Thứ hai 13/04/2026 08:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm của đại biểu Quốc hội - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Theo Nghị quyết số 35/2012/QH13 ngày 21/11/2012 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn, việc lấy phiếu tín nhiệm được tổ chức định kỳ hằng năm kể từ năm thứ hai của nhiệm kỳ.

1. Bất cập trong quy định pháp luật hiện hành về quyền lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm của đại biểu Quốc hội
1.1. Về thời điểm tiến hành lấy phiếu tín nhiệm
Theo Nghị quyết số 35/2012/QH13 ngày 21/11/2012 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn, việc lấy phiếu tín nhiệm được tổ chức định kỳ hằng năm kể từ năm thứ hai của nhiệm kỳ. Sau hai lần lấy phiếu tín nhiệm vào năm 2013 và 2014, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 85/2014/QH13 ngày 28/11/2014 thay thế Nghị quyết trên, theo đó, việc lấy phiếu tín nhiệm được tổ chức một lần trong mỗi nhiệm kỳ vào kỳ họp thường lệ cuối năm thứ ba của nhiệm kỳ. Theo ý kiến của tác giả, quy định này là chưa hợp lý bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất, quy định này sẽ “tước bỏ” “quyền sửa sai”, “quyền được ghi nhận về nỗ lực khắc phục hạn chế” của người được lấy phiếu tín nhiệm[1]. Theo đó, nếu việc lấy phiếu tín nhiệm được tiến hành nhiều lần trong nhiệm kỳ thì trường hợp đối tượng được lấy phiếu tín nhiệm có nhiều số phiếu tín nhiệm thấp có thể còn “cơ hội” để được ghi nhận về nỗ lực khắc phục hạn chế trong ngành, lĩnh vực mình phụ trách ở lần lấy phiếu tín nhiệm tiếp theo. Nhưng nếu chỉ lấy phiếu tín nhiệm một lần trong nhiệm kỳ, trường hợp lần lấy phiếu tín nhiệm đó, đối tượng được lấy phiếu tín nhiệm có nhiều số phiếu tín nhiệm thấp thì cả nhiệm kỳ, “họ mãi mãi bị mang tiếng là phiếu tín nhiệm thấp”[2].
Thứ hai, quy định chỉ lấy phiếu tín nhiệm một lần trong mỗi nhiệm kỳ là không bảo đảm mục đích lấy phiếu tín nhiệm tại Điều 3 Nghị quyết số 85/2014/QH13. Theo Nghị quyết này, mục đích của lấy phiếu tín nhiệm là nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát. Tuy nhiên, việc Nghị quyết số 85/2014/QH13 giảm số lần lấy phiếu tín nhiệm trong nhiệm kỳ đồng nghĩa với việc giảm tần suất giám sát của Quốc hội đối với các vị trí cấp cao trong bộ máy nhà nước. Trong khi đó, thực tiễn hoạt động Quốc hội nhiều năm qua đã cho thấy sự “tái giám sát” (kiểm tra lại kết quả giám sát lần trước) là phương pháp hiệu quả nhất để duy trì và nâng cao hiệu quả giám sát[3]. Việc “bỏ qua” hoạt động lấy phiếu tín nhiệm định kỳ hằng năm vô hình trung đã “bỏ qua” sự “tái giám sát” của Quốc hội, từ đó ảnh hưởng đến việc duy trì và nâng cao hiệu quả giám sát. Ngoài ra, về phía người được lấy phiếu tín nhiệm, quy định này cũng không bảo đảm mục đích lấy phiếu tín nhiệm. Theo Nghị quyết số 85/2014/QH13, Quốc hội tiến hành hoạt động này là “giúp người được lấy phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động”. Tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng, nếu cả nhiệm kỳ Quốc hội chỉ lấy phiếu tín nhiệm một lần thì cơ hội cho người được lấy phiếu tín nhiệm soi lại mình để khắc phục, sửa chữa là rất ít, gần như không có. Nếu người được lấy phiếu tín nhiệm phải từ chức hoặc bị bỏ phiếu tín nhiệm thì đó cũng là một sự kết thúc tương đối an toàn, vì đã đi được một chặng đường khá dài trong nhiệm kỳ Quốc hội[4].
1.2. Về mức độ dùng cho việc lấy phiếu tín nhiệm
Thứ nhất, việc thiết kế ba mức “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm” và “tín nhiệm thấp” trông phiếu tín nhiệm là quá “an toàn” đối với người được lấy phiếu tín nhiệm. Thực tế ba lần lấy phiếu tín nhiệm cho thấy, số phiếu tín nhiệm thấp của các chức danh đều không chiếm quá 50%[5]. Mặc dù quy định này bảo đảm “sự thận trọng trong xem xét, đánh giá cán bộ” nhưng sự “an toàn quá mức” như trên sẽ dẫn đến tình trạng người được lấy phiếu tín nhiệm “nảy sinh tâm lý nhờn đi vì nghĩ kiểu gì mình cũng đạt tín nhiệm”[6]. Ngoài ra, cần lưu ý rằng, lấy phiếu tín nhiệm là một trong những hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội[7]. Do đó, về bản chất, việc phục vụ mục đích giám sát tối cao phải được đặt cao hơn việc phục vụ mục đích xem xét, đánh giá cán bộ. Hoạt động giám sát tối cao không có chế tài phù hợp thì khó bảo đảm được hiệu quả. Vì thế, việc quy định ba mức độ “an toàn” như trên sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giám sát tối cao của Quốc hội và dẫn đến tình trạng không thay thế được những người yếu kém, có sai phạm.
Thứ hai, việc chỉ quy định ba mức “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm” và “tín nhiệm thấp” là sự mặc định tất cả các chức danh đều được tín nhiệm trước khi tiến hành lấy phiếu tín nhiệm. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, Nghị quyết này dựa trên cơ sở nào để ấn định rằng tất cả các đối tượng lấy phiếu tín nhiệm đều được tín nhiệm? Như đã phân tích, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải trình rằng, quy định ba mức này là để phân biệt lấy phiếu tín nhiệm với bỏ phiếu tín nhiệm cũng như bảo đảm sự thận trọng trong xem xét, đánh giá cán bộ. Tuy nhiên, ngoài việc phân chia mức độ, còn có nhiều yếu tố để phân biệt lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm[8]. Hơn nữa, trong trường hợp một ngành, lĩnh vực nào đó tồn tại quá nhiều sai sót, gây bức xúc trong nhân dân thì đại biểu Quốc hội cũng chỉ có thể đánh giá “tín nhiệm thấp”, chứ không thể đánh giá “không tín nhiệm”. Nói cách khác, việc thiết kế ba mức độ tín nhiệm như hiện nay đồng nghĩa với sự hạn chế quyền của đại biểu Quốc hội trong việc thể hiện thái độ không tín nhiệm đối với những người được lấy phiếu tín nhiệm.
1.3. Về hệ quả đối với người được lấy phiếu tín nhiệm
Như đã phân tích, trường hợp người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức. Quy định này nhằm “phát huy được tinh thần trách nhiệm của cá nhân và tính kỷ luật tự giác của cán bộ”[9], “mở đường” cho các cán bộ bị tín nhiệm thấp “rút lui” với lòng tự trọng. Tuy nhiên, với cách quy định như trên, có thể thấy, việc từ chức hay không từ chức là do chính người được lấy phiếu tín nhiệm quyết định. Trong khi đó, với thực trạng văn hóa từ chức chưa phổ biến ở nước ta hiện nay[10] thì quy định này rất khó áp dụng trên thực tế. Nếu đối với bỏ phiếu tín nhiệm, pháp luật hiện hành quy định trường hợp người đó không từ chức thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu người đó để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn có trách nhiệm trình Quốc hội xem xét, quyết định việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm đối với người đó, thì đối với lấy phiếu tín nhiệm, trường hợp người này không từ chức, không có cơ sở nào để xác định hệ quả pháp lý đối với họ.
1.4. Về tên gọi của quyền bỏ phiếu tín nhiệm
Trong khoa học pháp lý, bỏ phiếu bất tín nhiệm (vote of nonconfidence) và bỏ phiếu tín nhiệm (vote of confidence) được gọi là “kỹ thuật lật đổ Chính phủ”[11]. Tuy nhiên, sự khác nhau cơ bản giữa hai phương thức này là chủ thể yêu cầu (bỏ phiếu tín nhiệm là do Chính phủ chủ động yêu cầu, còn bỏ phiếu bất tín nhiệm là do Quốc hội chủ động). Trong khi đó, theo pháp luật hiện hành, phương thức này chỉ được Quốc hội sử dụng khi sự tín nhiệm của Quốc hội đối với người được bỏ phiếu tín nhiệm không còn nữa. Do đó, theo lô-gic thông thường, tên gọi của phương thức kiểm soát này phải là “bỏ phiếu bất tín nhiệm”. Tuy nhiên, có thể vì ảnh hưởng từ văn hóa duy tình của người Việt nên việc gọi là “bỏ phiếu bất tín nhiệm” lại “nghe có vẻ nặng nề, mất uy tín cho đối tượng bị bỏ phiếu”[12]. Vì thế, Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật khác vẫn gọi là “bỏ phiếu tín nhiệm”. Tuy nhiên, cách gọi này lại không phản ánh đúng bản chất của hoạt động trên.
1.5. Về hệ quả đối với người được bỏ phiếu tín nhiệm
Theo quy định của pháp luật hiện hành, người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu không tín nhiệm có thể xin từ chức. Trường hợp không từ chức, chủ thể có thẩm quyền trình Quốc hội xem xét, quyết định việc bãi miễn. Quy định về việc chủ thể có thẩm quyền trình Quốc hội quyết định việc bãi miễn có thể dẫn đến trường hợp: Một thành viên của Chính phủ bị đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm và có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu không tín nhiệm nhưng khi đưa ra Quốc hội xem xét, quyết định việc bãi miễn thì lại không được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Nói cách khác, quy định này có thể dẫn đến nghịch lý là “một thành viên của Chính phủ không được Quốc hội tín nhiệm nhưng lại không bị Quốc hội bãi nhiệm”[13].
2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm của đại biểu Quốc hội
Thứ nhất, về thời điểm tổ chức lấy phiếu tín nhiệm. Từ những phân tích trên có thể thấy, một trong những bất cập của việc lấy phiếu tín nhiệm hiện nay là quy định chỉ lấy phiếu tín nhiệm một lần trong nhiệm kỳ. Để khắc phục những bất cập này, pháp luật nên quy định theo hướng Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm định kỳ hằng năm, kể từ kỳ họp thường lệ cuối năm thứ hai của nhiệm kỳ. Bởi lẽ: (i) Quy định như vậy sẽ tạo điều kiện để những người có kết quả lấy phiếu tín nhiệm thấp tại lần thứ nhất có cơ hội để khắc phục khuyết điểm, nâng cao hiệu quả hoạt động, bảo đảm mục đích của việc lấy phiếu tín nhiệm. (ii) Việc lấy phiếu tín nhiệm như trên còn góp phần thúc đẩy các chức danh quản lý, lãnh đạo trở nên năng động hơn, luôn quan tâm, suy nghĩ để sáng tạo các giải pháp thúc đẩy hiệu quả hoạt động của cơ quan[14]. (iii) Lấy phiếu tín nhiệm với số lần tối đa như trên là hoạt động “tái giám sát” định kỳ hằng năm để Quốc hội xem xét mức độ tiếp thu ý kiến và triển khai nhiệm vụ của những người được lấy phiếu tín nhiệm, từ đó tăng cường sự giám sát thường xuyên của Quốc hội đối với các chức danh quan trọng trong bộ máy nhà nước.
Thứ hai, về các mức độ tín nhiệm. Để khắc phục những bất cập trong việc quy định ba mức “tín nhiệm thấp”, “tín nhiệm” và “tín nhiệm cao”, khoản 7 Điều 8 Nghị quyết số 85/2014/QH13 nên sửa theo hướng: Trên phiếu ghi rõ họ tên, chức vụ của những người được lấy phiếu tín nhiệm, các mức độ “không tín nhiệm”, “tín nhiệm”, vì những lý do sau: (i) Việc quy định hai mức độ như trên sẽ rõ ràng, đơn giản hơn, giúp đại biểu Quốc hội thể hiện rõ được chính kiến của mình trong hoạt động lấy phiếu tín nhiệm. (ii) Với quy định này, việc xác định thế nào là tín nhiệm cao, tín nhiệm thấp cũng trở nên đơn giản. Theo đó, người nào nhận được nhiều phiếu tín nhiệm hơn thì đồng nghĩa với việc họ được “tín nhiệm cao”, người nào nhận được ít phiếu tín nhiệm hơn thì họ được “tín nhiệm thấp”.
Thứ ba, về hệ quả đối với người được lấy phiếu tín nhiệm. Với kiến nghị về hai mức độ “tín nhiệm” và “không tín nhiệm”, pháp luật nên quy định theo hướng: Nếu người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá không tín nhiệm thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm. Trường hợp Quốc hội không thông qua việc bỏ phiếu tín nhiệm thì đây là cơ sở để xem xét việc không bầu/phê chuẩn bổ nhiệm người này vào những chức danh quan trọng trong bộ máy nhà nước vào nhiệm kỳ tiếp theo. Quy định này sẽ khắc phục được tình trạng như đã phân tích là người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa đại biểu Quốc hội “tín nhiệm thấp” hoặc có từ hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội trở lên đánh giá “tín nhiệm thấp” nhưng không chịu hệ quả pháp lý nào. Đồng thời, quy định này cũng thể hiện rõ được tinh thần của việc lấy phiếu tín nhiệm đã được nêu trong Nghị quyết số 85/2014/QH13 là “làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá cán bộ”.
Thứ tư, về tên gọi của quyền “bỏ phiếu tín nhiệm”. Như đã phân tích, hoạt động này xuất phát từ phía Quốc hội, do Quốc hội chủ động tiến hành, chứ không phải do Chính phủ chủ động yêu cầu. Vì vậy, thiết nghĩ, quyền “bỏ phiếu tín nhiệm” của đại biểu Quốc hội nên được đổi tên thành “bỏ phiếu bất tín nhiệm” để phản ánh đúng bản chất của quyền này.
Thứ năm, về hậu quả pháp lý của bỏ phiếu tín nhiệm. Để tránh những bất cập đã phân tích cũng như bảo đảm tính thống nhất trong các quy định về bỏ phiếu tín nhiệm, thiết nghĩ, khoản 2 Điều 13 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), khoản 3 Điều 19 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Điều 15 Nghị quyết số 85/2014/QH13 nên được sửa đổi theo hướng: Người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu không tín nhiệm thì phải từ chức.

ThS. Trương Thị Minh Thùy
Khoa Luật Hành chính - Nhà nước, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Phát biểu của nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga. Xem thêm: Chỉ lấy phiếu tín nhiệm một lần là tước quyền sửa sai của cán bộ, http://dantri.com.vn/xa-hoi/chi-lay-phieu-tin-nhiem-1-lan-la-tuoc-quyen-sua-sai-cua-can-bo-1417119124.htm, truy cập ngày 21/01/2018.

[2] Phát biểu của nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga, Căn cứ nào mặc định tất cả được tín nhiệm?, https://tuoitre.vn/can-cu-nao-de-mac-dinh-tat-ca-deu-duoc-tin-nhiem-674268959839303ehtm, truy cập ngày 31/5/2018.

[3] Phát biểu của bà Lê Thị Nga, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, Căn cứ nào để mặc định tất cả đều được tín nhiệm, https://tuoitre.vn/can-cu-nao-de-mac-dinh-tat-ca-deu-duoc-tin-nhiem-674265.htm, truy cập ngày 31/5/2018.

[4] Quan điểm của ThS. Nguyễn Mai Thuyên. Xem thêm: Nguyễn Mai Thuyên (2017), Hoạt động lấy phiếu tín nhiệm của Quốc hội Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, Số 6 (115), tr. 6.

[5] Chẳng hạn, trong lần lấy phiếu tín nhiệm vào tháng 6/2013, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là người có nhiều phiếu tín nhiệm thấp nhất (209 phiếu) nhưng số phiếu tín nhiệm cao và tín nhiệm của chức danh vẫn là quá bán (88 phiếu tín nhiệm cao và 194 phiếu tín nhiệm). Trong lần lấy phiếu tín nhiệm vào tháng 11/2014, Bộ trưởng Bộ Y tế có nhiều phiếu tín nhiệm thấp nhất (192 phiếu, chiếm 38,63%) nhưng số phiếu tín nhiệm cao và tín nhiệm vẫn là quá bán (97 phiếu tín nhiệm cao, chiếm 19,52% và 192 phiếu tín nhiệm thấp, chiếm 38,63%).

[6] Xem ý kiến phát biểu của ông Lê Như Tiến, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng tại bài báo “Chỉ nên đánh giá tín nhiệm 2 mức”, https://thanhnien.vn/thoi-su/chi-nen-danh-gia-tin-nhiem-2-muc-472097.html, truy cập ngày 31/5/2018.

[7] Điều 11 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

[8] Lấy phiếu tín nhiệm có thể được phân biệt với bỏ phiếu tín nhiệm thông qua những tiêu chí như: điều kiện tiến hành (lấy phiếu tín nhiệm tiến hành thường xuyên, định kỳ; bỏ phiếu tín nhiệm chỉ tiến hành khi có yêu cầu của một số chủ thể hoặc người được lấy phiếu tín nhiệm mà có từ hai phần ba đại biểu Quốc hội trở lên đánh giá tín nhiệm thấp); hậu quả pháp lý (hậu quả pháp lý “xấu nhất” đối với người được lấy phiếu tín nhiệm là bị đưa ra Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm; còn đối với người được bỏ phiếu tín nhiệm là bị Quốc hội bãi miễn).

[9] Cao Văn Uy (2002), Từ chức, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10, tr. 20.

[10] Phát biểu của PGS.TS. Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Xem thêm: Ở ta văn hóa từ chức chưa phổ biến vì tác động tâm lý, http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/doithoai/o-ta-van-hoa-tu-chuc-chua-pho-bien-vi-tac-dong-tam-ly-343367.html, truy cập ngày 12/9/2017.

[11] Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên), Giáo trình Luật Hiến pháp của các nước tư bản, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tr. 186.

[12] Nguyễn Thị Kim Chung, Nguyễn Thị Hồng (2012), Sửa đổi Hiến pháp về tổ chức và hoạt động của Quốc hội - nhìn từ hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15 (223), tr. 12.

[13] Bùi Ngọc Sơn (2006), Bỏ phiếu tín nhiệm các thành viên Chính phủ nên kế thừa quy định của Hiến pháp 1946, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11 (74), tr. 46.

[14] Bùi Ngọc Thanh (2012), Lại bàn về bỏ phiếu tín nhiệm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10 (217), tr. 17.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: