Chủ nhật 08/02/2026 06:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền xác định lại giới tính theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết nêu lên tầm quan trọng của việc quy định về quyền xác định lại giới tính cho cá nhân, các vấn đề pháp lý xung quanh quyền này, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất.

Abstract: This paper raises the importance of regulation on sex re-defining right of inpidual and the legal issues relating to this right, on that basis, this paper delivers some suggestions and proposals.


Với mục đích thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của con người trong xã hội, Bộ luật Dân sự đã ghi nhận các quyền nhân thân của cá nhân. Theo Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền nhân thân được hiểu là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác...[1]. Các quyền nhân thân của cá nhân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Để phù hợp với tình hình các quan hệ xã hội ngày càng đa dạng, phức tạp và thực tiễn các quan hệ dân sự trong điều kiện hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2005 lần đầu tiên quy định quyền xác định lại giới tính và tiếp tục được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 36.

1. Quy định quyền xác định lại giới tính cho cá nhân nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh

Xã hội ngày càng phát triển theo chiều hướng hiện đại thì kéo theo việc ngày càng có nhiều vấn đề xã hội phát sinh. Một trong số đó là những vấn đề có liên quan tới giới tính của con người. Xác định lại giới tính, chuyển giới, phẫu thuật chuyển đổi giới tính... là những vấn đề đã phát sinh trên thực tế trong quá trình Bộ luật Dân sự năm 1995 đang có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 1995 không có những quy định để điều chỉnh về vấn đề này. Với tư cách là một ngành luật có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tế đời sống thì lần đầu tiên Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định thêm cho cá nhân có quyền xác định lại giới tính với tư cách là quyền nhân thân của cá nhân. Hiện nay, quyền này tiếp tục được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 36), tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc cụ thể hóa những quy định liên quan tại các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành. Quy định này có ý nghĩa quan trọng, thể hiện ở việc có sự điều chỉnh kịp thời của các cơ quan lập pháp đối với những quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống xã hội, nhất là trong bối cảnh thực trạng chuyển đổi giới tính có chiều hướng diễn ra ngày một gia tăng hiện nay. Đặc biệt, với việc được quy định tại Bộ luật Dân sự, vấn đề xác định giới tính của con người đã có quy phạm pháp luật điều chỉnh và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.

2. Nội dung pháp lý về quyền xác định lại giới tính

2.1. Giới tính và khuyết tật bẩm sinh về giới tính

Theo quan niệm truyền thống, trong xã hội có hai giới tính người đó là nam và nữ, nó thường thể hiện ở một số giấy tờ cá nhân như chứng minh thư nhân dân, giấy khai sinh, giấy phép lái xe… Pháp luật Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới chỉ thừa nhận hai giới tính, là nam hoặc là nữ. Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05/8/2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính (Nghị định số 88/2008/NĐ-CP) quy định: “Khuyết tật bẩm sinh về giới tính là những bất thường ở bộ phận sinh dục của một người ngay từ khi mới sinh ra, biểu hiện ở một trong các dạng như nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật”. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới khuyết tật bẩm sinh về giới tính, một trong số đó có thể là do trong quá trình mang thai người mẹ bị đột biến gen hoặc do di truyền bị khiếm khuyết nhiễm sắc thể, dẫn đến tình trạng không thể định rõ được đứa trẻ sinh ra có giới tính nam hay là nữ. Điều 5, Điều 6 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP đã quy định cụ thể về tiêu chuẩn y tế xác định khuyết tật bẩm sinh về giới tính và tiêu chuẩn xác định giới tính chưa được định hình chính xác.

2.2. Vấn đề chuyển đổi giới tính

Được đông đảo mọi người quan tâm, chú ý và có nhiều cách nhìn nhận khác nhau tùy theo quan điểm của mỗi cá nhân và dễ gây nhầm lẫn với thuật ngữ xác định lại giới tính đó là việc “chuyển đổi giới tính”. Về bản chất, chuyển đổi giới tính và xác định lại giới tính là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Theo đó, chuyển đổi giới tính là sử dụng những thủ tục y khoa nhằm thay đổi giới tính của một cá nhân trong khi giới tính của người đó đã được xác định rõ, không hề có biểu hiện khuyết tật bẩm sinh về giới tính, là chuyển từ giới tính nam sang giới tính nữ hoặc ngược lại. Người chuyển đổi giới tính là người đã hoàn chỉnh giới tính nam hay nữ.

So với Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nghị định số 88/2008/NĐ-CP thì Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có bước tiến mới khi lần đầu tiên quy định một điều luật riêng về quyền chuyển đổi giới tính. Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”. Quy định này nhằm cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ dân sự, kịp thời tạo cơ chế pháp lý để thực hiện, bảo vệ quyền, lợi ích có liên quan của người chuyển đổi giới tính. Bộ Y tế là cơ quan được giao nhiệm vụ nghiên cứu, đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về chuyển đổi giới tính. Trong khi trước đó, khoản 1 Điều 4 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP quy định: “Nghiêm cấm thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính”.

2.3. Điều kiện để cá nhân có quyền xác định lại giới tính

Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân có quyền xác định lại giới tính. Theo đó, xác định lại giới tính là một quyền nhân thân của cá nhân (gắn liền với cá nhân), là việc có sự can thiệp y học của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền nhằm làm rõ giới tính, trả lại giới tính thực cho một cá nhân nào đó khi người này bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác về giới tính của mình. Khuyết tật bẩm sinh về giới tính được hướng dẫn cụ thể tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP, trong khi Điều 6 Nghị định này quy định giới tính chưa được định hình chính xác được hiểu là: “Nhiễm sắc thể giới tính có thể giống như trường hợp nữ lưỡng giới giả nam hoặc nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật nhưng bộ phận sinh dục chưa được biệt hóa hoàn toàn và không thể xác định chính xác là nam hay nữ”.

Như vậy, điều kiện để việc xác định lại giới tính có thể diễn ra là chỉ những cá nhân nào rơi vào một trong hai trường hợp là bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc chưa định hình chính xác về giới tính thì mới có quyền xác định lại giới tính, còn những người đã hoàn thiện về giới tính thì không đặt ra quyền này. Như vậy, có thể khẳng định, đây là một quyền nhân thân có điều kiện. Điều này thể hiện ở chỗ, một người chỉ được quyền yêu cầu xác định lại giới tính của mình khi họ có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Khi và chỉ khi đáp ứng được một trong hai điều kiện trên họ mới có quyền yêu cầu y học xác định lại giới tính chính xác cho mình. Với điều kiện như vậy thì có thể thấy, xác định lại giới tính không đồng nghĩa với việc thay đổi giới tính một cách tùy tiện mà chỉ trong khuôn khổ pháp luật cho phép thì việc xác định lại giới tính mới có thể diễn ra. Điều này hoàn toàn phù hợp với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta và tình hình phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong điều kiện hiện nay.

Việc xác định giới tính phải có can thiệp y học của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền mới được coi là hợp pháp. Bởi lẽ, sau khi hoàn tất việc chỉnh sửa giới tính thì cơ quan chuyên môn sẽ cấp giấy xác nhận để làm căn cứ pháp lý khẳng định giới tính, xác định lại giới tính.

2.4. Hậu quả pháp lý của việc xác định lại giới tính

Theo quy định của Bộ luật Dân sự, con người khi sinh ra ai cũng có quyền đăng ký khai sinh và trong giấy khai sinh phải ghi giới tính nam hay nữ. Chỉ khi có yêu cầu và đáp ứng một trong hai điều kiện để có thể xác định lại giới tính như trên thì cá nhân mới có thể được xác định lại giới tính. Kết quả của việc xác định lại giới tính xảy ra hai trường hợp: (i) Giới tính sau khi được xác định vẫn như đã ghi trong giấy khai sinh và các giấy tờ khác; (ii) Giới tính được thay đổi từ nam chuyển thành nữ và ngược lại.

Như vậy, đề cập tới hậu quả pháp lý của việc xác định lại giới tính là khi xảy ra trường hợp thứ hai, còn trường hợp thứ nhất thì không làm xuất hiện, thay đổi một số trách nhiệm, nghĩa vụ pháp lý của con người. Cá nhân sau khi được xác định lại giới tính có thể phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một số quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm trong một số trường hợp sau:

- Người sau khi được xác định lại giới tính được cải chính hộ tịch: Khoản 3 Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan. Nghị định số 88/2008/NĐ-CP cũng đã dành hẳn một chương để đề cập tới các vấn đề liên quan đến hộ tịch của người sau khi đã xác định lại giới tính. Cụ thể, cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch có trách nhiệm căn cứ vào giấy chứng nhận y tế (do cơ sở khám, chữa bệnh đã thực hiện việc can thiệp y tế xác định lại giới tính cấp) để giải quyết việc đăng ký lại hộ tịch cho người đã xác định lại giới tính.

- Người sau khi được xác định lại giới tính có quyền được thay đổi họ, tên của mình trong trường hợp việc sử dụng họ, tên cũ có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp hay cuộc sống bình thường sau khi đã được xác định lại giới tính tại điểm e khoản 1 Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Người sau khi được xác định lại giới tính được xây dựng gia đình và nhận con nuôi theo quy định của pháp luật: Sau khi đã được xác định lại giới tính để trở lại sống với giới tính thật và đơn nhất (hoặc nam, hoặc nữ) của mình, người đã xác định lại giới tính sẽ có quyền được tự do kết hôn như mọi công dân khác theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 39), Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cùng với đó, quyền được nuôi con nuôi của cá nhân hoặc vợ chồng những người này cũng sẽ được pháp luật công nhận và bảo hộ.

- Người được xác định lại giới tính sẽ dẫn tới sự thay đổi trong một số quyền và nghĩa vụ dân sự như: Trong quan hệ lao động, tuổi nghỉ hưu có sự thay đổi hay được hưởng những chế độ đặc thù như chỉ phụ nữ mới được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật...

- Người sau khi được xác định lại giới tính vẫn được đảm bảo các quyền về thừa kế, quan hệ với con cái...

3. Một số kiến nghị

Trước hết, với sự phát triển của điều kiện kinh tế - xã hội mà ngày càng có nhiều quan hệ xã hội phát sinh, cần thiết phải có các quy phạm pháp luật điều chỉnh kịp thời, một trong số đó là vấn đề có liên quan đến giới tính. Việc Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp tục ghi nhận quyền xác định lại giới tính cho cá nhân tại Điều 36 và lần đầu tiên quy định quyền chuyển đổi giới tính là phù hợp và cần thiết trong thực tế đời sống hiện nay.

Tuy nhiên, Điều 36, Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 dường như chỉ giải quyết được một phần trong số những vấn đề thực sự phức tạp đã phát sinh trên thực tế, do đó cần nghiên cứu hoàn thiện một số vấn đề sau:

Thứ nhất, giải quyết triệt để nội hàm của điều luật: Một người có quyền xác định lại giới tính chỉ khi giới tính bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác, cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính. Nếu chỉ quy định như vậy thì phạm vi mà Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2015 đề cập tới là quá hẹp so với thực tiễn, chưa giải quyết được triệt để vấn đề.

Thứ hai, sử dụng thuật ngữ tránh gây nhầm lẫn: Thuật ngữ mà Điều 36 nêu trên sử dụng là “xác định lại giới tính”, điều này dễ gây nhầm lẫn với một số thuật ngữ khác, đặc biệt là “thay đổi giới tính”, “chuyển đổi giới tính”. Quyền xác định lại giới tính nếu không hiểu đúng thì có thể nhầm lẫn với việc thay đổi/chuyển đổi giới tính;

Thứ ba, trước thực trạng một số cá nhân là công dân Việt Nam sang các nước mà pháp luật sở tại cho phép phẫu thuật chuyển đổi giới tính thì cũng cần nghiên cứu, điều chỉnh, đề cập trong Bộ luật Dân sự.

Thứ tư, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định số 88/2008/NĐ-CP, trong đó xác định rõ các trường hợp được xác định lại giới tính; quy định cụ thể việc thực hiện các quyền nhân thân khác sau khi thực hiện quyền xác định lại giới tính

Thứ năm, sớm ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về chuyển đổi giới tính nhằm tạo cơ sở pháp lý điều chỉnh toàn diện vấn đề này trên thực tế.

Lê Nguyên Thảo

Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp





[1]. Quyền nhân thân trước đây được quy định tại Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: