Thứ sáu 15/05/2026 04:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền lao động của trẻ em - Một số vướng mắc và giải pháp hoàn thiện

Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người năm 1948 (UDHR) khẳng định, quyền lao động là một trong những quyền cơ bản của con người: “Ai cũng có quyền được lao động, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ khỏi sự thất nghiệp”.

Tóm tắt: Bài viết bàn về một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật Việt Nam về quyền lao động của trẻ em, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm quyền lao động của trẻ em trong giai đoạn hiện nay.

Abstract: The article discusses a number of problems and inadequacies in the provisions of Vietnamese law on children's labor rights, thereby proposing complete solutions to ensure children's labor rights in the current period.

1. Quyền lao động của trẻ em và quy định pháp luật quốc tế về quyền lao động của trẻ em

1.1. Quyền lao động của trẻ em

Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người năm 1948 (UDHR) khẳng định, quyền lao động là một trong những quyền cơ bản của con người: “Ai cũng có quyền được lao động, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ khỏi sự thất nghiệp”[1]. Ở góc độ quốc tế, quyền lao động được thừa nhận như là một trong những quyền cơ bản của con người. Tuy vậy, hiện nay, chưa có văn bản nào có định nghĩa cụ thể về thuật ngữ “quyền lao động”. Theo quan điểm của tác giả, quyền lao động được hiểu một cách tổng quát là quyền mà mỗi cá nhân được tự do lựa chọn công việc và có thể trang trải cuộc sống bằng công việc đó trong môi trường làm việc công bằng và thuận lợi.

Công ước số 138 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về tuổi lao động tối thiểu năm 1973 xác định: “Đối với bất kỳ công việc hoặc nghề nghiệp nào mà do tính chất hoặc điều kiện tiến hành có thể có hại cho sức khỏe, sự an toàn hoặc đạo đức của một người thì mức tuổi lao động tối thiểu không được dưới 18 tuổi”[2]. Theo Công ước Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em, người dưới 18 tuổi được xem là trẻ em[3]. Tuy nhiên, pháp luật một số quốc gia có thể quy định độ tuổi được xem là trẻ em sớm hơn. Ví dụ, pháp luật của Nepal quy định, bất kỳ ai dưới 16 tuổi đều được xem là trẻ em[4]; pháp luật của Singapore quy định, trẻ em nghĩa là bất kỳ ai dưới 14 tuổi[5]… Dù ở độ tuổi nào, chủ thể là trẻ em cũng sẽ được bảo vệ bằng các khung pháp lý khác nhau nhằm tránh khỏi sự bóc lột lao động. Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật quốc tế lại chưa có định nghĩa cụ thể về quyền lao động của trẻ em. Theo quan điểm của tác giả, quyền lao động của trẻ em là quyền của trẻ em được tự do lựa chọn một công việc phù hợp với độ tuổi, nhu cầu và có thể trang trải cuộc sống bằng công việc đó trong môi trường làm việc công bằng và thuận lợi.

1.2. Quy định pháp luật quốc tế về quyền lao động của trẻ em

Với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu, trẻ em hiện nay đang ngày càng tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động. Theo Báo cáo của ILO về lao động trẻ em năm 2017, có khoảng hơn 218 triệu trẻ em đang làm các công việc khác nhau trên thế giới[6]. Tính đến nay, pháp luật quốc tế đã xây dựng được các cơ chế pháp lý nhằm bảo vệ trẻ em khỏi sự bóc lột lao động và hướng đến mục tiêu là xóa bỏ lao động trẻ em[7].

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật quốc tế hiện tại chưa có quy định liên quan đến quyền lao động của trẻ em hay các lợi ích mà trẻ em cần phải có và cần được pháp luật bảo vệ khi tham gia lao động. Nói cách khác, trẻ em chưa được pháp luật quốc tế trực tiếp công nhận quyền lao động. Mặt khác, việc xác định “các công việc tước đi thời thơ ấu của trẻ, cản trở việc đi học thường xuyên” là rất khó, trong khi đó, quyền lợi của trẻ em như thế nào khi làm các công việc “gây tác hại về tinh thần, thể chất, xã hội hay đạo đức của trẻ em và các công việc nguy hiểm và độc hại đến khả năng phát triển thể chất của trẻ em” lại chưa được bàn đến[8].

Tóm lại, không thể phủ nhận rằng, khung pháp lý hiện nay đang ngày càng được hoàn thiện hơn để bảo vệ trẻ em khỏi sự bóc lột lao động. Điều này là dễ hiểu khi trẻ em được xem là đối tượng dễ bị tổn thương hơn người thành niên về cả mặt tâm lý và thể chất. Tuy nhiên, quyền lao động của trẻ em hiện nay vẫn đang là một vấn đề bỏ ngỏ và chưa được quy định cụ thể ở bất kỳ khung pháp lý quốc tế nào. Thậm chí, các chủ thể với mục tiêu cam kết xóa bỏ lao động trẻ em hiện đang tích cực phủ nhận quyền được tham gia của các tổ chức trẻ em trong vấn đề giải quyết quyền lao động của trẻ em[9]. Tuy nhiên, quyền lao động của trẻ em đã có những bước tiến mới, khi gần đây, hệ thống pháp luật của một số nước Mỹ Latinh đã có những sự thừa nhận nhất định về quyền lao động của trẻ em[10].

2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền lao động của trẻ em

Thứ nhất, Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 đã xác định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động được quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI Bộ luật Lao động. Theo đó, Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành” và “người chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm các công việc nhẹ thỏa mãn quy định tại khoản 3 Điều 145” của Bộ luật Lao động năm 2019.

Có thể thấy rằng, khi Việt Nam đang ngày càng tham gia nhiều công ước quốc tế hơn thì việc điều chỉnh, sửa đổi các quy định của pháp luật hiện hành để phù hợp hơn với các công ước quốc tế là rất cần thiết. Cụ thể, Bộ luật Lao động năm 2019 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của pháp luật về lao động, cụ thể là trường hợp lao động chưa thành niên là người dưới 15 tuổi[11]. Nhìn chung, những công việc và nơi làm việc ảnh hưởng đến tinh thần, thể chất, trí tuệ, đạo đức và nhân cách của người chưa thành niên đã được đề cập đến chi tiết hơn. Các quy định của pháp luật nhằm để tránh sự tổn hại liên quan đến sự phát triển thể lực, trí lực và nhân cách của người chưa thành niên. Tuy nhiên, việc điều chỉnh một cách gián tiếp và chưa đầy đủ này có thể tạo ra những khoảng trống pháp lý trong việc bảo vệ trẻ em trước sự lạm dụng và bóc lột sức lao động. Hậu quả là, trẻ em dễ bị tước bỏ quyền được hưởng những lợi ích cơ bản của người lao động và được pháp luật bảo vệ trong khi lẽ ra họ còn phải có được những cơ chế bảo vệ riêng biệt và chặt chẽ hơn vì thuộc đối tượng dễ bị tổn thương và cần chăm sóc đặc biệt. Ví dụ, trong trường hợp trẻ em có nhu cầu muốn làm thêm giờ và được sự đồng ý của cha/mẹ hoặc người giám hộ thì có được hưởng cơ chế tiền lương làm thêm giờ như người lao động bình thường không? Hoặc trẻ em có được hưởng các ngày nghỉ phép năm mà vẫn hưởng nguyên tiền lương hay không? Để trả lời cho các câu hỏi trên, đòi hỏi cần cơ chế điều chỉnh cụ thể và phù hợp dưới góc độ pháp luật về lao động. Đây cũng sẽ là giải pháp hiệu quả để ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền, lạm dụng và bóc lột sức lao động trẻ em, đặc biệt là khu vực lao động phi chính thức nơi mà có số lượng trẻ em tham gia chiếm tỷ lệ cao[12].

Thứ hai, theo Điều tra Quốc gia về lao động trẻ em năm 2012, trong tổng số trên 18,3 triệu trẻ em, có khoảng 1/6 trong số này (2,83 triệu trẻ em) đang tham gia hoạt động kinh tế[13]. Thực tế, các hoạt động kinh tế này của trẻ em có bản chất như một công việc bất kỳ nào được đề cập đến trong hợp đồng lao động, vì trẻ em đã sử dụng sức lao động của mình để làm một công việc nào đó. Tình trạng nghèo đói là một trong những nguyên nhân làm hạn chế cơ hội đến trường của trẻ em và cũng là nguyên nhân khiến trẻ em phải tham gia vào thị trường lao động từ rất sớm. Cụ thể, tỷ lệ lao động trẻ em là rất cao trong các gia đình có thu nhập thấp, các gia đình sống ở khu vực nông thôn và các gia đình có cha mẹ là người ít học[14]. Mặt khác, có khoảng một phần ba trẻ em tham gia các hoạt động kinh tế là do sự cần thiết và một phần tư trẻ em lựa chọn làm việc vì lương cao[15]. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, ILO đã ước tính có hơn một triệu người từ 5 - 17 tuổi đã tham gia lao động tại Việt Nam, hơn một nửa trong số đó đang làm công việc nguy hiểm và khi kinh tế gia đình của họ đang bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 thì họ còn có nguy cơ làm việc nhiều giờ hơn hoặc trong điều kiện tồi tệ hơn[16]. Rõ ràng, việc trẻ em đi làm để kiếm thu nhập là khó tránh khỏi khi các em phải mang gánh nặng về kinh tế gia đình. Ở Việt Nam, cơ chế hiện tại mới chỉ nhằm bảo vệ trẻ em khỏi việc bị bóc lột với xu hướng là hạn chế vấn nạn trẻ em có thể bị tổn thương thông qua lao động, mà chưa xem xét đến mong muốn của các em trong bối cảnh kinh tế hiện tại hay tạo cơ chế bảo đảm các em được bảo vệ công bằng trong mối quan hệ lao động đó.

Thứ ba, cơ chế hiện tại khiến cho lao động là trẻ em trở thành bên bị yếu thế khi tham gia các hoạt động kinh tế. Hiện nay, Việt Nam chưa đưa ra định nghĩa pháp lý chính thức nào về lao động trẻ em nhưng trong pháp luật quốc tế, lao động trẻ em thường được hiểu là việc trẻ em và người chưa thành niên làm các công việc trái quy định pháp luật về lao động, tham gia lao động mà hoạt động lao động đó cản trở hoặc tác động tiêu cực đến sự phát triển thể chất, trí tuệ, nhân cách và sự phát triển toàn diện của các em. Có thể thấy, không phải công việc nào do trẻ em thực hiện cũng là lao động trẻ em. Vấn đề đặt ra là, khi trẻ em thực hiện các hoạt động kinh tế một cách hợp pháp và không vi phạm các quy định về lao động thì sẽ không bị coi là lao động trẻ em nhưng pháp luật hiện hành cũng chưa có khung pháp lý cụ thể để công nhận quyền và bảo vệ chủ thể này trong quan hệ lao động. Về phía trẻ em, sự mập mờ trong quy định của pháp luật khiến các em trở nên yếu thế khi tham gia vào các hoạt động kinh tế vì chưa có cơ chế rõ ràng để các em tự bảo vệ chính bản thân mình. Về phía người sử dụng lao động, điều này sẽ càng khiến cho người sử dụng lao động có ưu thế hơn và có thể tạo nhiều “quy luật” riêng để đối xử không công bằng với các lao động là trẻ em.

3. Một số kiến nghị

Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy hợp tác quốc tế, thị trường lao động nước ta đang ngày càng trở thành một trong những thị trường lao động hấp dẫn. Với nhu cầu về lao động trẻ ngày càng gia tăng, sự tham gia của người lao động là trẻ em là khó tránh khỏi. Thực tế khảo sát cho thấy, mặc cho sự hạn chế tham gia lao động của đối tượng là trẻ em thì số lượng lao động là trẻ em ngày càng gia tăng. Như vậy, có thể thấy rằng, có một khoảng trống giữa nhu cầu thực tế của việc tham gia thị trường lao động của trẻ em và cơ chế hiện hành nhằm mục đích bảo vệ các chủ thể này khỏi sự bóc lột sức lao động. Do vậy, trong bối cảnh sự phát triển của thị trường lao động như hiện nay, việc bảo vệ trẻ em khỏi mọi sự xâm hại, lạm dụng khi tham gia thị trường lao động là một vấn đề quan trọng cần được xem xét kỹ lưỡng trong thời gian tới. Bên cạnh đó, hiện nay, khu vực lao động phi chính thức vẫn là một khu vực cần được lưu ý nhiều hơn để bảo đảm những quyền cơ bản và lợi ích hợp pháp khi trẻ em phải làm việc trong những “thị trường ngầm” và chịu nhiều thiệt hại do chưa có hành lang pháp lý bảo vệ. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, khái niệm quyền lao động của trẻ em nên được pháp luật ghi nhận trực tiếp tại khung pháp lý hiện hành để có cơ sở điều chỉnh các hoạt động của lao động là trẻ em. Ý nghĩa của việc quy định này không chỉ giúp trẻ em sẽ được đối xử công bằng như những người lao động khác khi tham gia lao động mà còn có thể là cơ sở quan trọng để bản thân người lao động là trẻ em cũng tự bảo vệ được bản thân mình trước sự bóc lột sức lao động có thể xảy ra.

Thứ hai, pháp luật lao động cần đưa ra chế định riêng về người lao động là trẻ em do sự khác biệt về thể chất, tâm lý, nhận thức so với người thành niên. Một số nội dung có thể được tiếp cận khi nói về quyền lao động của trẻ em có thể kể đến như: Quyền được tham gia công đoàn hoặc các quyền được hưởng lương thêm giờ, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, chế độ đào tạo nâng cao tay nghề, lương thưởng… Cách tiếp cận dựa trên quyền sẽ tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để một mặt bảo vệ trẻ em khỏi việc bị tước bỏ quyền và lợi ích chính đáng, mặt khác là để hạn chế được sự bóc lột sức lao động của trẻ em trong thị trường lao động hiện nay khi đối tượng này chưa có những cơ chế rõ ràng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ ba, cần hiểu rằng, việc thừa nhận quyền lao động của trẻ em không có nghĩa là trẻ em bị tước đi các quyền cơ bản mà pháp luật hiện hành đã ghi nhận. Việc thừa nhận quyền lao động song song cùng các cơ chế để bảo vệ trẻ em khỏi sự bóc lột lao động theo quy định hiện hành sẽ góp phần đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, cơ chế này cũng sẽ góp phần bảo vệ chặt chẽ hơn quyền của người lao động là trẻ em.

ThS. Nguyễn Thị Xuân Mai

Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP. Hồ Chí Minh

ThS. Trần Thiên Trang

Khoa Luật, Trường Đại học Văn Lang

Ảnh:internet

[1]. Khoản 1 Điều 23 Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người.

[2]. Khoản 1 Điều 3 Công ước số 138 về độ tuổi tối thiểu của Tổ chức Lao động Quốc tế.

[3]. Điều 1 Công ước Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em.

[4]. Đạo luật Trẻ em (Children’s Act), (1992), khoản A, Điều 2 quy định: “Trẻ em là những ai chưa đủ 16 tuổi” (‘Child’ means a minor not having completed the age of sixteen years).

[5]. Đạo luật Trẻ em và thanh niên (Children and young persons act), điểm d, Điều 2, Chương 38 quy định: “Trẻ em là những ai dưới 14 tuổi” (child’ means a person who is below the age of 14 years).

[6]. ILO (2017), Global Estimates of Child Labour, 2012 - 2016, Geneva, tr. 23 (Số liệu này được ILO cập nhât 04 năm/lần)

[7]. Xem thêm Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em năm 1989, Công ước 138 về tuổi lao động tối thiểu năm 1973, Công ước 182 về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999, Công ước 105 về xoá bỏ lao động cưỡng bức năm 1957, Công ước về lao động cưỡng bức năm 1930, Công ước về lao động giúp việc gia đình năm 2011, Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước quyền trẻ em về trẻ em tham gia vũ trang 2000, bổ sung Công ước về quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em năm 2000.

[8]. Nguyên văn như sau: “Child labour often defined as work that deprives children of their childhood, their potential and their dignity, and that is harmful to physical and mental development”.

[9]. Saadi Iven (2012), Children’s Rights as “Work in Progress”: The Conceptual and Practical Contributions of Working Children’s Movements, Children’s Rights from Below: Studies in Childhood and Youth, Palgrave Macmillan, tr. 160 - 161.

[10]. Manfred Liebel (2012), Do children have a right to work? Working children’s movements in the struggle for social justice, Reconceptualizing Children’s Rights in International Development: Living Rights, Social Justice, Translations, Cambridge University Press, tr. 244.

[11]. Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định về lao động chưa thành niên”.

[12]. Theo Điều tra Quốc gia về lao động trẻ em năm 2012 - Các kết quả chính, Lao động phi chính thức tại Việt Nam chiếm tới 57%, tương đương 18 triệu người, góp phần quan trọng trong nền kinh tế. Xem thêm: Tổ chức Lao động Quốc tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê (2014), Điều tra Quốc gia về lao động trẻ em 2012 - Các kết quả chính.

[13]. Tính đến thời điểm này, đây là số liệu mới nhất từ ILO. Đối với Điều tra Quốc gia về lao động trẻ em lần thứ hai năm 2018 hiện đang có kế hoạch triển khai theo nội dung của Hội thảo Tư vấn xây dựng pháp luật về lao động trẻ em ngày 21/3/2018. Xem thêm: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội thảo tư vấn xây dựng pháp luật về lao động trẻ em, truy cập tại địa chỉ: http://www.molisa.gov.vn/Pages/tintuc/chitiet.aspx?tintucID=27658.

[14]. Tổ chức Lao động Quốc tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê (2014), Điều tra Quốc gia về Lao động trẻ em 2012 - Các kết quả chính, tr. 7.

[15]. ILO, One in ten Vietnamese youngsters aged 5-17 in child labour, truy cập tại:

https://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/newsitems/WCMS_237788/langen/index.htm?fbclid=IwAR18IoCGzc_19G4h9VOpJ9huPGLUhoRvJ0VI12BlzBI13iLIM02dJIS86g#:~:text=Country%20survey, One%20in%20ten%20Vietnamese%20youngsters%20aged%205%2D17%20in%20child,close%20to%20the%20regional%20figure.

[16]. ILO, One in ten Vietnamese youngsters aged 5-17 in child labour, truy cập tại: https://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/newsitems/WCMS_237788/langen/index.htm?fbclid=IwAR18IoCGzc_19G4h9VOpJ9huPGLUhoRvJ0VI12BlzBI13iLIM02dJIS86g#:~:text=Country%20survey,

One%20in%20ten%20Vietnamese%20youngsters%20aged%205%2D17%20in%20child,close%20to%20the%20regional%20figure.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: