Thứ tư 29/04/2026 15:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự cần thiết của hoạt động trợ giúp pháp lý trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Hiện nay, công tác trợ giúp pháp lý đã đạt được nhiều kết quả, góp phần phát huy vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Bài viết này phân tích một số khía cạnh lý luận và thực tiễn về sự cần thiết của hoạt động trợ giúp pháp lý trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.


Abstract: Legal aid work has currently gained good results contributing to the promotion of the role of law in the protection of rights and legal interests of citizens, the political stabilization, order and social security. This article analyses some theoretical and practical aspects on the need of legal aid work in the current social life of Vietnam.

Cho đến nay, qua 20 năm hình thành và phát triển, công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) đã đạt được nhiều kết quả, khẳng định được vị trí và vai trò của mình trong việc giúp đỡ về mặt pháp luật cho đông đảo người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng khác, góp phần phát huy vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đặc biệt, vừa qua, ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi), qua đó đánh dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế công tác này. Đây là một trong những luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ban hành nhằm triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 và thay thế Luật Trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11. Trong giai đoạn tiếp theo, cần phải tiếp tục truyền thông mạnh mẽ về vị trí, vai trò của TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam để nhiều người biết về quyền được TGPL, tổ chức TGPL... để tìm đến và sử dụng dịch vụ, đồng thời có sự quan tâm thích đáng đến công tác TGPL. Bài viết này xin phân tích một số khía cạnh lý luận và thực tiễn về sự cần thiết của hoạt động TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay (hay cũng chính là vị trí, vai trò của TGPL) như sau:

1. Yêu cầu từ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trong Nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng, Nhà nước có trách nhiệm xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật, quan tâm đến người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội bằng các chính sách, pháp luật và các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ cụ thể và đưa họ vào đời sống Nhà nước và pháp luật để pháp luật thực sự phản ánh ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lại càng phải quan tâm, chú trọng hơn nhằm tăng cường các biện pháp để bảo vệ quyền, lợi ích của nhóm dân cư này, hạn chế phân hóa giàu nghèo, bảo đảm công bằng xã hội, thực thi trên thực tế nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thể hiện tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Vì vậy, chính Nhà nước phải là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong bảo đảm cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội có được chính sách, pháp luật bình đẳng, tạo điều kiện cho họ được hỗ trợ, giúp đỡ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi TGPL phải tồn tại và hướng đến mục tiêu bảo đảm bình đẳng trước pháp luật. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, TGPL gắn với quá trình giải quyết những vấn đề nảy sinh trong các mối quan hệ xã hội đã giúp nâng cao nhận thức pháp luật cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội. Thông qua những vụ việc cụ thể, TGPL đã giúp những nhóm người này nắm bắt được nội dung pháp luật và cách thức áp dụng để giải quyết các vấn đề cụ thể trong cuộc sống giúp họ nắm được nội dung các văn bản pháp luật, hiểu và vận dụng, sử dụng pháp luật một cách chính xác, tích cực để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các quan hệ xã hội. Có thể nói, TGPL là một trong những khâu làm hoàn chỉnh hơn vai trò của Ngành Tư pháp từ việc xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật để đưa pháp luật vào đời sống xã hội có hiệu quả, qua đó, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

2. Yêu cầu trong việc bảo đảm quyền con người

Xuất phát điểm của việc hình thành và phát triển TGPL trên thế giới chính là góp phần thi hành dân chủ, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, tôn trọng nhân quyền, khơi dậy và phát huy tiềm năng con người, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã ghi nhận: “Quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật và quyền được bào chữa”; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng trước các Tòa án, cơ quan tài phán và có quyền được hưởng một cách đầy đủ, bình đẳng quyền được bào chữa, ngay cả khi họ không có điều kiện chi trả”. Ngày càng có nhiều điều ước, hiệp ước quốc tế, kế hoạch hành động, các tuyên bố quốc tế yêu cầu hoặc khuyến khích các quốc gia ban hành các đạo luật để bảo đảm quyền con người, quyền công dân... Việc Việt Nam là thành viên của nhiều Công ước quốc tế về quyền con người đặt ra yêu cầu Nhà nước cần có trách nhiệm bảo đảm thực thi trên thực tế các quyền đó, kiểm soát được các tiêu cực mới phát sinh. Nhà nước phải thể hiện vai trò của mình trong bảo đảm thực hiện trên thực tế các quyền con người, quyền công dân cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội để họ có điều kiện bình đẳng với các chủ thể khác khi tham gia đời sống xã hội và pháp luật. Nhà nước phải có trách nhiệm cung ứng các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho nhóm người này, đồng thời kiểm soát được chất lượng các dịch vụ này, bảo đảm công bằng, bình đẳng với các đối tượng khác trong xã hội. Bởi vì họ là nhóm đối tượng yếu thế, không có đủ năng lực, điều kiện nắm bắt, sử dụng pháp luật để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, vì thế, hơn ai hết họ phải được quan tâm, giúp đỡ. Có như vậy, mới phản ánh đúng đắn và đầy đủ bản chất Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mới bảo đảm để tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tạo lập công bằng, bình đẳng trên thực tế giữa các chủ thể.

3. Yêu cầu trong việc bảo đảm quyền bào chữa, nguyên tắc tranh tụng và công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”; “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, tức là phán quyết của Tòa án phải dựa trên kết quả tranh tụng, như vậy, vai trò của người bào chữa trong phiên tòa ngày càng quan trọng, nếu không có người bào chữa tham gia thì không thể bảo đảm nguyên tắc tranh tụng và khó có phiên tòa công bằng. Như vậy, đội ngũ người bào chữa nói chung cần được tăng cường hơn nữa nhằm đáp ứng nguyên tắc tranh tụng tại Tòa án và quyền bào chữa theo tinh thần Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Một trong những cách thức để tổ chức thi hành những quy định mới về quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực tư pháp là sử dụng đúng mục đích, hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và huy động tối đa nguồn lực xã hội để đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu TGPL, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó nâng cao vị thế, vai trò của pháp luật trong quản lý đất nước, quản lý xã hội và bảo vệ quyền công dân, góp phần xây dựng nền tư pháp công bằng, dân chủ. Đồng thời, qua quá trình thực hiện nghiệp vụ, hoạt động TGPL cũng sẽ góp phần thực thi công lý, giúp Tòa án thực hiện đúng nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, đưa ra các phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, giảm thiểu các lượng án oan sai trong các phiên tòa hình sự. Hơn nữa, góp phần hướng dẫn giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc phức tạp, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài trong thời gian dài do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến giảm lòng tin của người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính đối với pháp luật của Nhà nước; góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phù hợp với mục tiêu cải cách tư pháp. Đồng thời, công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp cũng đòi hỏi phải đẩy mạnh xã hội hóa (đa dạng hóa nguồn lực) hoạt động TGPL góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp công trong lĩnh vực TGPL, phát huy tính chủ động, nâng cao ý thức thực hiện trách nhiệm xã hội của các tổ chức xã hội, nhất là của đội ngũ luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư trong việc TGPL cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội.

4. Yêu cầu từ công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, dân tộc và chính sách an sinh xã hội

Trong những năm qua, một trong những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm là công tác xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là giảm nghèo bền vững được coi là một quyết sách lớn để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Công tác này đã được triển khai khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, y tế... Với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững và bảo đảm các chính sách an sinh xã hội trên thực tế, đặt ra yêu cầu TGPL phải trở thành một nội dung quan trọng trong tổng thể chương trình xóa đói, giảm nghèo và an sinh xã hội. Có ý nghĩa giảm nghèo về mặt pháp luật, TGPL giúp chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước càng trở nên toàn diện hơn; hơn nữa, cùng chung đối tượng hướng đến, do đó, TGPL đã được coi như là một bộ phận cấu thành trong tổng thể giải pháp xóa đói, giảm nghèo, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm công bằng xã hội, là một chính sách lớn trong tổng thể các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Việc thành lập tổ chức TGPL miễn phí cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính ở Việt Nam ban đầu xuất phát từ chủ trương xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, đảm bảo công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước. Tại kỳ họp lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ngày 18/6/1997, lần đầu tiên trong Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ đạo định hướng triển khai công tác TGPL theo hướng: “Tổ chức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí”. Đây là cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng, khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận pháp luật của người nghèo. Chính vì vậy, đòi hỏi công tác này cần phải lấy người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính làm trung tâm cho mọi chính sách và hoạt động của mình.

5. Yêu cầu từ thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý

Trong thị trường dịch vụ pháp lý nói chung, luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư là một bộ phận giữ vai trò lớn bên cạnh các thiết chế của Nhà nước và xã hội khác là Trung tâm TGPL nhà nước, Trung tâm tư vấn pháp luật của các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp, chính trị - xã hội; luật gia, chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, tư pháp... Tính đến hết tháng 6/2017, cả nước có 3.757 tổ chức hành nghề luật sư với 11.396 luật sư, tuy nhiên, số lượng luật sư này so với tổng dân số trên cả nước còn rất thấp và có sự phát triển mất cân đối giữa khu vực thành thị và khu vực miền núi, trung du. Tính trên tổng dân số 95 triệu thì trung bình hơn 8.000 người dân mới có 01 luật sư. Tỷ lệ này là quá nhỏ so với nhu cầu tiếp cận và sử dụng pháp lý của người dân, đặc biệt là người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội.

Có thể thấy, số lượng luật sư ở nước ta hiện nay chưa đủ để đáp ứng nhu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng tăng của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trên thực tế, chỉ khoảng trên 20% vụ án hình sự trong cả nước có sự tham gia của luật sư. Ở nhiều địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, số lượng luật sư chưa đủ để bào chữa trong các vụ án bắt buộc có sự tham gia của luật sư mà phải mời các luật sư ở địa phương khác, do đó, nhiều vụ án phải tạm hoãn, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng. Sự thiếu vắng luật sư trong nhiều vụ án hình sự (khoảng 80%) đã không bảo đảm được nguyên tắc tranh tụng, quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án.

Khi mà đội ngũ luật sư còn quá ít, chưa đủ số lượng để đáp ứng được nhu cầu pháp lý trong dân cư, hơn nữa, việc cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư là hoạt động có thu phí thì người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính… khó có thể tiếp cận được dịch vụ của luật sư. Họ thường không có điều kiện về kinh tế để tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí nên trong nhiều trường hợp không được tư vấn pháp luật hoặc không có luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm hại. Xuất phát từ yêu cầu trên, tổ chức TGPL của Nhà nước ra đời và phát triển đã tạo cơ chế cần thiết để người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội được tiếp cận và sử dụng dịch vụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình để tham gia vào các quan hệ xã hội, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật và góp phần thực hiện công bằng xã hội. Sự ra đời và phát triển của TGPL như một “mảnh ghép” trong thị trường dịch vụ pháp lý nói chung, chỉ khác rằng người được thụ hưởng lại hoàn toàn được miễn phí và TGPL là trách nhiệm của Nhà nước, Nhà nước sẽ tổ chức thực hiện nhiệm vụ này.

6. Yêu cầu trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và khắc phục hệ quả từ mặt trái của nền kinh tế thị trường

Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và việc hội nhập với nền kinh tế thế giới, mặt tích cực là thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển nhưng đi kèm với nó là một số biểu hiện tiêu cực như gia tăng sự phân hóa giàu - nghèo, đồng thời đưa đến những hệ lụy khác trong xã hội. Những vấn đề đó, nhất là sự phân hóa giàu - nghèo ngày càng rõ rệt, khoảng cách về kinh tế ngày càng cách xa thì tất yếu sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các điều kiện y tế, giáo dục, văn hóa…, trong đó có việc tiếp cận các dịch vụ pháp lý. Hơn nữa, từ các vấn đề của nền kinh tế đã dẫn đến phát sinh những mối quan hệ trong xã hội đòi hỏi sự điều chỉnh của pháp luật.

Mặt khác, trong điều kiện hệ thống pháp luật nước ta đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện, số lượng văn bản pháp luật ngày càng nhiều và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung thì việc người dân tiếp cận với pháp luật để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, xử sự phù hợp trong các quan hệ xã hội không phải dễ dàng, do đó, TGPL của Nhà nước cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính là yêu cầu khách quan và cần thiết. Hơn nữa, thông qua hoạt động TGPL cũng có thể phát hiện ra các quy định pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo để đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Đồng thời, các vụ việc kiến nghị công vụ cũng góp phần tăng thêm vai trò, trách nhiệm cho cơ quan nhà nước khi thực thi công vụ.

7. Yêu cầu trong quá trình hội nhập thế giới một cách toàn diện

Mặc dù có sự khác nhau trong định hướng xu hướng phát triển giữa những nước có hệ thống TGPL phát triển lâu đời và những nước mới thành lập nhưng mục đích chung mà các nước đều hướng đến là sử dụng TGPL như một công cụ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho nhóm người yếu thế trong xã hội. Mặt khác, năm 2012, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thừa nhận TGPL là một thành tố cơ bản của hệ thống tư pháp hình sự dựa trên nguyên tắc pháp quyền, là cơ sở cho việc thụ hưởng các quyền khác. Nhà nước cần bảo đảm tất cả những người bị bắt, bị giam giữ, bị tình nghi hoặc vi phạm luật hình sự bị phạt tù có thời hạn hoặc bị kết án tử hình đều có quyền được TGPL ở tất cả các giai đoạn của tư pháp hình sự. Như vậy, quyền được tiếp cận TGPL là quyền rất quan trọng trong tư pháp hình sự thế giới. Trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì quyền tiếp cận TGPL cũng cần được coi là quyền cơ bản của công dân, bảo đảm bất kỳ người dân không phân biệt giàu hay nghèo đều có quyền có luật sư bảo vệ trong phiên tòa hình sự để hưởng phiên tòa công bằng. Bên cạnh đó, ngày 12/11/2013, Việt Nam đã chính thức là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc, đây là Hội đồng có tiếng nói quan trọng nhất trong hệ thống các thể chế của Liên Hợp Quốc về quyền con người, góp phần thúc đẩy sự tôn trọng và bảo vệ trên phạm vi toàn cầu các quyền con người và tự do cơ bản một cách công bằng, bình đẳng và không phân biệt đối xử. Điều này sẽ vừa là cơ hội, vừa là thách thức trong vấn đề bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam, trong đó, vấn đề bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự được coi là một trong những vấn đề cơ bản của nhân quyền. Hiện nay, Cơ quan phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) được Hội đồng Liên Hợp Quốc giao nhiệm vụ chủ trì cùng các nước xây dựng Luật Mẫu TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự, là nền tảng, căn cứ để các nước tham khảo, học tập áp dụng mô hình phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội với mình.

Hiện nay, có một nhận thức mang tính quốc tế, đó là tiếp cận công lý là một quyền cơ bản của con người liên quan đến pháp luật hình sự. Con người không thể bị cản trở tiếp cận với công lý, đặc biệt khi quyền tự do hoặc cuộc sống của họ bị đe dọa do thiếu nguồn lực để thuê luật sư bảo vệ. Nhiều nước trên thế giới coi TGPL là một trong các tiêu chí của Nhà nước pháp quyền, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người. Hiến pháp nhiều nước quy định quyền được TGPL trong tư pháp hình sự là một trong các quyền cơ bản của công dân, bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho những người không có khả năng thuê luật sư, đặc biệt trong vụ án hình sự. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật. Xuất phát từ việc hội nhập thế giới mang tính toàn diện, chế định TGPL là rất cần thiết để giúp đỡ pháp lý cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội.

8. Yêu cầu từ thực tiễn

Nhìn từ thực tiễn hai mươi năm xây dựng và phát triển có thể thấy rằng, đây là chặng đường đầy gian khó để TGPL xác định cho mình một chỗ đứng, một vị thế, một mô hình tổ chức phù hợp, phản ánh đúng vị trí, vai trò, đồng thời phát huy hiệu quả của TGPL trong việc thực hiện quyền con người, quyền công dân, góp phần vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chính từ thực tiễn đó đã yêu cầu công tác TGPL tiếp tục phát triển hơn nữa để đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân. Theo kết quả tổng hợp báo cáo công tác TGPL trong toàn quốc, từ năm 1997 đến hết tháng 6/2017, đã có 2.179.792 lượt người được TGPL trong 2.113.195 vụ việc TGPL (tư vấn pháp luật là 1.913.345 vụ, chiếm 90,54%, tham gia tố tụng là 140.574 vụ, chiếm 6,65%, đại diện ngoài tố tụng là 3.921 vụ, chiếm 0,19%, còn lại là hình thức khác). Từ sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới công tác TGPL ở Việt Nam giai đoạn 2015 - 2025, tỉ lệ vụ việc tham gia tố tụng trên tổng số vụ việc TGPL tăng lên so với năm trước, cụ thể, số vụ việc tham gia tố tụng trên tổng số vụ việc TGPL năm 2015 là 6,92%, năm 2016 là 12,16% và 06 tháng đầu năm 2017 là 21,92%. Tỉ lệ vụ việc tham gia tố tụng do trợ giúp viên pháp lý thực hiện trên tổng số vụ việc tham gia tố tụng cũng tăng theo từng năm, nếu năm 2014 tỉ lệ này là 43% thì năm 2015 là 49,32% và năm 2016 là 74,24%. Đặc biệt, Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2017 với việc mở rộng đối tượng TGPL từ 06 nhóm đối tượng được TGPL theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 lên 14 nhóm đối tượng (khoảng 40 triệu dân số thuộc diện được TGPL), vì vậy, dự kiến vụ việc TGPL trong thời gian tới sẽ tăng lên đáng kể.

Có thể khẳng định, vai trò và ý nghĩa của TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết và quan trọng. TGPL thể hiện được bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; tạo lập cơ chế bảo đảm công bằng xã hội, mọi công dân dù giàu hay nghèo đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tiếp cận dịch vụ pháp lý như nhau trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường. TGPL là một trong những hình thức đưa chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa và bảo đảm công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần hoàn thiện bộ máy nhà nước, hoàn thiện pháp luật và nâng cao trách nhiệm công vụ, đồng thời, TGPL góp phần thiết thực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; nâng cao ý thức pháp luật và trình độ dân trí để người dân biết cách tự ứng xử phù hợp với các quy định pháp luật, góp phần lành mạnh hóa quan hệ xã hội, một phần củng cố lòng tin của người dân vào Nhà nước, pháp luật, góp phần ổn định chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế. Để tăng cường nhận thức vị trí và vai trò công tác TGPL trong xã hội, trong thời gian tới cần đẩy mạnh truyền thông về Luật Trợ giúp pháp lý và hoạt động TGPL thông qua nhiều phương thức đa dạng, phù hợp với các chủ thể khác nhau trong xã hội. Đồng thời, hệ thống TGPL cần tự tăng cường năng lực của mình để đáp ứng nhu cầu TGPL kịp thời, có chất lượng - Đó là kênh truyền thông hiệu quả nhất về vị trí, vai trò TGPL trong xã hội, bởi lẽ thông thường rằng “hữu xạ tự nhiên hương”.

Trịnh Thị Thanh

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: