Chủ nhật 26/07/2026 20:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

So sánh pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước của Nhật Bản và Việt Nam

Pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước của Nhật Bản được hình thành sớm. Năm 1947 Nhật Bản đã ban hành Luật Bồi thường nhà nước (Luật BTNN) và năm 1950, Nhật Bản đã ban hành Luật Đền bù hình sự năm 1950 (Luật ĐBHS) vẫn đang được thi hành trên thực tiễn. Để phục vụ cho việc nghiên cứu, sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTNN) của Việt Nam, tác giả xin giới thiệu một số nội dung cơ bản của pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước của Nhật Bản trên cơ sở so sánh với Luật TNBTNN của Việt Nam.

1. Về cơ chế pháp luật điều chỉnh trách nhiệm bồi thường

Tại Nhật Bản, hiện nay đang tồn tại hai cơ chế điều chỉnh về chế độ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo Luật BTNN năm 1947 và Luật ĐBHS năm 1950.

Luật BTNN của Nhật Bản điều chỉnh hành vi của công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, có lỗi và gây thiệt hại, cụ thể: Nếu nhân viên Chính phủ khi thực thi công quyền của Nhà nước hoặc của chính quyền địa phương, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình cố ý hoặc vô ý đã gây ra thiệt hại cho người liên quan, Nhà nước hoặc cơ quan công quyền hữu quan sẽ chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại đó. Trong trường hợp nêu trên, nếu nhân viên Chính phủ liên quan có lỗi cố ý hoặc vô ý một cách rõ ràng, Nhà nước hoặc chính quyền địa phương sẽ có quyền được hoàn trả khoản bồi thường từ nhân viên đó (Điều 1 Luật BTNN của Nhật Bản).

Khác với quy định trên, Luật ĐBHS điều chỉnh hành vi không căn cứ yếu tố lỗi, theo đó, trường hợp người mà bị bắt giữ hoặc bị giam giữ mà được tha hoặc trường hợp người mà được Tòa tuyên là vô tội (khoản 1 và khoản 2 Điều 1 Luật ĐBHS của Nhật Bản) thì sẽ được bồi thường.

So với Nhật Bản, Việt Nam chỉ có một luật điều chỉnh chung về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, không có sự phân biệt như Nhật Bản.

2. Luật Bồi thường nhà nước Nhật Bản năm 1947

So với Luật TNBTNN của Việt Nam hiện hành, Luật BTNN của Nhật Bản ít hơn về số điều, nội dung cũng không quá chi tiết, cụ thể và nhiều nội dung được dẫn chiếu áp dụng pháp luật khác có liên quan; hai luật có nhiều điểm tương đồng cũng như khác biệt, cụ thể như sau:

2.1. Về phạm vi trách nhiệm bồi thường

Luật BTNN của Nhật Bản chỉ quy định những điều kiện mang tính chất định tính, làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mà không liệt kê cụ thể từng trường hợp được bồi thường. Như vậy, giữa Luật TNBTNN của Việt Nam và Luật BTNN của Nhật Bản có sự khác nhau trong quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường, Luật BTNN của Nhật Bản không giới hạn phạm vi trách nhiệm bồi thường còn Luật TNBTNN của Việt Nam thì có sự giới hạn về phạm vi trách nhiệm bồi thường chỉ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án[i]. Luật BTNN của Nhật Bản mở rộng hơn không chỉ đối với hành vi công quyền mà còn đối với cả những hành vi phi công quyền, hoạt động sự nghiệp của đơn vị sự nghiệp công lập. Dưới đây là một ví dụ điển hình.

Một vụ việc cụ thể là các học sinh đang học tập tại một trường trung học cơ sở tại Tokyo, trong một giờ tập thể dục với bộ môn ném lao đã ném trúng đầu một người (khi đó 14 tuổi) đi ngang qua đó. Hậu quả là người đó bị thương rất nặng. Tuy nhiên có một vấn đề là giáo viên thể dục đã không có mặt tại sân khi tai nạn xảy ra[ii]. Như vậy, ví dụ này cho thấy phạm vi bồi thường của Nhật Bản còn bao gồm hành vi phi công quyền, hoạt động sự nghiệp của đơn vị sự nghiệp công lập.

Luật BTNN của Nhật Bản không có điều luật nào quy định về phạm vi các lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nước chịu sự điều chỉnh của Luật mà chỉ quy định về các trường hợp mà Nhà nước phải bồi thường (Điều 1- Bồi thường do thiệt hại gây ra bởi thiếu sót trong xây dựng và quản lý công trình công cộng). Điều này dẫn tới hai cách hiểu: Thứ nhất, Luật không quy định thì khó xác định trách nhiệm đối với Nhà nước; Thứ hai, Luật không quy định đồng nghĩa với việc luật không loại trừ bất cứ lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nước[iii].

2.2. Về đối tượng được bồi thường

Pháp luật của Việt Nam và Nhật Bản quy định rất khác nhau về vấn đề này. Luật TNBTNN của Việt Nam quy định không hạn chế về đối tượng được bồi thường, theo đó bất kỳ là cá nhân, tổ chức nào bị thiệt hại thì được Nhà nước bồi thường, miễn là trường hợp họ bị thiệt hại phải đáp ứng yêu cầu là thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Điều 2 Luật TNBTNN của Việt Nam). Trong khi đó, Luật BTNN của Nhật Bản quy định về đối tượng yêu cầu bồi thường là người bị thiệt hại; đối với người nước ngoài là người bị thiệt hại sẽ được áp dụng chỉ trong những trường hợp có sự bảo đảm nguyên tắc có đi có lại (Điều 5 Luật BTNN của Nhật Bản). Như vậy, pháp luật của Nhật Bản sẽ áp dụng đối với người nước ngoài là người bị thiệt hại khi quốc gia mà người nước ngoài đó mang quốc tịch cũng có quy định về trách nhiệm của công dân nước ngoài trong điều kiện tương tự.

2.3. Về bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Luật TNBTNN của Việt Nam, Nhật Bản đều xác định bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTNN) là một loại trách nhiệm dân sự. Luật BTNN của Việt Nam không quy định trực tiếp quan hệ pháp luật TNBTNN là một quan hệ pháp luật dân sự. Tuy nhiên, trong các quy định của Luật BTNN cũng như các quy định pháp luật khác có liên quan thì có thể khẳng định Luật BTNN của Việt Nam coi quan hệ pháp luật TNBTNN là một quan hệ pháp luật dân sự.

Trách nhiệm bồi thường do công chức, viên chức, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra đã được quy định mang tính nguyên tắc trong Bộ luật Dân sự. Về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Điều 6 Luật TNBTNN của Việt Nam quy định các điều kiện này bao gồm: Thiệt hại thực tế xảy ra, hành vi gây thiệt hại, có lỗi (lỗi không phải là yếu tố bắt buộc trong mọi trường hợp) và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại thực tế xảy ra - các điều kiện này có nhiều điểm tương đồng với quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bên cạnh đó, cơ quan có trách nhiệm bồi thường sẽ xác minh thiệt hại, thương lượng với người bị thiệt hại hoặc tham gia tố tụng tại Tòa án với tư cách là bị đơn trong trường hợp người bị thiệt hại khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường (khoản 2 và 3 Điều 8 Luật TNBTNN của Việt Nam).

Theo Luật BTNN của Nhật Bản, những quy định của Bộ luật Dân sự cũng sẽ được áp dụng đối với trách nhiệm pháp lý của Nhà nước hoặc cơ quan công quyền đối với những thiệt hại có thể được bồi thường (Điều 4). Các vụ kiện yêu cầu bồi thường nhà nước được coi là vụ kiện dân sự và được nhìn nhận là vụ việc phức tạp, được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự thông thường.

2.4. Các điều kiện xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Khác so với Luật TNBTNN của Việt Nam, Luật BTNN của Nhật Bản không quy định rõ các căn cứ mà quy định tại khoản 1 Điều 1 khẳng định lỗi là yếu tố bắt buộc có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Quy định này khác so với Luật BTNN của Việt Nam, theo đó Luật TNBTNN của Việt Nam không quy định lỗi là căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như hành vi không thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng quy định của pháp luật và được xác định trong văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (khoản 2 Điều 3). Như vậy, về mặt nguyên tắc Luật không quy định lỗi là yếu tố bắt buộc trừ một số trường hợp được quy định trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hành chính thì đòi hỏi lỗi cố ý đối với trường hợp “Ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án” (khoản 4 Điều 28) và trong lĩnh vực thi hành án dân sự thì đòi hỏi lỗi cố ý đối với trường hợp “không ra quyết định về thi hành án” và “không tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án” (Điều 38).

2.5. Về thủ tục giải quyết bồi thường

Luật BTNN của Nhật Bản quy định người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án để yêu cầu Nhà nước bồi thường.

Đối với Luật TNBTNN của Việt Nam, người bị thiệt hại không được kiện thẳng ra Tòa án ngay mà phải được giải quyết tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường trước. Việc nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường, xác minh thiệt hại, thủ tục thương lượng việc bồi thường là thủ tục bắt buộc; trường hợp mà người bị thiệt hại không đồng ý thì mới có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường ra Tòa.

2.6. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường

Luật TNBTNN của Việt Nam quy định nguyên tắc “cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại” là cơ quan có trách nhiệm bồi thường (khoản 4 Điều 3).

Luật BTNN Nhật Bản quy định về nguyên tắc, khi có thiệt hại xảy ra thì nguyên đơn có quyền khởi kiện tại Tòa án. Trong vụ kiện tại Tòa án, Nhà nước sẽ là bị đơn trong vụ kiện và Bộ trưởng Bộ Tư pháp là người đại diện cho Nhà nước để tham gia tố tụng[iv]. Như vậy, về cơ chế giải quyết bồi thường, trong vụ việc tại Tòa án thì theo Luật BTNN của Nhật Bản thì Bộ Tư pháp luôn đại diện cho Nhà nước là bị đơn, còn theo Luật TNBTNN của Việt Nam thì đại diện của từng cơ quan sẽ đại diện cho Nhà nước với tư cách là bị đơn[v].

2.7. Về quyền yêu cầu bồi thường

Theo Luật TNBTNN của Việt Nam trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án có quy định người bị thiệt hại muốn thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình thì trong hồ sơ yêu cầu bồi thường bắt buộc phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, trong khi đó, Luật BTNN của Nhật Bản quy định đơn giản hơn, theo hướng, người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án để yêu cầu Nhà nước bồi thường.

2.8. Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ

Luật TNBTNN của Việt Nam và Nhật Bản có nhiều quy định khác nhau về vấn đề trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ. Luật BTNN của Nhật Bản có quy định nếu nhân viên chính phủ liên quan có lỗi cố ý hoặc vô ý một cách rõ ràng, Nhà nước hoặc chính quyền địa phương sẽ có quyền được yêu cầu một khoản bồi hoàn từ nhân viên đó. Theo quy định Luật TNBTNN của Việt Nam, trách nhiệm hoàn trả là một nghĩa vụ bắt buộc, người thi hành công vụ có lỗi khi gây ra thiệt hại thì phải hoàn trả. Cụ thể, “Người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền” (khoản 1 Điều 56). Riêng trong hoạt động tố tụng hình sự, Luật TNBTNN của Việt Nam có sự phân biệt giữa lỗi cố ý và vô ý theo đó thì người thi hành công vụ chỉ phải chịu trách nhiệm hoàn trả khi có lỗi cố ý (khoản 2 Điều 56).

Như vậy, trách nhiệm bồi hoàn hay hoàn trả của công chức theo quy định của pháp luật Nhật Bản rất linh hoạt có tính đến yếu tố tiêu cực - mặt trái của chế định pháp luật này; theo đó, công chức chỉ phải hoàn trả khi gây thiệt hại mà có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng. Tuy nhiên, trên thực tiễn áp dụng pháp luật bồi thường nhà nước Nhật Bản từ năm 1947 cho đến nay, chưa có trường hợp nào mà công chức Nhật Bản phải thực hiện trách nhiệm hoàn trả lại cho Nhà nước, mà việc xử lý công chức đó như thế nào sẽ phụ thuộc vào các hình thức xử lý mà pháp luật về công chức của Nhật Bản quy định[vi].

3. Luật Đền bù hình sự của Nhật Bản năm 1950

Luật ĐBHS của Nhật Bản lầu đầu tiên được ban hành năm 1913, tuy nhiên, những điều kiện cần thiết để được bồi thường là tương đối hạn chế so với Luật ĐBHS hiện hành. Trước Chiến tranh ở Nhật Bản, vấn đề thực hiện công quyền, hệ thống trách nhiệm của Nhà nước đã không được sử dụng, việc ban hành Luật ĐBHS là một việc làm được đánh giá là có ý nghĩa. Điều 40 của Hiến pháp Nhật Bản quy định một người bất kỳ nếu không bị kết tội sau khi bị tạm giam hoặc bị giam, có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường theo quy định của pháp luật. Bởi vậy, quyền đòi bồi thường thiệt hại hình sự đã được đặt ra như quyền do Hiến pháp quy định. Căn cứ vào điều luật này, Luật ĐBHS mới được ban hành, được công bố và có hiệu lực vào năm 1950 thay thế luật cũ[vii]. Luật ĐBHS của Nhật Bản năm 1950 không kết cấu thành các chương, gồm 26 Điều và những quy định bổ sung ở các văn bản dưới luật và các luật sửa đổi, bổ sung.

3.1. Về các trường hợp được bồi thường

Nếu như Luật TNBTNN của Việt Nam có quy định về các trường hợp được bồi thường từ giai đoạn khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án (Điều 26) thì Luật ĐBHS của Nhật Bản quy định về các trường hợp được bồi thường tại giai đoạn xét xử khi có phán quyết của Tòa án. Theo đó, khoản 1 Điều 1 Luật ĐBHS của Nhật Bản quy định: Trường hợp một người bất kỳ đã được phán quyết vô tội theo thủ tục thông thường, thủ tục tái thẩm, hoặc thủ tục kháng cáo đặc biệt theo quy định tại Bộ luật tố tụng Hình sự, đã bị đặt trong tình trạng bị bắt giữ, bị giam giữ chờ xét xử theo quy định có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường cho việc bị bắt giữ hoặc bị giam giữ đó; khoản 2 Điều 1 Luật ĐBHS của Nhật Bản quy định: Trường hợp một người bất kỳ đã được tuyên bố "vô tội" bằng một quyết định theo thủ tục kháng cáo do đã khôi phục quyền kháng cáo, thủ tục xét xử lại, hoặc thủ tục kháng cáo đặc biệt, mà đã chấp hành hình phạt theo bản án sơ thẩm, hoặc đã bị tù giam theo các quy định tại Bộ luật Hình sự có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường cho việc chấp hành hình phạt hoặc bị tù giam đó.

3.2. Trường hợp không được bồi thường

Thứ nhất, khoản 1 Điều 3 Luật ĐBHS của Nhật Bản và khoản 2 Điều 27 Luật TNBTNN của Việt Nam quy định giống nhau về trường hợp không được bồi thường do việc khai báo gian dối, việc lập lời thú tội gian dối với mục đích làm sai lệnh việc điều tra hoặc xét xử, hoặc do cung cấp tài liệu, vật chứng sai sự thật, việc giả mạo những chứng cứ khác dẫn đến việc kết án đó.

Thứ hai, khoản 2 Điều 3 Luật ĐBHS của Nhật Bản và khoản 3 Điều 27 Luật TNBTNN của Việt Nam quy định giống nhau về trường hợp một người phạm nhiều tội, nhưng được ra quyết định "vô tội" đối với một tội trong những tội người này phạm phải, nhưng bị kết án bằng quyết định đối với những tội khác.

Ngoài ra, Luật TNBTNN của Việt Nam quy định về các trường hợp không được bồi thường như: Miễn trách nhiệm hình sự, vụ án được đình chỉ do người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố, do thay đổi chính sách pháp luật.

3.3. Thủ tục yêu cầu bồi thường hình sự

Nếu như Luật TNBTNN của Việt Nam, người bị thiệt hại không được kiện thẳng ra Tòa án ngay mà phải được giải quyết tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường trước. Việc nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường, xác minh thiệt hại, thủ tục thương lượng việc bồi thường là thủ tục bắt buộc; trường hợp mà người bị thiệt hại không đồng ý thì mới có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường ra Tòa.

Luật ĐBHS của Nhật Bản theo đó, yêu cầu bồi thường của người bị oan sai được gửi đến Tòa án đã xử cho họ vô tội. Yêu cầu bồi thường có thể thực hiện thông qua người đại diện. Người đã nộp yêu cầu bồi thường mà sau đó rút đơn thì người đã rút đơn không thể yêu cầu bồi thường được nữa. Khi nhận đơn yêu cầu Tòa án đã thụ lý phải hỏi ý kiến của kiểm sát viên và người đệ đơn yêu cầu để ra quyết định về mức bồi thường. Trường hợp yêu cầu bồi thường có căn cứ, Tòa án sẽ ra phán quyết về mức bồi thường; nếu không có căn cứ, Tòa án sẽ bác đơn. Nếu người yêu cầu thấy mức bồi thường mà Tòa án phán quyết không thỏa đáng thì có thể kháng cáo lên Tòa án phúc thẩm[viii].

3.4. Về mức bồi thường hình sự

Theo đó, Luật ĐBHS của Nhật Bản quy định mức bồi thường cụ thể: Mức bồi thường hình sự đối với việc bị bắt, giam giữ, tù khổ sai, tù cầm cố, tiền bồi thường sẽ tương ứng với số ngày bị bắt, giam giữ theo mức từ 1000 yên đến không quá 12.500 yên/ ngày. Mức bồi thường đối với án từ hình sai là 30 triệu yên, trường hợp chứng minh được tổn thất về mặt tài sản phát sinh do cái chết của đương sự, tiền bồi thường được tính trong phạm vi bị tổn thất của đương sự cộng với 30 triệu yên. Đồng thời, Luật ĐBHS của Nhật Bản cũng quy định bồi thường đối với án phạt tiền hoặc phạt tiền mức nhẹ, bồi thường đối với tài sản bị tịch thu[ix]. Luật BTNN của Việt Nam không định lượng cụ thể số tiền mà xác định dựa trên mức lương tối thiểu.

Trong mối quan hệ với Luật BTNN của Nhật Bản, Luật ĐBHS sẽ áp dụng đối với một người bất kỳ được nhận một khoản tiền bồi thường từ việc yêu cầu đền bù thiệt hại theo các quy định của Luật BTNN và các đạo luật khác. Nếu người được quyền nhận bồi thường thiệt hại hình sự đã được bồi thường thiệt hại về cùng một lý do theo quy định của các đạo luật khác, thì không được bồi thường thiệt hại hình sự nếu khoản bồi thường thiệt hại đã nhận đó là bằng với hoặc vượt quá khoản bồi thường thiệt hại hình sự sẽ được trả theo Luật này.Trường hợp khoản bồi thường thiệt hại đã nhận ít hơn khoản bồi thường thiệt hại hình sự sẽ được trả theo Luật này, khoản bồi thường thiệt hại hình sự sẽ được xác định bằng cách trừ đi khoản bồi thường thiệt hại đã nhận. Nếu người được quyền nhận bồi thường theo các luật khác đã được bồi thường thiệt hại hình sự phù hợp với Luật này về cùng một lý do, Tòa án sẽ ấn định tổng số bồi thường thiệt hại bằng cách trừ khi khoản bồi thường thiệt hại hình sự đã nhận (Điều 5 Luật ĐBHS).

ThS. Chu Thị Tuyết Lan

Cục Bồi thường nhà nước


[i] Báo cáo số 179/BC-ĐKS ngày 05/10/2012 về kết quả khảo sát pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường nhà nước tại Nhật Bản.

[ii] Báo cáo số 179/BC-ĐKS ngày 05/10/2012 về kết quả khảo sát pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường nhà nước tại Nhật Bản.

[iii] Kỷ yếu các tọa đàm về Luật Bồi thường Nhà nước, Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Dự án hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản (2003 - 2006).

[iv] Kỷ yếu các tọa đàm về Luật Bồi thường Nhà nước, cơ quan đại diện Nhà nước thực hiện trách nhiệm bồi thường, Dự án hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản (2003 - 2006).

[v] Báo cáo số 179/BC-ĐKS ngày 05/10/2012 về kết quả khảo sát pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường nhà nước tại Nhật Bản.

[vi] Kỷ yếu các tọa đàm về Luật Bồi thường Nhà nước, trách nhiệm bồi hoàn của công chức, Dự án hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản (2003 - 2006).

[vii] Kỷ yếu các tọa đàm về Luật Bồi thường Nhà nước, Nội dung cơ bản của Luật Đền bù hình sự, Dự án hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản (2003 - 2006).

[viii] Kỷ yếu các tọa đàm về Luật Bồi thường Nhà nước, Thủ tục yêu cầu bồi thường hình sự, Dự án hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản (2003 - 2006).

[ix] Kỷ yếu các tọa đàm về Luật Bồi thường Nhà nước, Thủ tục yêu cầu bồi thường hình sự, Dự án hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản (2003 - 2006).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: