Thứ tư 23/09/2026 15:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền hưởng an sinh xã hội theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Trên cơ sở đề cập đến các vấn đề liên quan đến quyền hưởng an sinh xã hội, thực tiễn thực hiện pháp luật về vấn đề này, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội để đảm bảo quyền hưởng an sinh xã hội của người dân.

Tóm tắt: Trên cơ sở đề cập đến các vấn đề liên quan đến quyền hưởng an sinh xã hội, thực tiễn thực hiện pháp luật về vấn đề này, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội để đảm bảo quyền hưởng an sinh xã hội của người dân.

Abstract: Based on the analyzation of issues relating to the right of social security, the practice of law implementation in this area, the article proposes some recommendations for completing social security law with a view to guarantee the right of social security of citizens.

1. Quyền hưởng an sinh xã hội

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), an sinh xã hội (ASXH) được hiểu là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại khủng hoảng, khó khăn về kinh tế và xã hội mà theo đó sẽ làm mất hoặc giảm thu nhập đáng kể do bệnh tật, thai sản, tai nạn lao động, tàn tật và tử vong; chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình có con nhỏ[1]. Ở Việt Nam, quyền hưởng ASXH được quy định trong Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội”. Bên cạnh đó, Điều 34 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rõ, mọi công dân Việt Nam bất kể là người già, trẻ em, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc các thành phần kinh tế đều có quyền được hưởng ASXH. Pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận nghĩa vụ đảm bảo cho người dân thực hiện quyền ASXH thông qua việc mở rộng các dịch vụ, loại hình bảo hiểm xã hội. “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội….”[2]. Vấn đề này phù hợp với quy định của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 (Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982). Như vậy, quyền hưởng ASXH là quyền công dân và Nhà nước là chủ thể có nghĩa vụ đảm bảo cho công dân Việt Nam thực hiện quyền hưởng ASXH này.

Hệ thống pháp luật ASXH ở Việt Nam hiện nay bao gồm các bộ phận pháp luật sau: (i) Bảo hiểm xã hội; (ii) Bảo hiểm y tế; (iii) Bảo hiểm thất nghiệp; (iv) Trợ giúp xã hội; (v) Ưu đãi xã hội. Mỗi bộ phận pháp luật này có đối tượng điều chỉnh, nội dung, vai trò và thực hiện theo những nguyên tắc khác nhau. Trong đó, pháp luật ưu đãi xã hội là nét đặc thù riêng có của hệ thống pháp luật ASXH tại Việt Nam. Nó ra đời xuất phát từ truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện tinh thần “đền ơn đáp nghĩa” đối với những cá nhân đã hy sinh hoặc bị thương tật do tham gia vào các cuộc kháng chiến để giành độc lập dân tộc hoặc có công trong thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc chủ nghĩa xã hội.

- Pháp luật về bảo hiểm xã hội bao gồm: (i) Bảo hiểm xã hội bắt buộc (gồm ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; tử tuất; hưu trí); (ii) Bảo hiểm xã hội tự nguyện (gồm hưu trí và tử tuất). Người lao động, cá nhân (tự mình hoặc cùng với người sử dụng lao động) tham gia đóng bảo hiểm xã hội để được hưởng các quyền lợi về bảo hiểm xã hội, nghĩa là áp dụng nguyên tắc có đóng - có hưởng.

- Pháp luật về bảo hiểm y tế: Để được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh với mức chi trả thấp (thậm chí là không phải trả chi phí), người dân phải tham gia mua bảo hiểm y tế (trừ một số trường hợp cá nhân không phải thanh toán chi phí khám chữa bệnh thông thường do được ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế như: Trẻ em dưới 06 tuổi, người có công cách mạng, cựu chiến binh...).

- Đối với bảo hiểm thất nghiệp: Để được chia sẻ rủi ro và nhận được sự hỗ trợ khi bị thất nghiệp thì người lao động phải tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định pháp luật trên cơ sở tiền lương, tiền công của họ. Những lợi ích mà người lao động có thể được hưởng khi tham gia bảo hiểm thất nghiệp như: Trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm…

Nếu như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp áp dụng chủ yếu theo nguyên tắc có đóng - có hưởng, thì trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội có đối tượng được áp dụng chủ yếu là những người có hoàn cảnh khó khăn như trẻ em không nơi nương tựa, người nghèo, người cao tuổi… hoặc gia đình liệt sĩ, chính sách, thương binh, mẹ Việt Nam anh hùng… Họ là những người cần được xã hội hỗ trợ, giúp đỡ để khắc phục hoàn cảnh khó khăn, sớm hòa nhập vào trong cuộc sống.

Như vậy, với hệ thống các quy định pháp luật về ASXH, thì nội hàm của quyền hưởng ASXH được hiểu theo nghĩa rộng với quyền được hưởng các chế độ như chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, quyền khám chữa bệnh; quyền được tham gia chế độ hưu trí và nhận lương hưu khi hết độ tuổi lao động hay khi không còn khả năng lao động; quyền được hưởng chế độ thai sản; quyền được nhận hỗ trợ, ưu đãi từ Nhà nước, xã hội khi rơi vào những hoàn cảnh nhất định… Quyền hưởng ASXH vừa là quyền con người, vừa là quyền công dân của mọi công dân Việt Nam.

2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về an sinh xã hội ở nước ta

Trên thực tiễn, hệ thống pháp luật được Nhà nước ban hành đã tạo điều kiện cho người lao động thực hiện các quyền công dân nói chung, quyền hưởng ASXH nói riêng với sự hỗ trợ, phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức hữu quan. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp ngày càng tăng lên. Năm 2006, cả nước chỉ có 6,7 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội thì năm 2013 con số này là 63 triệu người. Năm 2016, tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đạt 76,1 triệu người, tăng 5,9 triệu người so với năm 2015. Đối với bảo hiểm y tế, năm 2005 có 23 triệu người tham gia chiếm 28,77% tổng dân số, thì năm 2009, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế tăng 58,2% với hơn 50 triệu người tham gia[3]. Tỷ lệ này tiếp tục tăng vào năm 2012 có 59.164 triệu người tham gia bảo hiểm y tế chiếm 66,8% tổng dân số[4]; tính đến hết năm 2015, có hơn 71 triệu người tham gia bảo hiểm y tế trên cả nước chiếm 77% dân số nước ta[5]. Các thông số trên cho thấy, công tác đảm bảo ASXH ở nước ta đạt được nhiều kết quả khả quan, người dân có ý thức hơn về quyền lợi của mình khi tham gia các chế độ bảo hiểm xã hội. Nguồn thu của các quỹ tương ứng cũng tăng cao qua các năm, góp phần giải quyết các chế độ cho người lao động và các đối tượng có liên quan cũng như tạo điều kiện cho nền kinh tế đất nước phát triển.

Bên cạnh đó, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo cũng nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước ta. Theo đó, nhiều chính sách, chương trình được ban hành và áp dụng vào thực tiễn nhằm giảm tỉ lệ hộ nghèo ở nước ta như: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010, Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (Chương trình 135), Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo trong giai đoạn 2009 - 2020 (Chương trình 30a)... Sau một thời gian nỗ lực thực hiện, công tác giảm nghèo ở nước ta đạt được kết quả ấn tượng với tỷ lệ nghèo chính thức ở Việt Nam đã giảm từ 30% (năm 1993) xuống còn 22% (năm 2005), tiếp tục giảm còn 14,2% (năm 2010) xuống còn 9,6% (năm 2012)[6] và giảm còn dưới 5% (năm 2015)[7].

Hoạt động trợ giúp xã hội cũng nhận được nhiều kết quả tích cực. Cụ thể, năm 2015 đã giải quyết trợ cấp xã hội hàng tháng cho trên 2.643 triệu đối tượng là người cao tuổi không có lương hưu, người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo, người khuyết tật nặng, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa… Kinh phí chi trợ cấp xã hội hàng tháng, hỗ trợ chi phí mai táng, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng liên quan khoảng 13 nghìn tỷ đồng/năm[8]. Ngoài ra, hoạt động cứu trợ cho người dân chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, hỏa hoạn được các địa phương thực hiện kịp thời. Từng bước phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội với khoảng hơn 400 cơ sở được sử dụng để chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật... Các hoạt động từ thiện, hoạt động cộng đồng được thực hiện linh hoạt, nhận được sự quan tâm rộng rãi của người dân và toàn xã hội.

Tuy nhiên, từ thực tiễn thực hiện pháp luật ASXH cho thấy còn nhiều bất cập và hiện tượng tiêu cực phát sinh làm ảnh hưởng đến quyền hưởng ASXH của người dân, cụ thể:

Một là, việc già hóa dân số đang diễn ra và có những tác động đến nền kinh tế - xã hội, quỹ bảo hiểm xã hội ở nước ta, thể hiện rõ nét là tác động đến sự an toàn của hệ thống hưu trí. Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tỉ lệ người đóng bảo hiểm trên số người hưởng lương hưu đang có xu hướng giảm mạnh trong những năm gần đây. Cụ thể, từ 34 người đóng bảo hiểm cho 01 người hưởng lương hưu vào năm 2000 thì đến năm 2010, có 10,7 người đóng cho 01 người hưởng. Bên cạnh việc tăng tuổi thọ trung bình của người dân thì tỷ lệ người cao tuổi được chi trả lương hưu và thời gian chi trả lương hưu cũng đang tăng dần, gây ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung, sự bền vững của hệ thống tài chính hưu trí nói riêng. Thêm nữa, việc sử dụng, quản lý và bảo toàn quỹ bảo hiểm xã hội ở nước ta có sự bất ổn với nhiều nguyên nhân: Việc sử dụng, đầu tư quỹ chưa đem lại hiệu quả, cho vay mà không có khả năng thu hồi nợ, chi phí quản lý hệ thống ngày một tăng[9]… Sự thất thoát quỹ bảo hiểm xã hội (trong đó chủ yếu là quỹ hưu trí và tử tuất) có tác động nhất định đến việc giải quyết chế độ, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, đặc biệt là những người đang tham gia đóng bảo hiểm.

Hai là, hiện nay, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn thấp. Nếu trong năm đầu tiên thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện (năm 2008) có 6.110 người tham gia chiếm 0,01% lực lượng lao động, thì đến năm 2016, con số này tăng lên là 203.560 người chiếm tỷ lệ 0,3%[10]. Mặc dù có sự gia tăng về số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ở các năm, nhưng tỷ lệ tham gia vẫn còn quá thấp so với lực lượng lao động, đặc biệt là ở khu vực lao động phi chính thức. Đó là chưa kể đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chủ yếu là những người đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng chưa đủ điều kiện để được hưởng lương hưu hàng tháng nên phải tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để đủ điều kiện được chi trả lương hưu hàng tháng.

Ba là, bộ phận nòng cốt, trung tâm của hệ thống ASXH ở nước ta chính là hệ thống bảo hiểm xã hội - thực hiện theo nguyên tắc có đóng, có hưởng. Cụ thể, để được hưởng các quyền lợi về ốm đau, hưu trí, thai sản..., thì người dân phải tham gia đóng bảo hiểm xã hội. Theo đó, nhiều người lao động nhận thức được bản chất, tính nhân văn của hệ thống bảo hiểm xã hội nên họ tham gia đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ thông qua đơn vị sử dụng lao động của mình. Tuy nhiên, thực tế có nhiều doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động hay chậm đóng để lạm dụng tiền đóng bảo hiểm của người lao động hoặc nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội… Cụ thể, năm 2007, tổng nợ bảo hiểm xã hội bắt buộc là 1.733,9 tỷ đồng, đến năm 2010, tổng nợ là 2.472 tỷ đồng nợ bảo hiểm xã hội và năm 2013, tổng nợ bảo hiểm xã hội bắt buộc là 4.752 tỷ đồng[11]. Tình trạng nợ tiền, chậm đóng và trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế diễn ra tại nhiều địa phương trên cả nước với tỷ lệ cao như: Hà Nội, Sơn La, Thanh Hóa, TP. Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Bạc Liêu, Thừa Thiên - Huế…

Bốn là, việc thực hiện pháp luật ưu đãi xã hội còn tồn tại nhiều hiện tượng tiêu cực, gây nên bức xúc trong dư luận xã hội. Chẳng hạn, theo báo cáo thanh tra của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, có 1.800 hồ sơ trong tổng số 60.000 hồ sơ thanh tra tại 19 tỉnh, thành phố không đủ điều kiện để được hưởng chính sách ưu đãi[12]. Theo đó, các đối tượng vi phạm thực hiện hành vi làm giả hồ sơ để được hưởng chính sách ưu đãi nhiều nhất là thương binh, người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Những hành vi vi phạm pháp luật nêu trên không chỉ làm thất thoát hàng tỷ đồng của ngân sách nhà nước mà quan trọng hơn là gây bức xúc, tác động đến tâm lý của người dân trong hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” vốn dĩ là truyền thống cao quý, tốt đẹp của Nhà nước ta.

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở nước ta

Từ thực tiễn thực hiện pháp luật an sinh xã hội, cho thấy, cần thiết phải có những giải pháp tích cực để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về ASXH ở nước ta, cụ thể:

Thứ nhất, cần thiết phải có sự điều chỉnh về quyền lợi được hưởng nhằm tăng sức hấp dẫn, thu hút sự tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân, người lao động. Chẳng hạn, nên bổ sung chế độ ốm đau cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để tăng sức hấp dẫn đối với người tham gia hoặc bổ sung chế độ thai sản để tăng sức hấp dẫn đối với lao động nữ. Việc điều chỉnh bổ sung quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện này còn góp phần tạo sự công bằng, bình đẳng cho người tham gia giữa hai chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Thứ hai, vấn đề cân đối, sử dụng, quản lý, bảo toàn, phát triển quỹ bảo hiểm xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến việc chi trả quyền lợi cho người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện (bộ phận nòng cốt của bảo hiểm xã hội). Bởi lẽ, nếu quỹ bảo hiểm xã hội (chủ yếu là quỹ hưu trí và tử tuất) không được đảm bảo cân đối thu chi sẽ là gánh nặng cho ngân sách nhà nước và sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội. Vì vậy, một trong những giải pháp nhằm góp phần đảm bảo quỹ bảo hiểm xã hội được duy trì, phát triển là tăng thời gian đóng bảo hiểm xã hội của người lao động. Cụ thể, cần thiết phải điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cho cả nam và nữ. Tuy nhiên, cũng cần quan tâm, xem xét đến lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu cho phù hợp, tránh trường hợp tăng đột ngột sẽ có tác động đến tâm lý người tham gia. Trên tinh thần đó, chúng tôi đồng ý với phương án 2 về lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu[13]. Cụ thể, tuổi nghỉ hưu của người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường là nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi nhưng cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ 60 tuổi. Đối với người lao động làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại thì tuổi nghỉ hưu có thể thấp hơn so với độ tuổi quy định áp dụng ở điều kiện lao động bình thường.

Thứ ba, xuất phát từ thực trạng có nhiều doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động trốn đóng, chậm đóng, nợ tiền bảo hiểm xã hội như hiện nay, cơ quan hữu quan cần thiết phải ban hành những chế tài nghiêm khắc đối với những hành vi nêu trên. Cùng với các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội thất nghiệp như: Nghị định số 93/2013/NĐ-CP, Nghị định số 88/2015/NĐ-CP, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)[14], thì việc xử lý đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật trong việc chậm đóng, nợ bảo hiểm xã hội bắt buộc đã có phần “mạnh tay”, mang tính răn đe hơn so với quy định trước đây theo hướng xử lý hình sự đối với chủ doanh nghiệp vi phạm. Tuy nhiên, tình trạng chây ỳ, nợ đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội vẫn còn xảy ra. Do đó, bên cạnh việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để xử lý vi phạm hành chính, các cơ quan hữu quan cần phối hợp để xem xét xử lý hình sự đối với chủ thể vi phạm. Khi tiến hành xử lý hình sự đối với pháp nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, thành viên hoặc có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật, cần thận trọng trong việc điều tra, xét xử để đảm bảo xử đúng người, đúng tội. Bên cạnh đó, cũng cần có hình thức xử lý nghiêm khắc đối với hành vi làm giả hồ sơ, giấy tờ để được hưởng các chế độ ưu đãi xã hội nhằm bảo vệ lợi ích của người xứng đáng được hưởng, củng cố niềm tin cho nhân dân, xã hội về một chính sách, chế độ tốt đẹp, đặc thù ở nước ta. Ngoài ra, cần phải tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi được hưởng về lâu dài (được hưởng lương hưu trong chế độ hưu trí) của họ khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, đặc biệt là trong điều kiện tuổi thọ trung bình càng tăng như hiện nay.

Tóm lại, quyền hưởng ASXH không chỉ được thừa nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam mà còn được pháp luật ở nhiều quốc gia và pháp luật quốc tế thừa nhận. Vì vậy, Nhà nước cần phải tôn trọng, bảo vệ và có cơ chế bảo đảm để người dân thực hiện quyền của mình, trong đó, việc hoàn thiện pháp luật ASXH sẽ góp phần nâng cao chất lượng, tạo điều kiện, động lực để người dân thực hiện tốt quyền hưởng ASXH trong cuộc sống.

ThS. Phạm Thị Thi

Đại học Tài chính - Kế toán



[1]. Patricia Justino (2005), “Beyond HEPR: A Framework for an intergrated national system of social security in Vietnam”, UNDP Vietnam policy dialogue paper 2005/1, Hà Nội, tr. 13.

[2]. Xem Điều 59 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Bộ Y tế, “Báo cáo kết quả nghiên cứu khả năng thực hiện bảo hiểm tế toàn dân”, Hà Nội.

[4]. Duyên Duyên, “66,8% dân số Việt Nam tham gia bảo hiểm y tế”, http://baodatviet.vn/doi-song/668-dan-so-viet-nam-tham-gia-bao-hiem-y-te-2348392 (truy cập ngày 22/9/2017).

[5]. Anh Chi, “Khoảng 77% dân số tham gia bảo hiểm y tế”, http://www.nhandan.com.vn/xahoi/bhxh-va-cuoc-song/item/28557902-khoang-77-dan-so-tham-gia-bao-hiem-y-te.html (truy cập ngày 22/9/2017).

[6]. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội (2015), “Báo cáo tổng quan các kết quả nghiên cứu về giảm nghèo ở Việt Nam”, Hà Nội, tr. 19.

[7]. Trang Thông tin điện tử của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, “Cả nước vẫn còn hơn 2,3 triệu hộ nghèo”, http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=24957 (truy cập ngày 18/9/2017).

[8]. Nguyễn Trọng Đàm, “Thực trạng thực hiện chính sách trợ giúp xã hội và giải pháp đổi mới giai đoạn tới”, http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=24255 (truy cập ngày 18/9/2017).

[9]. Đỗ Quang Hải và Phạm Thị Thi (2016), “Một số vấn đề về việc hình thành, sử dụng và phát triển quỹ bảo hiểm xã hội theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6(338), tr. 64-69.

[10]. Thảo Miên, “Tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện - Vì sao người dân chưa mặn mà”, http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/tien-te-bao-hiem/2017-04-05/tham-gia-bhxh-tu-nguyen-vi-sao-nguoi-dan-chua-man-ma-42187.aspx (truy cập ngày 30/9/2017).

[11]. Báo cáo số 833/BC-BHXH, ngày 14/3/2014 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

[12]. Báo Nhân dân điện tử, “Ngăn chặn hành vi trục lợi chính sách ưu đãi người có công”, http://www.nhandan.com.vn/cuoituan/item/32753802-ngan-chan-truc-loi-chinh-sach-voi-nguoi-co-cong.html (truy cập ngày 18/9/2017).

[13]. Xem Điều 187, Dự thảo (lần thứ nhất) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/DanhSachGopYDuThaoVanBan.aspx?iDuThao=889.

[14]. Xem Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: