Thứ hai 11/05/2026 21:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền bình đẳng trong việc làm, nghề nghiệp của người chuyển giới ở Việt Nam

Là con người, ai trong chúng ta cũng mong muốn được sống trong môi trường công bằng, bình đẳng; được trở thành một công dân thực thụ và được xã hội thừa nhận. Những người chuyển giới cũng vậy, họ đều khát khao được cống hiến, được tham gia vào các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau để thể hiện năng lực, phẩm chất của bản thân mình. Được sống với chính mình và nhận được sự tôn trọng của người khác chính là khát khao của những người chuyển giới. Trong bài viết này, tác giả Nguyễn Quỳnh Trang đã đi sâu phân tích các vấn đề chính như: Khái quát về quyền bình đẳng trong việc làm, nghề nghiệp của người chuyển giới; thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền bình đẳng trong việc làm, nghề nghiệp của người chuyển giới. Thông qua phản ánh tthực trạng pháp luật, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm bảo đảm quyền bình đẳng trong việc làm, nghề nghiệp của người chuyển giới.


1. Khái quát về quyền bình đẳng trong việc làm, nghề nghiệp của người chuyển giới

Quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử là một quyền cơ bản của con người. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong một xã hội công bằng nói chung, đặc biệt quan trọng trong vấn đề việc làm, nghề nghiệp giúp người lao động có thể tự do lựa chọn công việc, phát triển hết tiềm năng của mình và được hưởng thành quả chính đáng dựa trên công sức đã bỏ ra.

Quyền bình đẳng về cơ hội và đối xử trong việc làm, nghề nghiệp cho phép tất cả các cá nhân phát triển đầy đủ tài năng và kỹ năng theo nguyện vọng và sở thích của họ, được hưởng quyền tiếp cận với việc làm cũng như các điều kiện làm việc bình đẳng như nhau mà không bị phân biệt đối xử. Để bảo đảm mục tiêu không phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, nếu chỉ loại bỏ các hành động có tính phân biệt đối xử thì không đủ. Cần phải thúc đẩy bình đẳng về cơ hội và đối xử tại nơi làm việc ở mọi giai đoạn của quan hệ lao động, bao gồm tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, đào tạo bồi dưỡng, phát triển kỹ năng và chấm dứt việc làm.

Có rất nhiều tiêu chuẩn lao động quốc tế liên quan tới phân biệt đối xử, trong đó phải kể đến Công ước số 111 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Theo Công ước này, phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp dẫn tới hậu quả là một số cá nhân bị đặt ở vị trí phụ thuộc hoặc kém thuận lợi trên thị trường lao động hoặc ở nơi làm việc vì lý do chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính, quan điểm chính trị, dòng dõi dân tộc, nguồn gốc xã hội hay bất cứ lý do nào không liên quan tới công việc[1]. Phân biệt đối xử có thể diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp. Phân biệt đối xử trực tiếp xảy ra khi có sự phân biệt, loại trừ hoặc ưu đãi rõ ràng dựa trên một hoặc nhiều nguyên nhân. Ví dụ, quảng cáo tuyển dụng chỉ “dành cho nam giới” sẽ bị coi là phân biệt đối xử trực tiếp. Phân biệt đối xử gián tiếp là những tình huống, biện pháp hoặc hành động có vẻ trung lập nhưng thực tế lại tác động tiêu cực đến những người thuộc một nhóm nhất định. Về bản chất, phân biệt đối xử gián tiếp rất khó nhận biết do tính chất ẩn giấu của nó, vì thế, giải quyết loại này là nhiệm vụ khó khăn nhất.

Kế thừa và tiếp thu những quan điểm tiến bộ của pháp luật quốc tế và một số nước trên thế giới, Việt Nam đã có quy định về quyền bình đẳng việc làm trong pháp luật lao động. Cụ thể, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm (khoản 2 Điều 9); phân biệt đối xử trong lao động là hành vi phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên dựa trên chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hoặc nguồn gốc xã hội, dân tộc, giới tính, độ tuổi, tình trạng thai sản, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, tín ngưỡng, chính kiến, khuyết tật, trách nhiệm gia đình hoặc trên cơ sở tình trạng nhiễm HIV hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có tác động làm ảnh hưởng đến bình đẳng về cơ hội việc làm hoặc nghề nghiệp (khoản 7 Điều 3).

Chuyển giới là một khái niệm rộng bao gồm các bản dạng giới đa dạng và các hình thức thể hiện giới khác nhau. Định nghĩa và mức độ phổ biến của các khái niệm này không giống nhau trong khu vực, tùy thuộc vào mỗi quốc gia và nền văn hóa cũng như trong chính cộng đồng người chuyển giới. Hiện nay, thuật ngữ chuyển giới được sử dụng phổ biến để mô tả những người mà bản dạng giới của họ khác với giới tính khi sinh ra.

Ở Việt Nam, pháp luật chưa có quy định về người chuyển giới, đây không phải là đối tượng trực tiếp được đề cập đến trong các bộ luật cơ bản. Tuy nhiên, một số quyền của người chuyển giới đã được gián tiếp ghi nhận trong Mục 2 Chương III Bộ luật Dân sự năm 2015 về Quyền nhân thân. Cụ thể, khoản 1 Điều 28 cho phép cá nhân người có tên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên khi việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó; thay đổi tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giới tính. Điều 36 cho phép cá nhân có quyền xác định lại giới tính, Điều 37 quy định cá nhân chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch, có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi.

Toàn cầu hóa thị trường có nghĩa là các công ty có lực lượng lao động đa dạng về giới tính, xu hướng tính dục, chủng tộc, dân tộc, tôn giáo, tuổi tác, khuyết tật, tình trạng HIV/AIDS... sẽ có điều kiện tốt hơn để dự đoán về những kỳ vọng và nhu cầu của khách hàng. Các thực tiễn không phân biệt đối xử ngày càng được công nhận là một công cụ quản lý quan trọng để tăng hiệu quả và năng suất. Trên hết, đối xử công bằng với người lao động là quyền con người cơ bản mà mọi tổ chức đều nên tôn trọng. Các chính sách của công ty cần công nhận và coi trọng những hoàn cảnh khác nhau của người lao động đồng thời tìm cách thu hút, giữ chân người lao động có năng lực và coi bình đẳng về cơ hội là trọng tâm của hoạt động quản lý nguồn nhân lực, chứ không phải giới tính hay đời sống cá nhân của họ.

Bản thân người chuyển giới không khác biệt so với người bình thường, nhưng cách xã hội nhìn nhận và đối xử với họ khiến họ trở nên khác biệt. Hành trình tìm kiếm cội nguồn giới tính đã chông gai, chấp nhận sống thật với nó càng khó khăn hơn. Do vậy, về tâm sinh lý, người chuyển giới luôn có một nỗi e ngại, phòng thủ nhất định, có thể cố gắng sôi nổi bên ngoài nhưng không hoàn toàn cởi mở, luôn cảm thấy bất an. Sự thật là người chuyển giới phải hàng ngày đối mặt với định kiến xã hội, sự ghẻ lạnh của gia đình, sự né tránh của các nhà tuyển dụng dù có bằng cấp hay khả năng. Xuất phát từ thực tế trên, việc đấu tranh bảo đảm quyền bình đẳng của người chuyển giới là cần thiết, đặc biệt trong đời sống nói chung và trong việc làm, nghề nghiệp nói riêng.

Có thể thấy, các tiêu chuẩn lao động quốc tế trên thực tế không đề cập cụ thể tới vấn đề người lao động chuyển giới. Tuy nhiên, có thể sử dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử nói chung để từ đó nhìn nhận phân biệt đối xử tại nơi làm việc gồm bất cứ sự phân biệt, loại trừ hay ưu đãi nào… có tác động triệt bỏ hoặc làm phương hại tới sự bình đẳng về cơ hội và đối xử trong việc làm và nghề nghiệp[2]. Phân biệt đối xử xảy ra khi một người bị đối xử kém thuận lợi hơn những người khác vì các đặc điểm không liên quan đến năng lực của người đó hoặc các yêu cầu vốn có của công việc. Tổ chức chỉ nên quy định trình độ, kỹ năng và kinh nghiệm là cơ sở duy nhất để tuyển dụng, sắp xếp công việc, đào tạo và cân nhắc thăng tiến cho nhân viên ở mọi cấp độ và cần khuyến khích các đối tác của mình cũng làm như vậy.

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu về phân biệt đối xử với người chuyển giới thường nhấn mạnh tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của phân biệt đối xử trong việc làm. Việc người chuyển giới không thể tìm việc hoặc bị phân biệt đối xử ở nơi làm việc do thể hiện hay bản dạng giới của mình sẽ có thể tác động lớn đến mọi mặt cuộc sống của họ. Người lao động nam và nữ có thể bị phân biệt đối xử nếu mọi người biết rằng hoặc cho rằng họ là đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính hoặc chuyển giới và họ có thể bị đe dọa bằng lời nói, tâm lý và thể chất hoặc bạo lực từ phía người sử dụng lao động, cấp trên trực tiếp hoặc người lao động khác.

Ở châu Á, Báo cáo về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) của UNDP và USAID chỉ ra rằng, những nơi làm việc thường yêu cầu phải có quốc tịch hoặc các giấy tờ nhân thân khi tuyển dụng lao động. Điều này có thể là một rào cản không thể vượt qua được đối với người chuyển giới, khi họ không có giấy tờ nhân thân phù hợp với hình dáng bên ngoài của mình, thậm chí ở cả những quốc gia cho phép thay đổi giới tính trên giấy tờ. Nhiều người bắt buộc phải tiết lộ bản dạng giới của mình bởi vì các bằng cấp không được cập nhật theo tên gọi và giới tính mới[3]. Sự không thống nhất này làm gia tăng nguy cơ phân biệt đối xử và có thể là cái cớ để từ chối tuyển người chuyển giới vào làm việc.

Người chuyển giới nữ đặc biệt dễ bị tổn thương bởi sự phân biệt đối xử vì sự thể hiện rõ ràng của mình. Nhiều người thất nghiệp hoặc không có việc làm ổn định, bị giới hạn trong một số công việc không được đánh giá cao hoặc bị kỳ thị trong xã hội theo nghiên cứu tại Thái Lan và Việt Nam[4]. Còn khi trưởng thành, người chuyển giới nam thường sống như những người đàn ông bình thường khác và tránh tiết lộ bản dạng giới của mình với bất kỳ ai. Do không có sự thừa nhận về mặt pháp lý, hầu hết họ phải che giấu khi xin việc làm hoặc khi đi công tác[5]. Điều này rất nguy hiểm đối với người chuyển giới nam làm việc trong những ngành nghề mà lao động nam chiếm đa số.

2. Thực trạng pháp luật về quyền bình đẳng trong việc làm, nghề nghiệp của người chuyển giới ở Việt Nam

Việc thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là một bước tiến đáng chú ý của Bộ luật này. Nếu như trước đây Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ cho phép cá nhân được quyền yêu cầu xác định lại giới tính của mình khi có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa định hình chính xác và Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05/8/2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính tại khoản 1 Điều 4 ghi rõ “Cấm” hành vi chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính, thể hiện quan điểm không chấp nhận trường hợp chuyển đổi giới tính theo mong muốn của chủ thể. So với các quy định cũ, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thể hiện tinh thần nhân văn, nhân đạo, truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, đồng thời đảm bảo quyền con người, quyền nhân thân cho cộng đồng dễ bị tổn thương.

Bộ luật Lao động năm 2019 cũng chính thức có định nghĩa về hành vi phân biệt đối xử trong lao động, trong đó có yếu tố giới tính. Đây là điểm mới so với Bộ luật Lao động năm 2012 khi hành vi phân biệt đối xử trong lao động chỉ được quy định rải rác tại một số điều khoản với tư cách là một trong những hành vi bị nghiêm cấm mà chưa có một định nghĩa cụ thể. Đặc biệt, về hành vi quấy rối tình dục, Bộ Quy tắc ứng xử về quấy rối tình dục tại nơi làm việc đã quy định: Tất cả người lao động, không phân biệt giới tính, tuổi tác, vị trí, hình thức ký hợp đồng lao động hay tình trạng công việc, đều có quyền và trách nhiệm đảm bảo nơi làm việc không có quấy rối tình dục, ngăn cản và báo cáo mọi hành vi không được chấp nhận theo quy định của pháp luật và quy định cụ thể về quấy rối tình dục của doanh nghiệp[6]. Đây cũng là một trong những hành vi bị nghiêm cấm và là căn cứ để người lao động thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần báo trước.

Có thể nói, quá trình xây dựng dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính của Việt Nam phù hợp với luật pháp và các tiêu chuẩn quốc tế để đảm bảo rằng người chuyển giới là thành viên bình đẳng trong xã hội và được pháp luật bảo vệ tránh khỏi các hành vi bạo lực và phân biệt đối xử vì biểu hiện hay bản dạng giới của họ. Một mặt, sự ra đời của dự thảo Luật là một bước tiến quan trọng để đảm bảo các quyền của người chuyển giới, cũng như thúc đẩy sự tiến bộ của một số lĩnh vực khác. Mặt khác, cam kết của Chính phủ, Bộ Y tế là một nỗ lực lớn nhằm hiện thực hóa Bộ luật Dân sự năm 2015 khi tổ chức các cuộc hội thảo và tham vấn từ cộng đồng người chuyển giới.

Thực tế hiện nay xã hội đã cởi mở hơn đối với cộng đồng LGBT nói chung, người chuyển giới nói riêng. Đó là nhờ vai trò tích cực của truyền thông đại chúng trong thay đổi nhận thức của mọi người, có cái nhìn thiện cảm hơn với người chuyển giới. Các sản phẩm truyền thông đa phương tiện đã và đang là một công cụ hiệu quả trong việc nâng cao nhận thức về các vấn đề LGBT tại Việt Nam, bằng chứng là sự xuất hiện của các chương trình nghệ thuật, phim ảnh, kịch nghệ thuật và biểu diễn về đề tài LGBT trong những năm gần đây. Những cá nhân chuyển giới có sự nghiệp thành công chính là ví dụ điển hình cho việc ai cũng bình đẳng trong việc làm, nghề nghiệp miễn là họ có tài năng, không phụ thuộc vào bản dạng giới hay biểu hiện giới của họ.

Mặc dù đã có tín hiệu cởi mở hơn từ Bộ luật Dân sự năm 2015, nhưng đó mới chỉ là những quy định mang tính nguyên tắc chung, vẫn cần chính thức thông qua dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính để có những hướng dẫn cụ thể, rõ ràng hơn cho người chuyển giới trong các vấn đề quyền nhân thân, y tế, lao động…

Trong những năm gần đây, sự hiện diện của người chuyển giới ở Việt Nam ngày càng rõ rệt. Theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế, môi trường (ISEE), có 53% người chuyển giới nữ và 60% người chuyển giới nam bị các nhà tuyển dụng từ chối nhận vào làm việc trong khi đáp ứng đủ các điều kiện về năng lực. Ngay cả khi được nhận vào làm việc, thì có tới 69% người chuyển giới nữ và 66% người chuyển giới nam thường bị kỳ thị, xa lánh ở nơi công sở[7].

Nguyên nhân là do một số nhà tuyển dụng vẫn có cái nhìn tiêu cực về người chuyển giới. Vì vậy, lao động là người chuyển giới không thể cởi mở về cuộc sống riêng của mình nếu không muốn bị mất việc làm. Áp lực tâm lý phải giấu kín xu hướng tính dục và bản dạng giới, những lo lắng về công kích cá nhân làm giảm đi phần nào năng suất lao động của họ. Những người đủ can đảm để thể hiện con người thật của mình tại nơi làm việc trở thành nạn nhân của các hình thức bạo lực, kỳ thị khác nhau, nhiều người thậm chí phải bỏ việc sau một thời gian dài chịu đựng. Trong khi pháp luật lao động hiện hành chưa có điều khoản nào quy định về việc chống lại phân biệt, kỳ thị dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới và bảo vệ người chuyển giới.

Hiện nay, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về LGBT, chúng ta vẫn thiếu những nghiên cứu chuyên sâu về môi trường lao động, cơ hội việc làm, nghề nghiệp dành cho cộng đồng LGBT nói chung và người chuyển giới nói riêng. Vì vậy, vẫn chưa có đủ nguồn thông tin đáng tin cậy để tiến hành xây dựng những chính sách cụ thể về vấn đề này. Mặc dù, một số ngành nghề như thiết kế, thời trang, nghệ thuật, biểu diễn và giải trí… được xem là những lĩnh vực cởi mở và thân thiện dành cho người LGBT nhưng môi trường lao động nhìn chung vẫn còn rất khắc nghiệt với họ.

Một số người cho rằng, việc nhiều người lao động LGBT giấu kín về mình còn làm tăng thêm định kiến và sự phân biệt đối xử, vì họ từ chối tham gia và thờ ơ với phong trào đấu tranh vì quyền lợi của chính cộng đồng của mình. Hơn nữa, các tổ chức xã hội về LGBT vẫn chưa có phương pháp tiếp cận và hợp tác với các Trung tâm dạy nghề để thúc đẩy việc dạy và học nghề, cũng như phát triển các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của người LGBT[8].

3. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm quyền bình đẳng trong việc làm, nghề nghiệp của người chuyển giới

Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên, hướng tới bảo đảm quyền bình đẳng trong việc làm, nghề nghiệp đối với người chuyển giới ở Việt Nam, có thể tham khảo áp dụng một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy việc thừa nhận giới tính pháp lý, bảo đảm người chuyển giới được thừa nhận giới tính pháp lý theo như bản dạng giới tự nhận của họ. Việc thay đổi giới tính pháp lý không nên có quy định bắt buộc phải trải qua quá trình phẫu thuật chuyển đổi giới tính mà chỉ nên yêu cầu có sự xác nhận đã trải qua quá trình kiểm tra tâm lý, đã sống với giới tính mong muốn và sử dụng hormone đủ thời gian quy định[9]. Việc có phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay không tùy thuộc vào mong muốn và điều kiện của mỗi cá nhân, bởi không phải ai cũng có kinh tế và sức khỏe để tiến hành phẫu thuật.

Cần sớm thông qua Luật Chuyển đổi giới tính, bởi quy định tại Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 là chưa đủ rõ ràng, đặc biệt là hoàn thiện hơn nữa các nội dung liên quan đến quyền bình đẳng về việc làm, nghề nghiệp của người chuyển giới trong pháp luật lao động theo hướng bảo vệ quyền của người chuyển giới, bảo vệ và thực thi quyền bình đẳng trong việc làm, nghề nghiệp.

Thứ hai, bảo đảm người chuyển giới tham gia rộng rãi hơn vào các nghiên cứu, chính sách liên quan/ảnh hưởng đến họ. Cộng đồng người chuyển giới cần phải có các cuộc họp thường xuyên với các nhà làm luật, với nhóm nhà hoạch định chính sách và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bày tỏ những khó khăn họ đang gặp phải. Các chiến dịch thu thập ý kiến từ cộng đồng và xã hội cũng cần được tổ chức khi công tác đối thoại gặp phải khó khăn.

Trong công việc, người chuyển giới cùng với những người lao động khác có thể là “đồng minh” trong việc chống phân biệt đối xử, nêu lên chính kiến để bảo vệ bản thân. Điều này cần sự thấu hiểu và hành động mạnh mẽ từ phía người sử dụng lao động, lãnh đạo tổ chức, cơ quan nên cân nhắc thành lập các cơ chế song phương với sự tham gia của người lao động thông qua tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, phòng nhân sự…

Thứ ba, người sử dụng lao động cần có ý thức xây dựng nội quy quy định các tiêu chí rõ ràng về không phân biệt đối xử và cơ hội việc làm bình đẳng cho mọi đối tượng người lao động, đặc biệt là người chuyển giới; tiến hành đào tạo ở mọi cấp trong tổ chức, nhất là những người chịu trách nhiệm tuyển dụng, tuyển chọn, các cán bộ giám sát và quản lý, để giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích mọi người cùng hành động chống phân biệt, đối xử đối với lao động là người chuyển giới; điều tra, giải quyết khiếu nại, xử lý khiếu kiện và có cơ chế để người lao động sử dụng khi xảy ra hành vi phân biệt, đối xử.

Thứ tư, tăng cường hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ, tổ chức xã hội. Nhu cầu lập ra các trung tâm tư vấn pháp luật cho người LGBT nói chung, người chuyển giới nói riêng để giúp họ hiểu được các vấn đề pháp lý trong cuộc sống hàng ngày là vô cùng cần thiết. Các tổ chức đại diện cho cộng đồng LGBT cần được thành lập hợp pháp để dễ dàng và kịp thời bảo vệ những người trong cộng đồng này. Xây dựng mô hình trung tâm dạy nghề cho những người LGBT, đặc biệt là cho người chuyển giới, người vô gia cư và những người sống ở khu vực khó khăn để giúp họ có việc làm ổn định. Các tổ chức hỗ trợ có thể cung cấp, trợ giúp kỹ thuật và nguồn nhân lực để hiện thực hóa điều này.

ThS. Nguyễn Quỳnh Trang
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh



[1]. ILO (2016), Tuyên bố năm 1998 và 8 Công ước cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động, Nxb. Lao động, Hà Nội.

[2]. Xem Công ước về Phân biệt đối xử (trong Việc làm và Nghề nghiệp), 1958 (Số 111) , Điều 1(1).

[3]. UNDP, USAID (2014a). Being LGBT in Asia: The Cambodia Country report. Bangkok.

[4]. UNDP, USAID (2014g). Being LGBT in Asia: The Thailand Country report. Bangkok;

UNDP, USAID (2014h). Being LGBT in Asia: The Viet Nam Country report. Bangkok.

[5]. Health Policy Project, Asia Pacific Transgender Network, UNDP (2015) Blueprint for the Provision of Comprehensive Care for Trans People and Trans Communities. Washington, DC: Futures Group, Health Policy Project.

[6]. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2015), Bộ Quy tắc ứng xử về quấy rối tình dục tại nơi làm việc, Hà Nội.

[7]. Lương Thế Huy, Phạm Quỳnh Phương (2016), Có phải bởi vì tôi là LGBT? Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.

[8]. UNDP, USAID (2014), Báo cáo quốc gia LGBT Việt Nam - Là LGBT ở Châu Á, Bangkok.

[9]. ThS. Văn Thị Hồng Nhung (2020), Bàn về quyền chuyển đổi giới tính dưới góc độ quyền nhân thân của cá nhân, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: