Thứ tư 15/04/2026 03:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

So sánh pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước của Nhật Bản và Việt Nam

Pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước của Nhật Bản được hình thành sớm. Năm 1947 Nhật Bản đã ban hành Luật Bồi thường nhà nước (Luật BTNN) và năm 1950, Nhật Bản đã ban hành Luật Đền bù hình sự năm 1950 (Luật ĐBHS) vẫn đang được thi hành trên thực tiễn. Để phục vụ cho việc nghiên cứu, sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTNN) của Việt Nam, tác giả xin giới thiệu một số nội dung cơ bản của pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước của Nhật Bản trên cơ sở so sánh với Luật TNBTNN của Việt Nam.

1. Về cơ chế pháp luật điều chỉnh trách nhiệm bồi thường

Tại Nhật Bản, hiện nay đang tồn tại hai cơ chế điều chỉnh về chế độ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo Luật BTNN năm 1947 và Luật ĐBHS năm 1950.

Luật BTNN của Nhật Bản điều chỉnh hành vi của công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, có lỗi và gây thiệt hại, cụ thể: Nếu nhân viên Chính phủ khi thực thi công quyền của Nhà nước hoặc của chính quyền địa phương, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình cố ý hoặc vô ý đã gây ra thiệt hại cho người liên quan, Nhà nước hoặc cơ quan công quyền hữu quan sẽ chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại đó. Trong trường hợp nêu trên, nếu nhân viên Chính phủ liên quan có lỗi cố ý hoặc vô ý một cách rõ ràng, Nhà nước hoặc chính quyền địa phương sẽ có quyền được hoàn trả khoản bồi thường từ nhân viên đó (Điều 1 Luật BTNN của Nhật Bản).

Khác với quy định trên, Luật ĐBHS điều chỉnh hành vi không căn cứ yếu tố lỗi, theo đó, trường hợp người mà bị bắt giữ hoặc bị giam giữ mà được tha hoặc trường hợp người mà được Tòa tuyên là vô tội (khoản 1 và khoản 2 Điều 1 Luật ĐBHS của Nhật Bản) thì sẽ được bồi thường.

So với Nhật Bản, Việt Nam chỉ có một luật điều chỉnh chung về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, không có sự phân biệt như Nhật Bản.

2. Luật Bồi thường nhà nước Nhật Bản năm 1947

So với Luật TNBTNN của Việt Nam hiện hành, Luật BTNN của Nhật Bản ít hơn về số điều, nội dung cũng không quá chi tiết, cụ thể và nhiều nội dung được dẫn chiếu áp dụng pháp luật khác có liên quan; hai luật có nhiều điểm tương đồng cũng như khác biệt, cụ thể như sau:

2.1. Về phạm vi trách nhiệm bồi thường

Luật BTNN của Nhật Bản chỉ quy định những điều kiện mang tính chất định tính, làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mà không liệt kê cụ thể từng trường hợp được bồi thường. Như vậy, giữa Luật TNBTNN của Việt Nam và Luật BTNN của Nhật Bản có sự khác nhau trong quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường, Luật BTNN của Nhật Bản không giới hạn phạm vi trách nhiệm bồi thường còn Luật TNBTNN của Việt Nam thì có sự giới hạn về phạm vi trách nhiệm bồi thường chỉ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án[i]. Luật BTNN của Nhật Bản mở rộng hơn không chỉ đối với hành vi công quyền mà còn đối với cả những hành vi phi công quyền, hoạt động sự nghiệp của đơn vị sự nghiệp công lập. Dưới đây là một ví dụ điển hình.

Một vụ việc cụ thể là các học sinh đang học tập tại một trường trung học cơ sở tại Tokyo, trong một giờ tập thể dục với bộ môn ném lao đã ném trúng đầu một người (khi đó 14 tuổi) đi ngang qua đó. Hậu quả là người đó bị thương rất nặng. Tuy nhiên có một vấn đề là giáo viên thể dục đã không có mặt tại sân khi tai nạn xảy ra[ii]. Như vậy, ví dụ này cho thấy phạm vi bồi thường của Nhật Bản còn bao gồm hành vi phi công quyền, hoạt động sự nghiệp của đơn vị sự nghiệp công lập.

Luật BTNN của Nhật Bản không có điều luật nào quy định về phạm vi các lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nước chịu sự điều chỉnh của Luật mà chỉ quy định về các trường hợp mà Nhà nước phải bồi thường (Điều 1- Bồi thường do thiệt hại gây ra bởi thiếu sót trong xây dựng và quản lý công trình công cộng). Điều này dẫn tới hai cách hiểu: Thứ nhất, Luật không quy định thì khó xác định trách nhiệm đối với Nhà nước; Thứ hai, Luật không quy định đồng nghĩa với việc luật không loại trừ bất cứ lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nước[iii].

2.2. Về đối tượng được bồi thường

Pháp luật của Việt Nam và Nhật Bản quy định rất khác nhau về vấn đề này. Luật TNBTNN của Việt Nam quy định không hạn chế về đối tượng được bồi thường, theo đó bất kỳ là cá nhân, tổ chức nào bị thiệt hại thì được Nhà nước bồi thường, miễn là trường hợp họ bị thiệt hại phải đáp ứng yêu cầu là thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Điều 2 Luật TNBTNN của Việt Nam). Trong khi đó, Luật BTNN của Nhật Bản quy định về đối tượng yêu cầu bồi thường là người bị thiệt hại; đối với người nước ngoài là người bị thiệt hại sẽ được áp dụng chỉ trong những trường hợp có sự bảo đảm nguyên tắc có đi có lại (Điều 5 Luật BTNN của Nhật Bản). Như vậy, pháp luật của Nhật Bản sẽ áp dụng đối với người nước ngoài là người bị thiệt hại khi quốc gia mà người nước ngoài đó mang quốc tịch cũng có quy định về trách nhiệm của công dân nước ngoài trong điều kiện tương tự.

2.3. Về bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Luật TNBTNN của Việt Nam, Nhật Bản đều xác định bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTNN) là một loại trách nhiệm dân sự. Luật BTNN của Việt Nam không quy định trực tiếp quan hệ pháp luật TNBTNN là một quan hệ pháp luật dân sự. Tuy nhiên, trong các quy định của Luật BTNN cũng như các quy định pháp luật khác có liên quan thì có thể khẳng định Luật BTNN của Việt Nam coi quan hệ pháp luật TNBTNN là một quan hệ pháp luật dân sự.

Trách nhiệm bồi thường do công chức, viên chức, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra đã được quy định mang tính nguyên tắc trong Bộ luật Dân sự. Về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Điều 6 Luật TNBTNN của Việt Nam quy định các điều kiện này bao gồm: Thiệt hại thực tế xảy ra, hành vi gây thiệt hại, có lỗi (lỗi không phải là yếu tố bắt buộc trong mọi trường hợp) và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại thực tế xảy ra - các điều kiện này có nhiều điểm tương đồng với quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bên cạnh đó, cơ quan có trách nhiệm bồi thường sẽ xác minh thiệt hại, thương lượng với người bị thiệt hại hoặc tham gia tố tụng tại Tòa án với tư cách là bị đơn trong trường hợp người bị thiệt hại khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường (khoản 2 và 3 Điều 8 Luật TNBTNN của Việt Nam).

Theo Luật BTNN của Nhật Bản, những quy định của Bộ luật Dân sự cũng sẽ được áp dụng đối với trách nhiệm pháp lý của Nhà nước hoặc cơ quan công quyền đối với những thiệt hại có thể được bồi thường (Điều 4). Các vụ kiện yêu cầu bồi thường nhà nước được coi là vụ kiện dân sự và được nhìn nhận là vụ việc phức tạp, được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự thông thường.

2.4. Các điều kiện xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Khác so với Luật TNBTNN của Việt Nam, Luật BTNN của Nhật Bản không quy định rõ các căn cứ mà quy định tại khoản 1 Điều 1 khẳng định lỗi là yếu tố bắt buộc có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Quy định này khác so với Luật BTNN của Việt Nam, theo đó Luật TNBTNN của Việt Nam không quy định lỗi là căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như hành vi không thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng quy định của pháp luật và được xác định trong văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (khoản 2 Điều 3). Như vậy, về mặt nguyên tắc Luật không quy định lỗi là yếu tố bắt buộc trừ một số trường hợp được quy định trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hành chính thì đòi hỏi lỗi cố ý đối với trường hợp “Ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án” (khoản 4 Điều 28) và trong lĩnh vực thi hành án dân sự thì đòi hỏi lỗi cố ý đối với trường hợp “không ra quyết định về thi hành án” và “không tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án” (Điều 38).

2.5. Về thủ tục giải quyết bồi thường

Luật BTNN của Nhật Bản quy định người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án để yêu cầu Nhà nước bồi thường.

Đối với Luật TNBTNN của Việt Nam, người bị thiệt hại không được kiện thẳng ra Tòa án ngay mà phải được giải quyết tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường trước. Việc nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường, xác minh thiệt hại, thủ tục thương lượng việc bồi thường là thủ tục bắt buộc; trường hợp mà người bị thiệt hại không đồng ý thì mới có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường ra Tòa.

2.6. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường

Luật TNBTNN của Việt Nam quy định nguyên tắc “cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại” là cơ quan có trách nhiệm bồi thường (khoản 4 Điều 3).

Luật BTNN Nhật Bản quy định về nguyên tắc, khi có thiệt hại xảy ra thì nguyên đơn có quyền khởi kiện tại Tòa án. Trong vụ kiện tại Tòa án, Nhà nước sẽ là bị đơn trong vụ kiện và Bộ trưởng Bộ Tư pháp là người đại diện cho Nhà nước để tham gia tố tụng[iv]. Như vậy, về cơ chế giải quyết bồi thường, trong vụ việc tại Tòa án thì theo Luật BTNN của Nhật Bản thì Bộ Tư pháp luôn đại diện cho Nhà nước là bị đơn, còn theo Luật TNBTNN của Việt Nam thì đại diện của từng cơ quan sẽ đại diện cho Nhà nước với tư cách là bị đơn[v].

2.7. Về quyền yêu cầu bồi thường

Theo Luật TNBTNN của Việt Nam trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án có quy định người bị thiệt hại muốn thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình thì trong hồ sơ yêu cầu bồi thường bắt buộc phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, trong khi đó, Luật BTNN của Nhật Bản quy định đơn giản hơn, theo hướng, người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án để yêu cầu Nhà nước bồi thường.

2.8. Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ

Luật TNBTNN của Việt Nam và Nhật Bản có nhiều quy định khác nhau về vấn đề trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ. Luật BTNN của Nhật Bản có quy định nếu nhân viên chính phủ liên quan có lỗi cố ý hoặc vô ý một cách rõ ràng, Nhà nước hoặc chính quyền địa phương sẽ có quyền được yêu cầu một khoản bồi hoàn từ nhân viên đó. Theo quy định Luật TNBTNN của Việt Nam, trách nhiệm hoàn trả là một nghĩa vụ bắt buộc, người thi hành công vụ có lỗi khi gây ra thiệt hại thì phải hoàn trả. Cụ thể, “Người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền” (khoản 1 Điều 56). Riêng trong hoạt động tố tụng hình sự, Luật TNBTNN của Việt Nam có sự phân biệt giữa lỗi cố ý và vô ý theo đó thì người thi hành công vụ chỉ phải chịu trách nhiệm hoàn trả khi có lỗi cố ý (khoản 2 Điều 56).

Như vậy, trách nhiệm bồi hoàn hay hoàn trả của công chức theo quy định của pháp luật Nhật Bản rất linh hoạt có tính đến yếu tố tiêu cực - mặt trái của chế định pháp luật này; theo đó, công chức chỉ phải hoàn trả khi gây thiệt hại mà có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng. Tuy nhiên, trên thực tiễn áp dụng pháp luật bồi thường nhà nước Nhật Bản từ năm 1947 cho đến nay, chưa có trường hợp nào mà công chức Nhật Bản phải thực hiện trách nhiệm hoàn trả lại cho Nhà nước, mà việc xử lý công chức đó như thế nào sẽ phụ thuộc vào các hình thức xử lý mà pháp luật về công chức của Nhật Bản quy định[vi].

3. Luật Đền bù hình sự của Nhật Bản năm 1950

Luật ĐBHS của Nhật Bản lầu đầu tiên được ban hành năm 1913, tuy nhiên, những điều kiện cần thiết để được bồi thường là tương đối hạn chế so với Luật ĐBHS hiện hành. Trước Chiến tranh ở Nhật Bản, vấn đề thực hiện công quyền, hệ thống trách nhiệm của Nhà nước đã không được sử dụng, việc ban hành Luật ĐBHS là một việc làm được đánh giá là có ý nghĩa. Điều 40 của Hiến pháp Nhật Bản quy định một người bất kỳ nếu không bị kết tội sau khi bị tạm giam hoặc bị giam, có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường theo quy định của pháp luật. Bởi vậy, quyền đòi bồi thường thiệt hại hình sự đã được đặt ra như quyền do Hiến pháp quy định. Căn cứ vào điều luật này, Luật ĐBHS mới được ban hành, được công bố và có hiệu lực vào năm 1950 thay thế luật cũ[vii]. Luật ĐBHS của Nhật Bản năm 1950 không kết cấu thành các chương, gồm 26 Điều và những quy định bổ sung ở các văn bản dưới luật và các luật sửa đổi, bổ sung.

3.1. Về các trường hợp được bồi thường

Nếu như Luật TNBTNN của Việt Nam có quy định về các trường hợp được bồi thường từ giai đoạn khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án (Điều 26) thì Luật ĐBHS của Nhật Bản quy định về các trường hợp được bồi thường tại giai đoạn xét xử khi có phán quyết của Tòa án. Theo đó, khoản 1 Điều 1 Luật ĐBHS của Nhật Bản quy định: Trường hợp một người bất kỳ đã được phán quyết vô tội theo thủ tục thông thường, thủ tục tái thẩm, hoặc thủ tục kháng cáo đặc biệt theo quy định tại Bộ luật tố tụng Hình sự, đã bị đặt trong tình trạng bị bắt giữ, bị giam giữ chờ xét xử theo quy định có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường cho việc bị bắt giữ hoặc bị giam giữ đó; khoản 2 Điều 1 Luật ĐBHS của Nhật Bản quy định: Trường hợp một người bất kỳ đã được tuyên bố "vô tội" bằng một quyết định theo thủ tục kháng cáo do đã khôi phục quyền kháng cáo, thủ tục xét xử lại, hoặc thủ tục kháng cáo đặc biệt, mà đã chấp hành hình phạt theo bản án sơ thẩm, hoặc đã bị tù giam theo các quy định tại Bộ luật Hình sự có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường cho việc chấp hành hình phạt hoặc bị tù giam đó.

3.2. Trường hợp không được bồi thường

Thứ nhất, khoản 1 Điều 3 Luật ĐBHS của Nhật Bản và khoản 2 Điều 27 Luật TNBTNN của Việt Nam quy định giống nhau về trường hợp không được bồi thường do việc khai báo gian dối, việc lập lời thú tội gian dối với mục đích làm sai lệnh việc điều tra hoặc xét xử, hoặc do cung cấp tài liệu, vật chứng sai sự thật, việc giả mạo những chứng cứ khác dẫn đến việc kết án đó.

Thứ hai, khoản 2 Điều 3 Luật ĐBHS của Nhật Bản và khoản 3 Điều 27 Luật TNBTNN của Việt Nam quy định giống nhau về trường hợp một người phạm nhiều tội, nhưng được ra quyết định "vô tội" đối với một tội trong những tội người này phạm phải, nhưng bị kết án bằng quyết định đối với những tội khác.

Ngoài ra, Luật TNBTNN của Việt Nam quy định về các trường hợp không được bồi thường như: Miễn trách nhiệm hình sự, vụ án được đình chỉ do người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố, do thay đổi chính sách pháp luật.

3.3. Thủ tục yêu cầu bồi thường hình sự

Nếu như Luật TNBTNN của Việt Nam, người bị thiệt hại không được kiện thẳng ra Tòa án ngay mà phải được giải quyết tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường trước. Việc nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường, xác minh thiệt hại, thủ tục thương lượng việc bồi thường là thủ tục bắt buộc; trường hợp mà người bị thiệt hại không đồng ý thì mới có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường ra Tòa.

Luật ĐBHS của Nhật Bản theo đó, yêu cầu bồi thường của người bị oan sai được gửi đến Tòa án đã xử cho họ vô tội. Yêu cầu bồi thường có thể thực hiện thông qua người đại diện. Người đã nộp yêu cầu bồi thường mà sau đó rút đơn thì người đã rút đơn không thể yêu cầu bồi thường được nữa. Khi nhận đơn yêu cầu Tòa án đã thụ lý phải hỏi ý kiến của kiểm sát viên và người đệ đơn yêu cầu để ra quyết định về mức bồi thường. Trường hợp yêu cầu bồi thường có căn cứ, Tòa án sẽ ra phán quyết về mức bồi thường; nếu không có căn cứ, Tòa án sẽ bác đơn. Nếu người yêu cầu thấy mức bồi thường mà Tòa án phán quyết không thỏa đáng thì có thể kháng cáo lên Tòa án phúc thẩm[viii].

3.4. Về mức bồi thường hình sự

Theo đó, Luật ĐBHS của Nhật Bản quy định mức bồi thường cụ thể: Mức bồi thường hình sự đối với việc bị bắt, giam giữ, tù khổ sai, tù cầm cố, tiền bồi thường sẽ tương ứng với số ngày bị bắt, giam giữ theo mức từ 1000 yên đến không quá 12.500 yên/ ngày. Mức bồi thường đối với án từ hình sai là 30 triệu yên, trường hợp chứng minh được tổn thất về mặt tài sản phát sinh do cái chết của đương sự, tiền bồi thường được tính trong phạm vi bị tổn thất của đương sự cộng với 30 triệu yên. Đồng thời, Luật ĐBHS của Nhật Bản cũng quy định bồi thường đối với án phạt tiền hoặc phạt tiền mức nhẹ, bồi thường đối với tài sản bị tịch thu[ix]. Luật BTNN của Việt Nam không định lượng cụ thể số tiền mà xác định dựa trên mức lương tối thiểu.

Trong mối quan hệ với Luật BTNN của Nhật Bản, Luật ĐBHS sẽ áp dụng đối với một người bất kỳ được nhận một khoản tiền bồi thường từ việc yêu cầu đền bù thiệt hại theo các quy định của Luật BTNN và các đạo luật khác. Nếu người được quyền nhận bồi thường thiệt hại hình sự đã được bồi thường thiệt hại về cùng một lý do theo quy định của các đạo luật khác, thì không được bồi thường thiệt hại hình sự nếu khoản bồi thường thiệt hại đã nhận đó là bằng với hoặc vượt quá khoản bồi thường thiệt hại hình sự sẽ được trả theo Luật này.Trường hợp khoản bồi thường thiệt hại đã nhận ít hơn khoản bồi thường thiệt hại hình sự sẽ được trả theo Luật này, khoản bồi thường thiệt hại hình sự sẽ được xác định bằng cách trừ đi khoản bồi thường thiệt hại đã nhận. Nếu người được quyền nhận bồi thường theo các luật khác đã được bồi thường thiệt hại hình sự phù hợp với Luật này về cùng một lý do, Tòa án sẽ ấn định tổng số bồi thường thiệt hại bằng cách trừ khi khoản bồi thường thiệt hại hình sự đã nhận (Điều 5 Luật ĐBHS).

ThS. Chu Thị Tuyết Lan

Cục Bồi thường nhà nước


[i] Báo cáo số 179/BC-ĐKS ngày 05/10/2012 về kết quả khảo sát pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường nhà nước tại Nhật Bản.

[ii] Báo cáo số 179/BC-ĐKS ngày 05/10/2012 về kết quả khảo sát pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường nhà nước tại Nhật Bản.

[iii] Kỷ yếu các tọa đàm về Luật Bồi thường Nhà nước, Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Dự án hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản (2003 - 2006).

[iv] Kỷ yếu các tọa đàm về Luật Bồi thường Nhà nước, cơ quan đại diện Nhà nước thực hiện trách nhiệm bồi thường, Dự án hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản (2003 - 2006).

[v] Báo cáo số 179/BC-ĐKS ngày 05/10/2012 về kết quả khảo sát pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường nhà nước tại Nhật Bản.

[vi] Kỷ yếu các tọa đàm về Luật Bồi thường Nhà nước, trách nhiệm bồi hoàn của công chức, Dự án hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản (2003 - 2006).

[vii] Kỷ yếu các tọa đàm về Luật Bồi thường Nhà nước, Nội dung cơ bản của Luật Đền bù hình sự, Dự án hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản (2003 - 2006).

[viii] Kỷ yếu các tọa đàm về Luật Bồi thường Nhà nước, Thủ tục yêu cầu bồi thường hình sự, Dự án hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản (2003 - 2006).

[ix] Kỷ yếu các tọa đàm về Luật Bồi thường Nhà nước, Thủ tục yêu cầu bồi thường hình sự, Dự án hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản (2003 - 2006).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: