Thứ ba 25/08/2026 19:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền con người, quyền công dân theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và một số kiến nghị

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ những quy định về bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ quyền con người, quyền công dân.


1. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ quyền con người, quyền công dân

1.1. Quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

Trong tố tụng hình sự, người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo [1]. Quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quy định trực tiếp tại khoản 1 Điều 58, khoản 2 Điều 59, khoản 2 Điều 60, khoản 2 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được coi là những quyền tố tụng cụ thể của người bị buộc tội. Bên cạnh đó, từ góc độ bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự thì trong hệ thống pháp luật quốc gia có quy định mang tính nguyên tắc, là cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và mọi cá nhân tôn trọng và tổ chức thực hiện. Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm cho các quyền của người bị buộc tội được thực hiện tốt trên thực tế, để những quyền đó thực sự là công cụ, phương tiện hữu hiệu bảo vệ lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. Quyền của người bị buộc tội được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sẽ tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đối với người bị buộc tội, các quyền đó là:

- Quyền suy đoán vô tội: Quyền suy đoán vô tội lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều này không chỉ khẳng định đây là một quyền hiến định đối với các hoạt động tố tụng hình sự, mà còn thể hiện sự hoàn thiện của hoạt động lập hiến đối với việc thiết lập những chế định bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự. Nội dung của nguyên tắc này được quy định tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 và Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đây cũng là một trong những quyền đặc biệt quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Quyền suy đoán vô tội đòi hỏi cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải thực hiện trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định để xác định sự thật vụ án một cách khách quan. Trường hợp không đủ căn cứ để buộc tội hoặc không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có tội và phải trả tự do cho họ, đồng thời phải ra quyết định đình chỉ điều tra (trong giai đoạn điều tra), đình chỉ vụ án (trong giai đoạn truy tố hoặc xét xử) hoặc tuyên bố bị cáo vô tội (tại phiên tòa xét xử). Mọi nghi ngờ về tính xác thực của những chứng cứ dùng để chứng minh sự thật vụ án, nếu không thể làm sáng tỏ mặc dù cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, thì phải được giải thích và áp dụng pháp luật theo hướng có lợi cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo [2]. Như vậy, nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng phải bảo đảm quyền suy đoán vô tội được thực thi trên thực tế.

- Quyền bào chữa: Quyền bào chữa của người bị buộc tội được quy định tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013, Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Về phạm vi chủ thể được thực hiện quyền bào chữa không phải chỉ mình bị cáo như các bản Hiến pháp trước mà đã được mở rộng cho hầu hết các chủ thể, đó là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo và quyền bào chữa không phải chỉ được thực hiện ở hoạt động xét xử như trước, mà được thực hiện ngay từ thời điểm người bị tình nghi bị bắt cho đến khi khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; đồng thời mở rộng cả phạm vi chủ thể bào chữa, bao gồm luật sư hoặc người khác có khả năng bào chữa.

Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo có quyền tự mình hoặc nhờ người khác trình bày quan điểm của mình đối với việc buộc tội, đưa ra các chứng cứ cần thiết để chứng minh cho tội trạng của mình, đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét các tình tiết minh oan hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình theo quy định của pháp luật. Quyền bào chữa của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo bao gồm “quyền tự bào chữa” và “quyền nhờ người khác bào chữa”, hai quyền này có thể song song cùng tồn tại mà không bị loại trừ lẫn nhau.

- Quyền được tranh tụng trong xét xử vụ án hình sự: Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm được ghi nhận tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, trên cơ sở đó, được cụ thể hóa thành những quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đây cũng là lần đầu tiên nguyên tắc tranh tụng được ghi nhận ở tầm hiến định, là một nguyên tắc chi phối trực tiếp đến việc bảo đảm các quyền của bị can, bị cáo. Tranh tụng vừa là một quyền của người bị buộc tội, vừa là một nguyên tắc tố tụng mà các chủ thể tiến hành tố tụng có trách nhiệm phải thực hiện. Về bản chất, tranh tụng là một hoạt động tố tụng được thực hiện xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong đó hoạt động xét xử là trọng tâm. Để thực hiện được hoạt động tranh tụng theo đúng bản chất của nó, đòi hỏi phải có sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội, những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc giải quyết vụ án trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Sự bình đẳng trước Tòa án vừa là yếu tố để bảo vệ quyền con người, vừa đồng thời là phương thức, thủ tục để bảo vệ pháp quyền; quyền bình đẳng trước Tòa án cũng nhằm bảo đảm sự bình đẳng về quyền lực. Khi đó, các quyền năng tố tụng sẽ được dành cho tất cả các bên, trừ khi có sự phân biệt được quy định bởi pháp luật và có thể giải thích một cách hợp lý, khách quan và không dẫn đến sự bất lợi cho một bên tham gia tố tụng. Tòa án phải đảm bảo chức năng xét xử như một vị trọng tài đứng giữa đưa ra quyết định phán xét tính hợp pháp của vụ án trên cơ sở tranh tụng của chức năng buộc tội và chức năng gỡ tội. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động xét xử của Tòa án vẫn nghiêng về hoạt động thẩm vấn, mức độ tranh tụng chỉ ở giới hạn nhất định, đây cũng là hạn chế của mô hình tố tụng Việt Nam hiện nay, dẫn đến các quyền của người bị buộc tội chưa thật sự được bảo đảm.

- Quyền được xét xử kịp thời, công bằng, công khai: Quyền được xét xử kịp thời, công bằng, công khai được quy định tại khoản 2 Điều 31 Hiến pháp năm 2013, Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tòa án có trách nhiệm phải đưa người bị buộc tội ra xét xử đúng thời hạn luật định. Bởi lẽ, về nguyên tắc, Tòa án là cơ quan cuối cùng, cơ quan duy nhất có quyền đưa ra phán quyết về việc người bị buộc tội có tội hay không có tội. Do đó, việc đưa người bị buộc tội ra xét xử trong thời hạn luật định là vô cùng quan trọng đối với việc bảo đảm các lợi ích hợp pháp của họ, nhất là đối với những trường hợp bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam thì xét xử đúng thời hạn luật định sẽ trực tiếp liên quan đến việc không kéo dài thời hạn tạm giam một cách vô lý, vì khi chưa có phán quyết chính thức của Tòa án về tội danh của người bị buộc tội, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế làm hạn chế quyền tự do cá nhân của họ phải là biện pháp cuối cùng và duy nhất. Do đó, quyền được xét xử kịp thời trong thời hạn luật định được coi là một quyền hiến định của người bị buộc tội, cũng chính là thể hiện sự quan tâm, bảo vệ đối với quyền con người của người bị buộc tội của Nhà nước. Bên cạnh đó, xét xử công bằng cũng là một quyền cơ bản, trực tiếp tác động đến lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. Theo đó, Tòa án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp có trách nhiệm phải thực hiện quyền xét xử công bằng của người bị buộc tội. Quyền được xét xử công bằng vừa là một quyền độc lập, vừa là một quyền có quan hệ mật thiết, liên quan đến một số quyền khác của người bị buộc tội. Như vậy, để thực hiện quyền được xét xử công bằng, người bị buộc tội phải được đảm bảo thực hiện tốt một số quyền khác như quyền được bào chữa, quyền được tranh tụng, quyền được yêu cầu, quyền được suy đoán vô tội.

1.2. Bị hại và quyền của bị hại trong tố tụng hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định bị hại theo hướng mở rộng hơn đối tượng bao gồm cá nhân và pháp nhân (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định chỉ có cá nhân). Phạm vi của đối tượng được hưởng quyền của bị hại không chỉ giới hạn là những bị hại trực tiếp của tội phạm mà còn được mở rộng ra cả đối tượng khác như: “Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định tại Điều này. Trường hợp cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều này” (khoản 5 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Bị hại có quyền được thực hiện các biện pháp hợp pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Như vậy, trên cơ sở phân tích các quy định về quyền tố tụng của người bị hại có thể nhận thấy, so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có rất nhiều quy định mới để bảo vệ tốt hơn quyền của bị hại trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, so với người bị buộc tội, quyền của người bị hại chủ yếu liên quan đến giai đoạn xét xử, hơn nữa, xét về quyền, trong giai đoạn điều tra, người bị hại được bảo đảm ở mức độ thấp hơn so với người bị buộc tội để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự. Chẳng hạn như bị can có quyền được nhận bản kết luận điều tra, trong khi đó bị hại chỉ được thông báo về kết quả điều tra. Thêm vào đó, khả năng nhận được tiền bồi thường thiệt hại mà Tòa án đã tuyên trong bản án, quyết định đối với bị hại trên thực tế là không cao vì nhiều lý do nên thường kéo dài về thời gian.

2. Một số kiến nghị

Pháp luật tố tụng hình sự có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự đã phát sinh nhiều hạn chế, thiếu sót gây khó khăn, vướng mắc cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. Một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bộc lộ những điểm hạn chế cần được nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung, cụ thể:

Thứ nhất, Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”. Điều luật này chỉ quy định mọi hoạt động tố tụng hình sự của các chủ thể nêu trên phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng, nếu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng có những hành vi vi phạm pháp luật thì chưa được đề cập trong nguyên tắc này. Vì vậy, Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên bổ sung thêm như sau: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định. Mọi trường hợp vi phạm pháp luật trong quá trình tố tụng sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật”.

Thứ hai, Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự: Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội. Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm. Điểm a khoản 1 Điều 4 Bộ luật này quy định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, mà theo điểm c khoản 1 Điều 34 thì Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, theo nội dung của Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì Tòa án có nghĩa vụ chứng minh tội phạm và quy định của Điều 18 và khoản 4 Điều 153 nêu trên thì Tòa án (Hội đồng xét xử) có trách nhiệm khởi tố vụ án khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm. Hai quy định này của Bộ luật Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đều dẫn đến tình trạng “Tòa án vừa đá bóng vừa thổi còi”. Việc Tòa án phải chứng minh tội phạm, khởi tố vụ án sẽ khiến cho Tòa án trở thành chủ thể thực hiện hoạt động buộc tội, tức là Tòa án thực hiện chức năng buộc tội, vốn thuộc về Viện kiểm sát. Điều này mâu thuẫn với chức năng xét xử vì Tòa án luôn thể hiện vai trò trọng tài, tính trung lập, phán quyết của Tòa án trong nguyên tắc tranh tụng (Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Như vậy, để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử thì Tòa án phải độc lập với các bên buộc tội và gỡ tội nên cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu, sửa đổi Điều 15, Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng Tòa án không có nghĩa vụ phải thực hiện những hoạt động này. Theo đó, Điều 15 nên được sửa đổi theo hướng Tòa án không có nghĩa vụ phải chứng minh tội phạm. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra, Viện kiểm sát. Điều 18 nên sửa đổi theo hướng xóa bỏ trách nhiệm khởi tố vụ án của Tòa án, đồng thời, xóa bỏ khoản 4 Điều 153 nêu trên về thẩm quyền khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử.

Thứ ba, theo Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bào chữa cho người bị kết án 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; người có nhược điểm về thể chất, tâm thần hoặc người dưới 18 tuổi. Quy định này mang tính tùy nghi, chưa xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan này thường “đùn đẩy” trách nhiệm cho cơ quan tiếp theo nên hầu hết bị can, bị cáo trong các trường hợp này đều bị “tước mất” quyền bào chữa ở các giai đoạn tố tụng. Do vậy, cần phải quy định cụ thể từng cơ quan trong từng giai đoạn giải quyết vụ án của mình phải có trách nhiệm thực hiện việc chỉ định người bào chữa. Do đó, các cơ quan có thẩm quyền nên nghiên cứu, chỉnh sửa Điều 76 như sau:

“Điều 76. Chỉ định người bào chữa

1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong từng giai đoạn tố tụng thuộc thẩm quyền giải quyết của mình phải chỉ định người bào chữa cho họ...

2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong từng giai đoạn tố tụng thuộc thẩm quyền giải quyết của mình phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này...”.

Thứ tư, để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử và phân định rõ chức năng buộc tội của Viện kiểm sát với chức năng gỡ tội của Tòa án, khi xét xử, Viện kiểm sát trình bày bản cáo trạng và đặt các câu hỏi đối với bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; trong quá trình xét hỏi, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác cũng có quyền hỏi; bị cáo có thể đặt câu hỏi đối với những người tham gia tố tụng khác; thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ điều khiển việc xét hỏi, chỉ đặt câu hỏi đối với kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác khi thật cần thiết, chấp nhận hoặc bác bỏ những câu hỏi hoặc yêu cầu người bị hỏi không phải trả lời vì câu hỏi và câu trả lời có thể làm lộ bí mật nhà nước hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến thuần phong mỹ tục.

ThS. Lê Ngọc Duy

Đại học Kiểm sát Hà Nội

[1]. Điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 .

[2]. Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr.21.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: