tượng phải kiểm soát hoặc sinh vật gây hại lạ, vật thể có nguy cơ cao mang theo đối tượng kiểm dịch thực vật của Việt Nam. Trường hợp này, vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật phải được tiến hành xử lý để nhằm loại trừ các sinh vật gây hại được vật thể đó mang theo hoặc có thể mang theo, tránh những hậu quả mà chúng có thể gây ra đối với thực vật trong nước.

Những vật thể phải xử lý để đáp ứng quy định kiểm dịch thực vật của nước nhập khẩu. Việc nước nhập khẩu vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật yêu cầu tiến hành xử lý vật thể là phòng ngừa sinh vật gây hại thông qua hàng hóa là thực vật, sản phẩm thực vật nhập khẩu. Yêu cầu này của nước nhập khẩu xảy ra khi vật thể thuộc diện kiểm dịch đến từ vùng, lãnh thổ là nơi phân bố tự nhiên sinh vật gây hại là đối tượng của kiểm dịch thực vật của nước nhập khẩu hoặc là nơi đang có dịch hại thực vật nguy hiểm.

Các vật thể vô chủ, không rõ nguồn gốc cũng phải được tiến hành xử lý. Các vật thể thuộc diện này thường sẽ có nguy cơ cao mang theo sinh vật gây hại. Việc xử lý chúng nhằm phòng ngừa việc xâm nhập hoặc lan truyền các sinh vật gây hại đó thành dịch hại thực vật.

1.2. Các biện pháp xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật

Các biện pháp xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật bao gồm: Xông hơi khử trùng, xử lý nhiệt, xử lý hơi nước nóng, chiếu xạ, tái xuất, tiêu hủy, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu và các biện pháp khác (khoản 2 Điều 34 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013).

Các biện pháp xử lý này nếu căn cứ vào mục đích thực hiện có thể được chia làm hai loại. Loại đầu tiên là các biện pháp xử lý nhằm ngăn chặn đối tượng kiểm dịch thực vật, sinh vật phải kiểm soát, sinh vật gây hại lạ. Các biện pháp này bao gồm tái xuất, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu. Loại thứ hai là các biện pháp xử lý nhằm tiêu diệt triệt để đối tượng kiểm dịch thực vật, sinh vật phải kiểm soát, sinh vật gây hại lạ, chúng bao gồm xông hơi khử trùng, xử lý nhiệt, xử lý hơi nước nóng, chiếu xạ, tiêu hủy. Việc tiêu diệt triệt để đối tượng kiểm dịch thực vật, sinh vật phải kiểm soát, sinh vật gây hại lạ ở đây sử dụng các tác nhân hóa học, vật lý mà không sử dụng tác nhân sinh học. Dù việc sử dụng tác nhân sinh học đảm bảo an toàn về mặt sinh học nhưng cần nhiều thời gian (là yếu tố khó thỏa mãn trong hoạt động thương mại).

1.3. Cơ quan có thẩm quyền quyết định xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật

Theo khoản 3 Điều 34 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013, Điều 12 Nghị định số 116/2014/NĐ-CP ngày 04/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, cơ quan có thẩm quyền quyết định xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật bao gồm: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Cục Bảo vệ thực vật. Theo đó, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra quyết định tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu đối với vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật. Các trường hợp còn lại thuộc về thẩm quyền của Cục Bảo vệ thực vật.

1.4. Trình tự, thủ tục xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật

Trình tự, thủ tục xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật bằng biện pháp tạm ngừng hoặc cấm xuất khẩu, nhập khẩu vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật được quy định gồm các bước: Bước 1, Cục Bảo vệ thực vật xác định cụ thể loại vật thể và nguyên nhân phải tạm ngừng hoặc cấm xuất khẩu, nhập khẩu và báo cáo với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bước 2, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn căn cứ vào báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật để xem xét và ra quyết định; Bước 3, Quyết định tạm ngừng hoặc cấm xuất khẩu, nhập khẩu trong thời hạn 24 giờ phải được công bố chính thức trên các phương tiện thông tin đại chúng và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về kiểm dịch thực vật của quốc gia, vùng lãnh thổ xuất khẩu.

Trình tự, thủ tục xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật bằng các biện pháp còn lại được tiến hành như sau: Trước hết, Cục Bảo vệ thực vật quyết định biện pháp xử lý và chỉ định tổ chức hành nghề xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật để xử lý; Sau đó, tổ chức hành nghề xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật ký hợp đồng xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật với chủ vật thể phải xử lý; Tổ chức hành nghề xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật thực hiện hợp đồng dưới sự giám sát của Cục Bảo vệ thực vật. Riêng với vật thể vô chủ, không rõ nguồn gốc thì Cục Bảo vệ thực vật quyết định biện pháp xử lý và tổ chức xử lý.

1.5. Chi phí xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật.

Đối với các trường hợp xử lý vật thể bị nhiễm đối tượng kiểm dịch của Việt Nam, đối tượng phải kiểm soát hoặc sinh vật gây hại lạ, vật thể có nguy cơ cao mang theo đối tượng kiểm dịch của Việt Nam, vật thể phải xử lý để đáp ứng quy định kiểm dịch thực vật của nước nhập khẩu thì chi phí xử lý do chủ vật thể chi trả. Đối với các trường hợp khác thì chi phí xử lý do ngân sách nhà nước đảm bảo.

2. Những tồn tại, hạn chế

Các quy định pháp luật về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật hiện nay là tương đối đầy đủ. Chủ thể thực hiện các biện pháp này đã được phân định cụ thể: Biện pháp ban hành quyết định tạm ngừng, cấm xuất khẩu, nhập khẩu vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; biện pháp ban hành quyết định tái xuất thuộc thẩm quyền của Cục Bảo vệ thực vật; những biện pháp khác sẽ do tổ chức hành nghề xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật tiến hành khi có quyết định của cơ quan kiểm dịch thực vật có thẩm quyền và thông qua một hợp đồng giữa tổ chức hành nghề xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật và chủ hàng. Tuy nhiên, các quy định pháp luật này vẫn còn những tồn tại và hạn chế nhất định.

Các quy phạm pháp luật về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật được quy định chi tiết tại Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành mới chỉ áp dụng cho các vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh mà không áp dụng cho kiểm dịch thực vật nội địa. Với mục đích bảo vệ thực vật (được trồng trọt và hoang dã) trong nước, việc ngăn chặn và tiêu diệt các sinh vật gây hại do vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật nội địa mang theo là hoàn toàn cần thiết.

Quy chuẩn quốc gia về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật chưa thực sự đầy đủ và phù hợp với pháp luật cũng như thông lệ quốc tế. Chúng ta đã ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về xông hơi khử trùng, chiếu xạ nhưng chưa có các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về xử lý nhiệt, xử lý hơi nước nóng. Những tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành được xây dựng trên cơ sở tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của các nước phát triển, mà chưa có những tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được xây dựng trên những nghiên cứu cụ thể cho nông sản của Việt Nam.

Đối với các quy định liên quan đến hoạt động xử lý vật thể của tổ chức hành nghề xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật, chúng ta vẫn chưa xác định rõ ràng về nội dung cơ bản của hợp đồng xử lý vật thể được giao kết giữa tổ chức xử lý và chủ hàng, cũng như trách nhiệm của tổ chức xử lý khi họ thực hiện không đúng hợp đồng, và/hoặc gây thiệt hại cho chủ hàng. Bởi vì các biện pháp xử lý này là nhằm tiêu diệt triệt để đối tượng kiểm dịch thực vật nhưng không gây ảnh hưởng tới chất lượng và giá trị thương mại của vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật.

Chúng ta cũng chưa có quy định về tổ chức hành nghề xử lý vật thể nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.Việc xuất hiện và hoạt động của các tổ chức này ở Việt Nam sẽ đáp ứng nhu cầu tiến hành xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật phục vụ hoạt động xuất khẩu nông sản khi điều kiện về cơ sở vật chất, trình độ khoa học công nghệ, năng lực của chuyên gia, kỹ thuật viên trong nước còn chưa đáp ứng được các yêu cầu kiểm dịch thực vật nhập khẩu của nhiều nước nhập khẩu.

3. Những giải pháp hoàn thiện

Nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật trong thời gian tới, tác giả xin đề xuất các giải pháp sau:

Thứ nhất, bổ sung các quy định về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật nội địa. Xác định các trường hợp vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật phải xử lý là: Vật thể bị nhiễm đối tượng kiểm dịch thực vật của Việt Nam, đối tượng phải kiểm soát hoặc sinh vật gây hại lạ; vật thể xuất phát từ vùng đang có dịch hại thực vật; vật thể vô chủ, không rõ nguồn gốc. Cơ quan quyết định xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật nội địa sẽ là cơ quan kiểm dịch thực vật nội địa - Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật. Các biện pháp xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật nội địa chỉ thuộc nhóm biện pháp nhằm tiêu diệt triệt để sinh vật gây hại, bao gồm xông hơi khử trùng, xử lý nhiệt, xử lý hơi nước nóng, chiếu xạ, tiêu hủy. Về trình tự, thủ tục xử lý, cơ quan kiểm dịch thực vật nội địa ra quyết định xử lý và ấn định biện pháp xử lý; sau đó chủ hàng có trách nhiệm ký hợp đồng xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật với tổ chức hành nghề xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch; tổ chức hành nghề xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch tiến hành xử lý vật thể theo quyết định của cơ quan kiểm dịch và nội dung của hợp đồng (riêng đối với vật thể vô chủ, không rõ nguồn gốc, cơ quan kiểm dịch thực vật nội địa quyết định biện pháp xử lý và tổ chức xử lý).

Thứ hai, tiếp tục xây dựng và sửa đổi quy chuẩn quốc gia về các biện pháp xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật theo hướng phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế (sự thích hợp, có căn cứ khoa học), áp dụng các công nghệ hiện đại, nhất là đối với trường hợp xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật để phục vụ cho xuất khẩu nông sản.

Thứ ba, cần có những quy định chi tiết hơn đối với các trường hợp xử lý vật thể do tổ chức xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật thực hiện. Xây dựng các nội dung cơ bản của hợp đồng xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật. Bổ sung nghĩa vụ cụ thể của các bên trong quan hệ, gồm nghĩa vụ của tổ chức xử lý và nghĩa vụ của chủ hàng. Theo đó, tổ chức xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật có các nghĩa vụ: Thực hiện đúng biện pháp xử lý theo quyết định của cơ quan kiểm dịch thực vật nội địa và hợp đồng; tiến hành xử lý vật thể theo đúng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định cho biện pháp xử lý tương ứng; tiến hành xử lý vật thể đúng thời gian, địa điểm theo quyết định của cơ quan kiểm dịch thực vật nội địa và hợp đồng; bồi thường thiệt hại cho chủ hàng khi gây thiệt hại. Còn chủ hàng có những nghĩa vụ: Đưa vật thể phải xử lý đến đúng địa điểm, thời gian xử lý; trả chi phí xử lý vật thể. Cuối cùng, xác định phương pháp tính chi phí xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật, trong đó có những chi phí để tiêu diệt đối tượng kiểm dịch thực vật của Việt Nam, đối tượng phải kiểm soát hoặc sinh vật gây hại lạ và chi phí là thù lao cho tổ chức xử lý.

Thứ tư, xây dựng khung pháp lý cho các tổ chức xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Khung pháp lý này bao gồm: Mô hình tổ chức, điều kiện hành nghề, giới hạn hành nghề, tiêu chuẩn của kỹ thuật viên xử lý vật thể, các quy định về công nhận điều kiện hành nghề của tổ chức và tiêu chuẩn kỹ thuật viên xử lý vật thể của nước ngoài tại Việt Nam.

Có thể thấy rằng, các quy định pháp luật về xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật hiện nay đã tương đối đầy đủ nhưng vẫn chưa thực sự hoàn thiện. Chúng vẫn cần những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, tương thích với thông lệ quốc tế và các cam kết quốc tế mà chúng ta là thành viên. Đó sẽ một trong những yếu tố góp phần phát triển kinh tế, cải thiện điều kiện sống của người dân và bảo vệ môi trường đất nước trong thời gian tới.

ThS. Trần Thị Vân Trà

Khoa Luật, Đại học Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: