Thứ tư 20/05/2026 08:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự cần thiết xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội

Tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội là một vấn đề còn khá mới mẻ không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Tại các văn bản luật của Việt Nam, chưa có quy định chính thức nào quy định về tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội mà chỉ có quy định về tiêu chuẩn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân[1].

Tuy nhiên, cùng với rà soát, kịp thời bổ sung những điều kiện bảo đảm cho hoạt động của đại biểu Quốc hội, phải hết sức coi trọng công tác theo dõi, nhận xét, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội. Phải làm sao để việc nhận xét, đánh giá hoạt động đại biểu nhằm sàng lọc cho nhiệm vụ tiếp theo của Quốc hội hạn chế tối đa những “ông nghị”, “bà nghị” chưa làm hết trách nhiệm và thiếu bản lĩnh trong quá trình thực hiện quyền, nhiệm vụ theo luật định.

Dõi theo các hoạt động tại nghị trường Quốc hội có thể thấy, số đại biểu “đăng đàn” phát biểu tỏ rõ quan điểm về những vấn đề lớn của đất nước, đề xuất cơ chế, chính sách, chế định của pháp luật để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; dám chất vấn đối với cơ quan, cá nhân về những sai phạm khiến cử tri và nhân dân bức xúc chiếm tỷ lệ còn quá khiêm tốn. Số đại biểu có trách nhiệm và bản lĩnh ấy thường là đại biểu chuyên trách và đại biểu ở các tổ chức chính trị, xã hội. Một thực tế đáng buồn là rất nhiều đại biểu Quốc hội đang đảm đương chức danh cấp ủy ở địa phương, có người là Ủy viên Trung ương Đảng, nhưng hầu như không thấy “đăng đàn” chất vấn hoặc nếu có phát biểu thì cũng chung chung, không thể hiện rõ quan điểm trước vấn đề “nóng” trong quản lý nhà nước... Có đại biểu Hội đồng nhân dân cả nhiệm kỳ không hề phát biểu[2].

1. Một số vấn đề về đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội hiện nay

Thứ nhất, chất lượng thảo luận tại các phiên họp toàn thể, các buổi thảo luận chuyên đề, trình dự án luật về hoạt động xây dựng pháp luật

Với những dự án văn bản quan trọng, các đại biểu thảo luận tại các phiên họp toàn thể, các buổi thảo luận chuyên đề về hoạt động xây dựng pháp luật được nâng lên rõ rệt. Các đại biểu Quốc hội thẳng thắn nói tiếng nói cử tri, bày tỏ ý kiến, phản ánh, đề nghị của các cử tri mà mình có trách nhiệm truyền tải và bảo vệ. Các đại biểu đã có tính độc lập cao, tranh luận sôi nổi, bám sát ý kiến, yêu cầu của cử tri. Nhiều đại biểu đã phát biểu riêng cho hoạt động lập pháp, phát biểu không chỉ với tư cách chuyên gia cấp cao trong lĩnh vực pháp luật mà còn với tấm lòng nhiệt huyết, lương tri đại biểu trong việc phản ánh ý chí của cử tri. Bên cạnh đó, còn có những đại biểu mạnh dạn đề xuất dự án luật với tư cách cá nhân.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của đại biểu Quốc hội cũng tồn tại nhiều hạn chế. Xây dựng luật là quyền hiến định đối với đại biểu Quốc hội, nhưng trên thực tế, số lượng đề xuất, kiến nghị của đại biểu về chương trình xây dựng luật gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội còn ít. Cùng với quá trình soạn dự thảo luật, công việc khởi đầu này thường giao và phụ thuộc nhiều vào cơ quan hành pháp. Nó tạo nên sự thụ động, trông chờ của Quốc hội vào phía các nhà quản lý hành chính. Đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm còn nhiều, bộ phận giúp việc hạn chế, việc thuê khoán các chuyên gia chưa phổ biến, quan niệm đại biểu là một “nghề” cần chuyên sâu đang hình thành, nên rất khó để yêu cầu đại biểu có thể hoàn tất quyền hiến định quan trọng này. Thực tế còn có hiện tượng, đại biểu Quốc hội tiến hành thảo luận ở tổ, đoàn và tại phiên họp toàn thể mà không “ngó ngàng” gì tới tài liệu; những ý kiến trái chiều hoặc tranh luận chủ yếu tập trung vào một số đại biểu có vị trí tương đối độc lập với nhánh hành pháp. Một số đại biểu vẫn than phiền là tài liệu quá nhiều, nhưng có thể do không biết cách xử lý nên vẫn thiếu thông tin để chuẩn bị cho phiên họp và hậu quả là không phát biểu ý kiến một lần nào. Bên cạnh đó, trong kỳ họp, nhiều đại biểu Quốc hội đã chuẩn bị kĩ những ý kiến để tham gia, viết thành bài phát biểu, nhưng cũng vì thế mà bị lệ thuộc vào bài viết, thiếu khả năng ứng phó tức thời, nên đã xảy ra tình trạng trùng lặp ý kiến.

Thứ hai, chất lượng hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội

Hoạt động chất vấn luôn có sự đổi mới để nâng cao chất lượng như: Chất vấn theo nhóm vấn đề, tăng thời gian chất vấn tại hội trường, hạn chế thấp nhất thời gian trả lời bằng văn bản, nâng cao kỹ năng hỏi - đáp trong các buổi chất vấn, đảm bảo đúng nội dung, ngắn gọn, nghiêm túc và có tính trách nhiệm. Số lượng và chất lượng các câu hỏi chất vấn ngày càng được nâng cao, bám sát yêu cầu của cử tri. Việc tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri, theo dõi việc thực hiện lời hứa của chủ thể trả lời chất vấn được thực hiện đều đặn. Hình thức giám sát tối cao qua chất vấn của Quốc hội có nhiều đổi mới, đã tăng thời gian chất vấn từ 2,5 ngày lên 3 ngày. Tại phiên chất vấn, không chỉ kiến thức, sự am hiểu mà cả kỹ năng phát biểu của các đại biểu Quốc hội cũng tốt hơn, các đại biểu không chỉ chất vấn, tranh luận với Bộ trưởng, các thành viên Chính phủ mà còn thẳng thắn giơ biển xin tranh luận lại với chính đại biểu Quốc hội khác...

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội vẫn còn những hạn chế. Suốt quá trình họp, nhiều đại biểu không hề chất vấn, mang tư tưởng ỷ lại để lâu thành thói quen. Các đại biểu chất vấn thì nêu lên rất nhiều câu hỏi nhưng không phải tất cả đều đúng với nghĩa chất vấn. Chất lượng câu hỏi còn hạn chế, chưa xứng tầm, đôi khi câu hỏi còn dài dòng, không rõ trọng tâm hay chỉ là những câu hỏi thường yêu cầu cung cấp thông tin về một vấn đề nào đó. Các câu hỏi thường chỉ xuất phát từ lĩnh vực thuộc chuyên ngành của các đại biểu mà chưa tập trung vào những vấn đề quan trọng được dư luận quan tâm.

Thứ ba, chất lượng hoạt động quyết định phê chuẩn những vấn đề quan trọng của Quốc hội

Trong việc quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bên cạnh kế hoạch năm, Quốc hội ban hành các nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh kế - xã hội 5 năm, làm căn cứ phát triển cho cả nhiệm kỳ. Đại biểu Quốc hội cũng dành thời gian tập trung đánh giá khách quan, toàn diện, sâu sắc những mặt tích cực và những hạn chế, yếu kém trong việc thực hiện từng mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế; xác định nguyên nhân chủ quan, khách quan, kết quả công tác điều hành của Chính phủ, các ngành, các cấp để từ đó đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về chính sách, điều hành cho từng năm sau đó.

Trong những năm gần đây, ngay cả một số nhà nghiên cứu người nước ngoài về Việt Nam, vốn khắt khe trong đánh giá cũng nhận xét rằng, đại biểu Quốc hội Việt Nam ngày càng thực quyền hơn, không còn nhiều đặc tính của một Quốc hội “con dấu” nữa[3]. Kỳ họp đã tạo ra một “không khí ở hội trường Quốc hội”, những vấn đề được giải quyết ở hành lang Quốc hội đã kéo theo rất nhiều vấn đề khác của đất nước cũng được giải quyết triệt để. Tuy nhiên, hoạt động này cũng vẫn còn những hạn chế nhất định. Theo kết quả thăm dò dư luận đánh giá về chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, chỉ có 30% số được hỏi đánh giá tốt, 38% đánh giá tương đối tốt, 20% đánh giá bình thường, 4% đánh giá là yếu và 8% cho rằng không biết[4]. Một số đại biểu chỉ biết thông tin qua “biển xanh - nhà biệt thự - nước biển trên báo chí” để truy tìm nguyên nhân.

Thứ tư, chất lượng hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp nhận ý kiến giải quyết các khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp nhận ý kiến giải quyết các khiếu nại, tố cáo của nhân dân ngày càng được chú trọng và có những đổi mới về nội dung cũng như hình thức tổ chức, qua đó giúp đại biểu Quốc hội có thể thu nhận được ý kiến mang tính chất chuyên sâu về những vấn đề bức xúc hiện nay của cử tri và nhân dân. Theo đó, chất lượng của hoạt động tiếp xúc cử tri nhìn chung đã có chuyển biến đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Việc tiếp nhận đơn thư của công dân bảo đảm tính dân chủ, công khai và thuận tiện cho công dân thông qua nhiều hình thức như qua cơ quan truyền thông, qua hoạt động tiếp công dân, tiếp xúc cử tri. Chọn những nơi có diễn biến phức tạp và bức xúc về khiếu nại, tố cáo để giám sát.

Công tác tiếp công dân tuy có nhiều cố gắng, nhưng hiệu quả chưa cao; chưa bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa việc tiếp công dân với việc nghiên cứu, xử lý đơn, thư và với công tác giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các đại biểu Quốc hội ở trung ương hầu như không tham gia việc tiếp công dân định kỳ tại địa phương. Công tác theo dõi, đôn đốc, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết các đơn, thư đã chuyển cũng chưa được tiến hành thường xuyên; nhiều trường hợp mới chỉ dừng lại ở việc chuyển đơn mà chưa chú trọng xem xét, đánh giá việc giải quyết[5].

Hoạt động thu thập, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri cũng như việc giải quyết các ý kiến còn bất cập. Một số đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ tiếp xúc cử tri không thường xuyên; đại biểu chưa chủ động tiến hành các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, khi tiếp nhận ý kiến, kiến nghị của cử tri chưa chủ động nghiên cứu, chuyển đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền; báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri chất lượng chưa cao, chưa phân loại được đâu là ý kiến bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của cử tri, đâu là ý kiến đóng góp về chủ trương, chính sách pháp luật và đâu là ý kiến, kiến nghị cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của các Bộ, ngành trung ương. Đối với việc xem xét, giải quyết ý kiến, kiến nghị cử tri của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì việc trả lời của một số cơ quan còn chậm, còn thiếu, chưa đúng với nội dung mà cử tri kiến nghị, có những vấn đề còn chưa cụ thể, chưa nêu được lộ trình giải quyết đối với những vấn đề được nêu ra, văn bản trả lời còn nặng về giải thích cơ chế, chính sách[6].

2. Sự cần thiết xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội

Hiện nay, có nhiều giải pháp đưa ra nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, về xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội còn thiếu vắng, do đó, cần khẩn trương đưa vào quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội. Việc xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội xuất phát từ những lý do sau:

Thứ nhất, tại các văn bản luật của Việt Nam, chưa có quy định chính thức nào quy định về tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội mà chỉ có quy định về tiêu chuẩn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Do đó, trong thực tiễn có hiện tượng đại biểu ngủ gật, chơi điện tử, xem điện thoại, nói chuyện riêng trong khi làm nhiệm vụ đại biểu tại Hội trường. Trong những kỳ họp gần đây xảy ra khá nhiều chuyện đáng tiếc liên quan tới việc đại biểu Quốc hội “bấm nút hộ” hoặc vắng mặt trong các phiên họp tại hội trường, đặc biệt, có đại biểu cả nhiệm kỳ không phát biểu. Đó là những nội dung được cử tri hết sức quan tâm, bởi lẽ những “căn bệnh” trên ít nhiều ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của Quốc hội.

Chính việc chưa có tiêu chí, quy chế gắn trách nhiệm từng đại biểu với hoạt động, nhiệm vụ đại biểu của mình, nên đại biểu Quốc hội năng nổ hoạt động dễ bị chỉ lỗi, phán xét; đại biểu “im lặng” trong suốt cả nhiệm kỳ lại không chịu “chế tài” gì. Điều đó tạo sức ì, ngại va chạm, ngại tư duy, học hỏi cho một số đại biểu. Do vậy, cần phải xác định trách nhiệm trước nhân dân đối với những đại biểu chưa thực hiện “tròn vai” của mình.

Thứ hai, tiêu chí đánh giá đại biểu Quốc hội tạo cơ sở pháp lý, chính trị để giám sát, đại biểu hoạt động có hiệu quả cần được biểu dương, khen thưởng xứng đáng, tạo động lực để họ hăng hái tham gia đóng góp ý kiến, cống hiến vì lợi ích chung. Công chức, viên chức, cán bộ Đảng viên hằng năm vẫn có đánh giá, phân loại, xếp loại. Do đó, nếu đại biểu Quốc hội, những người đại diện cho cử tri lại không được đánh giá chất lượng hoạt động thì sẽ khó khuyến khích những đại biểu tích cực trong việc hoàn thiện các dự án luật, làm lợi cho xã hội, đất nước.

Thứ ba, tiêu chí đánh giá đại biểu Quốc hội sẽ là căn cứ (thang đánh giá đại biểu) để nhắc nhở, khiển trách, để Đại biểu tự điều chỉnh, hoàn thiện mình.

Thứ tư, việc xây dựng tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội sẽ là tiền đề đảm bảo đánh giá đại biểu Quốc hội tốt về mặt định tính và định lượng. Rất nhiều quy định trong lĩnh vực này được quy định rải rác trong các văn bản như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Phòng, chống tham nhũng. Thậm chí có những quy định, yêu cầu phải hiểu theo cách dẫn chiếu tới các nghị định và thông tư.

Dù chúng ta chưa có quy định chính thức về tiêu chí đánh giá đại biểu Quốc Hội và từ “đánh giá” gần như không xuất hiện ở các văn bản, nhưng chúng ta vẫn có đánh giá đại biểu Quốc hội. Việc đánh giá này chủ yếu được thông qua sự tín nhiệm của nhân dân. Có đánh giá chính thức và phi chính thức: Đánh giá chính thức được thể hiện qua các báo cáo, qua việc tiếp xúc cử tri, lấy phiếu tín nhiệm, bầu cử, bãi nhiệm, hội nghị…; còn về đánh giá phi chính thức, chẳng hạn như qua báo chí đánh giá chung toàn khóa hay của từng kỳ họp, từng đại biểu… Dù khó nhưng chúng ta cần phải xây dựng được bộ tiêu chí đảm bảo cả về mặt định tính và định lượng[7].

Thứ năm, đại biểu Quốc hội khi hướng đến tính chuyên nghiệp thì càng đòi hỏi phải có những nguyên tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp. Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết đã từng nói: Nghề nào cũng có sự dụng công. Đại biểu Quốc hội cũng như thợ mộc, thợ nề, phải tâm huyết với nghề, cố gắng tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp và luôn sáng tạo thì mới thành công được[8]. Hiện nay, trên thế giới có một xu hướng là xây dựng các bộ quy tắc ứng xử (ở một số nước gọi là bộ quy tắc đạo đức) dành cho công chức nói chung và các nghị sỹ nói riêng. Hiện Việt Nam chưa có bộ quy tắc ứng xử dành cho các đại biểu Quốc hội cũng như đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định pháp luật về tiêu chuẩn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội có thể thấy một số quy định đã mang tính chất các quy tắc ứng xử tương tự như ở nhiều quốc gia[9].

Thứ năm, thông qua việc xây dựng tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội, cử tri mới thực sự được thực hiện quyền giám sát đại biểu Quốc hội. Qua đó họ có thể nắm được thái độ, lập trường của đại biểu do mình bầu ra. Đây chính là kênh thông tin chính xác, khoa học nhằm đánh giá chính thức để cử tri yêu cầu áp dụng chế tài Hiến pháp đối với chủ thể vi phạm. Qua đó, tạo ra sự minh bạch hơn trong quá trình hoạt động của Quốc hội trong thời gian tới.

TS. Trần Văn Duy

Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam


[1] Uyên Nhi (2017), Hội thảo “Tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, truy cập tại http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/tin-tuc.aspx?ItemID=184.

[2] Ban Biên tập (2016), Đánh giá hoạt động của đại biểu: Tiêu chí bắt buộc, truy cập tại http://hdnd.baclieu.gov.vn/hdnd/Lists/Posts/Post.aspx?List=68ba612a-822b-4af8-90a5-d5f13781cb08&ID=460.

[3] Trung tâm Thông tin - Thư viện và nghiên cứu khoa học, Báo cáo chuyên đề: Đại biểu Quốc hội - Năng lực quyết định, tr.18.

[4] Văn phòng Quốc hội (2014), Báo cáo kết quả thăm dò dư luận xã hội về tổ chức và hoạt động của Quốc hội và một số vấn đề liên quan đến Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi, Luật Bầu cử Quốc hội sửa đổi, Hà Nội.

[5] Hoàng Duy Việt (2016), Địa vị pháp lý và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang, Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Luật học Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 24.

[6] Ngô Trung Tại (2011), Tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Luật học Khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr. 9.

[7] Uyên Nhi (2017), Hội thảo “Tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, truy cập tại http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/tin-tuc.aspx?ItemID=184.

[8] Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử (2011), Đại biểu Quốc hội những điều cần biết, Nxb. Chính trị - hành chính, Hà Nội, tr.171.

[9] Uyên Nhi (2017), Hội thảo “Tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, truy cập tại http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/tin-tuc.aspx?ItemID=184.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: