Chủ nhật 26/07/2026 21:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm của đại biểu Quốc hội - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Theo Nghị quyết số 35/2012/QH13 ngày 21/11/2012 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn, việc lấy phiếu tín nhiệm được tổ chức định kỳ hằng năm kể từ năm thứ hai của nhiệm kỳ.

1. Bất cập trong quy định pháp luật hiện hành về quyền lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm của đại biểu Quốc hội
1.1. Về thời điểm tiến hành lấy phiếu tín nhiệm
Theo Nghị quyết số 35/2012/QH13 ngày 21/11/2012 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn, việc lấy phiếu tín nhiệm được tổ chức định kỳ hằng năm kể từ năm thứ hai của nhiệm kỳ. Sau hai lần lấy phiếu tín nhiệm vào năm 2013 và 2014, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 85/2014/QH13 ngày 28/11/2014 thay thế Nghị quyết trên, theo đó, việc lấy phiếu tín nhiệm được tổ chức một lần trong mỗi nhiệm kỳ vào kỳ họp thường lệ cuối năm thứ ba của nhiệm kỳ. Theo ý kiến của tác giả, quy định này là chưa hợp lý bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất, quy định này sẽ “tước bỏ” “quyền sửa sai”, “quyền được ghi nhận về nỗ lực khắc phục hạn chế” của người được lấy phiếu tín nhiệm[1]. Theo đó, nếu việc lấy phiếu tín nhiệm được tiến hành nhiều lần trong nhiệm kỳ thì trường hợp đối tượng được lấy phiếu tín nhiệm có nhiều số phiếu tín nhiệm thấp có thể còn “cơ hội” để được ghi nhận về nỗ lực khắc phục hạn chế trong ngành, lĩnh vực mình phụ trách ở lần lấy phiếu tín nhiệm tiếp theo. Nhưng nếu chỉ lấy phiếu tín nhiệm một lần trong nhiệm kỳ, trường hợp lần lấy phiếu tín nhiệm đó, đối tượng được lấy phiếu tín nhiệm có nhiều số phiếu tín nhiệm thấp thì cả nhiệm kỳ, “họ mãi mãi bị mang tiếng là phiếu tín nhiệm thấp”[2].
Thứ hai, quy định chỉ lấy phiếu tín nhiệm một lần trong mỗi nhiệm kỳ là không bảo đảm mục đích lấy phiếu tín nhiệm tại Điều 3 Nghị quyết số 85/2014/QH13. Theo Nghị quyết này, mục đích của lấy phiếu tín nhiệm là nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát. Tuy nhiên, việc Nghị quyết số 85/2014/QH13 giảm số lần lấy phiếu tín nhiệm trong nhiệm kỳ đồng nghĩa với việc giảm tần suất giám sát của Quốc hội đối với các vị trí cấp cao trong bộ máy nhà nước. Trong khi đó, thực tiễn hoạt động Quốc hội nhiều năm qua đã cho thấy sự “tái giám sát” (kiểm tra lại kết quả giám sát lần trước) là phương pháp hiệu quả nhất để duy trì và nâng cao hiệu quả giám sát[3]. Việc “bỏ qua” hoạt động lấy phiếu tín nhiệm định kỳ hằng năm vô hình trung đã “bỏ qua” sự “tái giám sát” của Quốc hội, từ đó ảnh hưởng đến việc duy trì và nâng cao hiệu quả giám sát. Ngoài ra, về phía người được lấy phiếu tín nhiệm, quy định này cũng không bảo đảm mục đích lấy phiếu tín nhiệm. Theo Nghị quyết số 85/2014/QH13, Quốc hội tiến hành hoạt động này là “giúp người được lấy phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động”. Tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng, nếu cả nhiệm kỳ Quốc hội chỉ lấy phiếu tín nhiệm một lần thì cơ hội cho người được lấy phiếu tín nhiệm soi lại mình để khắc phục, sửa chữa là rất ít, gần như không có. Nếu người được lấy phiếu tín nhiệm phải từ chức hoặc bị bỏ phiếu tín nhiệm thì đó cũng là một sự kết thúc tương đối an toàn, vì đã đi được một chặng đường khá dài trong nhiệm kỳ Quốc hội[4].
1.2. Về mức độ dùng cho việc lấy phiếu tín nhiệm
Thứ nhất, việc thiết kế ba mức “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm” và “tín nhiệm thấp” trông phiếu tín nhiệm là quá “an toàn” đối với người được lấy phiếu tín nhiệm. Thực tế ba lần lấy phiếu tín nhiệm cho thấy, số phiếu tín nhiệm thấp của các chức danh đều không chiếm quá 50%[5]. Mặc dù quy định này bảo đảm “sự thận trọng trong xem xét, đánh giá cán bộ” nhưng sự “an toàn quá mức” như trên sẽ dẫn đến tình trạng người được lấy phiếu tín nhiệm “nảy sinh tâm lý nhờn đi vì nghĩ kiểu gì mình cũng đạt tín nhiệm”[6]. Ngoài ra, cần lưu ý rằng, lấy phiếu tín nhiệm là một trong những hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội[7]. Do đó, về bản chất, việc phục vụ mục đích giám sát tối cao phải được đặt cao hơn việc phục vụ mục đích xem xét, đánh giá cán bộ. Hoạt động giám sát tối cao không có chế tài phù hợp thì khó bảo đảm được hiệu quả. Vì thế, việc quy định ba mức độ “an toàn” như trên sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giám sát tối cao của Quốc hội và dẫn đến tình trạng không thay thế được những người yếu kém, có sai phạm.
Thứ hai, việc chỉ quy định ba mức “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm” và “tín nhiệm thấp” là sự mặc định tất cả các chức danh đều được tín nhiệm trước khi tiến hành lấy phiếu tín nhiệm. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, Nghị quyết này dựa trên cơ sở nào để ấn định rằng tất cả các đối tượng lấy phiếu tín nhiệm đều được tín nhiệm? Như đã phân tích, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải trình rằng, quy định ba mức này là để phân biệt lấy phiếu tín nhiệm với bỏ phiếu tín nhiệm cũng như bảo đảm sự thận trọng trong xem xét, đánh giá cán bộ. Tuy nhiên, ngoài việc phân chia mức độ, còn có nhiều yếu tố để phân biệt lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm[8]. Hơn nữa, trong trường hợp một ngành, lĩnh vực nào đó tồn tại quá nhiều sai sót, gây bức xúc trong nhân dân thì đại biểu Quốc hội cũng chỉ có thể đánh giá “tín nhiệm thấp”, chứ không thể đánh giá “không tín nhiệm”. Nói cách khác, việc thiết kế ba mức độ tín nhiệm như hiện nay đồng nghĩa với sự hạn chế quyền của đại biểu Quốc hội trong việc thể hiện thái độ không tín nhiệm đối với những người được lấy phiếu tín nhiệm.
1.3. Về hệ quả đối với người được lấy phiếu tín nhiệm
Như đã phân tích, trường hợp người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức. Quy định này nhằm “phát huy được tinh thần trách nhiệm của cá nhân và tính kỷ luật tự giác của cán bộ”[9], “mở đường” cho các cán bộ bị tín nhiệm thấp “rút lui” với lòng tự trọng. Tuy nhiên, với cách quy định như trên, có thể thấy, việc từ chức hay không từ chức là do chính người được lấy phiếu tín nhiệm quyết định. Trong khi đó, với thực trạng văn hóa từ chức chưa phổ biến ở nước ta hiện nay[10] thì quy định này rất khó áp dụng trên thực tế. Nếu đối với bỏ phiếu tín nhiệm, pháp luật hiện hành quy định trường hợp người đó không từ chức thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu người đó để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn có trách nhiệm trình Quốc hội xem xét, quyết định việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm đối với người đó, thì đối với lấy phiếu tín nhiệm, trường hợp người này không từ chức, không có cơ sở nào để xác định hệ quả pháp lý đối với họ.
1.4. Về tên gọi của quyền bỏ phiếu tín nhiệm
Trong khoa học pháp lý, bỏ phiếu bất tín nhiệm (vote of nonconfidence) và bỏ phiếu tín nhiệm (vote of confidence) được gọi là “kỹ thuật lật đổ Chính phủ”[11]. Tuy nhiên, sự khác nhau cơ bản giữa hai phương thức này là chủ thể yêu cầu (bỏ phiếu tín nhiệm là do Chính phủ chủ động yêu cầu, còn bỏ phiếu bất tín nhiệm là do Quốc hội chủ động). Trong khi đó, theo pháp luật hiện hành, phương thức này chỉ được Quốc hội sử dụng khi sự tín nhiệm của Quốc hội đối với người được bỏ phiếu tín nhiệm không còn nữa. Do đó, theo lô-gic thông thường, tên gọi của phương thức kiểm soát này phải là “bỏ phiếu bất tín nhiệm”. Tuy nhiên, có thể vì ảnh hưởng từ văn hóa duy tình của người Việt nên việc gọi là “bỏ phiếu bất tín nhiệm” lại “nghe có vẻ nặng nề, mất uy tín cho đối tượng bị bỏ phiếu”[12]. Vì thế, Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật khác vẫn gọi là “bỏ phiếu tín nhiệm”. Tuy nhiên, cách gọi này lại không phản ánh đúng bản chất của hoạt động trên.
1.5. Về hệ quả đối với người được bỏ phiếu tín nhiệm
Theo quy định của pháp luật hiện hành, người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu không tín nhiệm có thể xin từ chức. Trường hợp không từ chức, chủ thể có thẩm quyền trình Quốc hội xem xét, quyết định việc bãi miễn. Quy định về việc chủ thể có thẩm quyền trình Quốc hội quyết định việc bãi miễn có thể dẫn đến trường hợp: Một thành viên của Chính phủ bị đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm và có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu không tín nhiệm nhưng khi đưa ra Quốc hội xem xét, quyết định việc bãi miễn thì lại không được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Nói cách khác, quy định này có thể dẫn đến nghịch lý là “một thành viên của Chính phủ không được Quốc hội tín nhiệm nhưng lại không bị Quốc hội bãi nhiệm”[13].
2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm của đại biểu Quốc hội
Thứ nhất, về thời điểm tổ chức lấy phiếu tín nhiệm. Từ những phân tích trên có thể thấy, một trong những bất cập của việc lấy phiếu tín nhiệm hiện nay là quy định chỉ lấy phiếu tín nhiệm một lần trong nhiệm kỳ. Để khắc phục những bất cập này, pháp luật nên quy định theo hướng Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm định kỳ hằng năm, kể từ kỳ họp thường lệ cuối năm thứ hai của nhiệm kỳ. Bởi lẽ: (i) Quy định như vậy sẽ tạo điều kiện để những người có kết quả lấy phiếu tín nhiệm thấp tại lần thứ nhất có cơ hội để khắc phục khuyết điểm, nâng cao hiệu quả hoạt động, bảo đảm mục đích của việc lấy phiếu tín nhiệm. (ii) Việc lấy phiếu tín nhiệm như trên còn góp phần thúc đẩy các chức danh quản lý, lãnh đạo trở nên năng động hơn, luôn quan tâm, suy nghĩ để sáng tạo các giải pháp thúc đẩy hiệu quả hoạt động của cơ quan[14]. (iii) Lấy phiếu tín nhiệm với số lần tối đa như trên là hoạt động “tái giám sát” định kỳ hằng năm để Quốc hội xem xét mức độ tiếp thu ý kiến và triển khai nhiệm vụ của những người được lấy phiếu tín nhiệm, từ đó tăng cường sự giám sát thường xuyên của Quốc hội đối với các chức danh quan trọng trong bộ máy nhà nước.
Thứ hai, về các mức độ tín nhiệm. Để khắc phục những bất cập trong việc quy định ba mức “tín nhiệm thấp”, “tín nhiệm” và “tín nhiệm cao”, khoản 7 Điều 8 Nghị quyết số 85/2014/QH13 nên sửa theo hướng: Trên phiếu ghi rõ họ tên, chức vụ của những người được lấy phiếu tín nhiệm, các mức độ “không tín nhiệm”, “tín nhiệm”, vì những lý do sau: (i) Việc quy định hai mức độ như trên sẽ rõ ràng, đơn giản hơn, giúp đại biểu Quốc hội thể hiện rõ được chính kiến của mình trong hoạt động lấy phiếu tín nhiệm. (ii) Với quy định này, việc xác định thế nào là tín nhiệm cao, tín nhiệm thấp cũng trở nên đơn giản. Theo đó, người nào nhận được nhiều phiếu tín nhiệm hơn thì đồng nghĩa với việc họ được “tín nhiệm cao”, người nào nhận được ít phiếu tín nhiệm hơn thì họ được “tín nhiệm thấp”.
Thứ ba, về hệ quả đối với người được lấy phiếu tín nhiệm. Với kiến nghị về hai mức độ “tín nhiệm” và “không tín nhiệm”, pháp luật nên quy định theo hướng: Nếu người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá không tín nhiệm thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm. Trường hợp Quốc hội không thông qua việc bỏ phiếu tín nhiệm thì đây là cơ sở để xem xét việc không bầu/phê chuẩn bổ nhiệm người này vào những chức danh quan trọng trong bộ máy nhà nước vào nhiệm kỳ tiếp theo. Quy định này sẽ khắc phục được tình trạng như đã phân tích là người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa đại biểu Quốc hội “tín nhiệm thấp” hoặc có từ hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội trở lên đánh giá “tín nhiệm thấp” nhưng không chịu hệ quả pháp lý nào. Đồng thời, quy định này cũng thể hiện rõ được tinh thần của việc lấy phiếu tín nhiệm đã được nêu trong Nghị quyết số 85/2014/QH13 là “làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá cán bộ”.
Thứ tư, về tên gọi của quyền “bỏ phiếu tín nhiệm”. Như đã phân tích, hoạt động này xuất phát từ phía Quốc hội, do Quốc hội chủ động tiến hành, chứ không phải do Chính phủ chủ động yêu cầu. Vì vậy, thiết nghĩ, quyền “bỏ phiếu tín nhiệm” của đại biểu Quốc hội nên được đổi tên thành “bỏ phiếu bất tín nhiệm” để phản ánh đúng bản chất của quyền này.
Thứ năm, về hậu quả pháp lý của bỏ phiếu tín nhiệm. Để tránh những bất cập đã phân tích cũng như bảo đảm tính thống nhất trong các quy định về bỏ phiếu tín nhiệm, thiết nghĩ, khoản 2 Điều 13 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), khoản 3 Điều 19 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Điều 15 Nghị quyết số 85/2014/QH13 nên được sửa đổi theo hướng: Người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu không tín nhiệm thì phải từ chức.

ThS. Trương Thị Minh Thùy
Khoa Luật Hành chính - Nhà nước, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Phát biểu của nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga. Xem thêm: Chỉ lấy phiếu tín nhiệm một lần là tước quyền sửa sai của cán bộ, http://dantri.com.vn/xa-hoi/chi-lay-phieu-tin-nhiem-1-lan-la-tuoc-quyen-sua-sai-cua-can-bo-1417119124.htm, truy cập ngày 21/01/2018.

[2] Phát biểu của nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga, Căn cứ nào mặc định tất cả được tín nhiệm?, https://tuoitre.vn/can-cu-nao-de-mac-dinh-tat-ca-deu-duoc-tin-nhiem-674268959839303ehtm, truy cập ngày 31/5/2018.

[3] Phát biểu của bà Lê Thị Nga, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, Căn cứ nào để mặc định tất cả đều được tín nhiệm, https://tuoitre.vn/can-cu-nao-de-mac-dinh-tat-ca-deu-duoc-tin-nhiem-674265.htm, truy cập ngày 31/5/2018.

[4] Quan điểm của ThS. Nguyễn Mai Thuyên. Xem thêm: Nguyễn Mai Thuyên (2017), Hoạt động lấy phiếu tín nhiệm của Quốc hội Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, Số 6 (115), tr. 6.

[5] Chẳng hạn, trong lần lấy phiếu tín nhiệm vào tháng 6/2013, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là người có nhiều phiếu tín nhiệm thấp nhất (209 phiếu) nhưng số phiếu tín nhiệm cao và tín nhiệm của chức danh vẫn là quá bán (88 phiếu tín nhiệm cao và 194 phiếu tín nhiệm). Trong lần lấy phiếu tín nhiệm vào tháng 11/2014, Bộ trưởng Bộ Y tế có nhiều phiếu tín nhiệm thấp nhất (192 phiếu, chiếm 38,63%) nhưng số phiếu tín nhiệm cao và tín nhiệm vẫn là quá bán (97 phiếu tín nhiệm cao, chiếm 19,52% và 192 phiếu tín nhiệm thấp, chiếm 38,63%).

[6] Xem ý kiến phát biểu của ông Lê Như Tiến, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng tại bài báo “Chỉ nên đánh giá tín nhiệm 2 mức”, https://thanhnien.vn/thoi-su/chi-nen-danh-gia-tin-nhiem-2-muc-472097.html, truy cập ngày 31/5/2018.

[7] Điều 11 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

[8] Lấy phiếu tín nhiệm có thể được phân biệt với bỏ phiếu tín nhiệm thông qua những tiêu chí như: điều kiện tiến hành (lấy phiếu tín nhiệm tiến hành thường xuyên, định kỳ; bỏ phiếu tín nhiệm chỉ tiến hành khi có yêu cầu của một số chủ thể hoặc người được lấy phiếu tín nhiệm mà có từ hai phần ba đại biểu Quốc hội trở lên đánh giá tín nhiệm thấp); hậu quả pháp lý (hậu quả pháp lý “xấu nhất” đối với người được lấy phiếu tín nhiệm là bị đưa ra Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm; còn đối với người được bỏ phiếu tín nhiệm là bị Quốc hội bãi miễn).

[9] Cao Văn Uy (2002), Từ chức, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10, tr. 20.

[10] Phát biểu của PGS.TS. Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Xem thêm: Ở ta văn hóa từ chức chưa phổ biến vì tác động tâm lý, http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/doithoai/o-ta-van-hoa-tu-chuc-chua-pho-bien-vi-tac-dong-tam-ly-343367.html, truy cập ngày 12/9/2017.

[11] Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên), Giáo trình Luật Hiến pháp của các nước tư bản, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tr. 186.

[12] Nguyễn Thị Kim Chung, Nguyễn Thị Hồng (2012), Sửa đổi Hiến pháp về tổ chức và hoạt động của Quốc hội - nhìn từ hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15 (223), tr. 12.

[13] Bùi Ngọc Sơn (2006), Bỏ phiếu tín nhiệm các thành viên Chính phủ nên kế thừa quy định của Hiến pháp 1946, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11 (74), tr. 46.

[14] Bùi Ngọc Thanh (2012), Lại bàn về bỏ phiếu tín nhiệm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10 (217), tr. 17.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: