Thứ tư 23/09/2026 18:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự cần thiết xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội

Tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội là một vấn đề còn khá mới mẻ không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Tại các văn bản luật của Việt Nam, chưa có quy định chính thức nào quy định về tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội mà chỉ có quy định về tiêu chuẩn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân[1].

Tuy nhiên, cùng với rà soát, kịp thời bổ sung những điều kiện bảo đảm cho hoạt động của đại biểu Quốc hội, phải hết sức coi trọng công tác theo dõi, nhận xét, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội. Phải làm sao để việc nhận xét, đánh giá hoạt động đại biểu nhằm sàng lọc cho nhiệm vụ tiếp theo của Quốc hội hạn chế tối đa những “ông nghị”, “bà nghị” chưa làm hết trách nhiệm và thiếu bản lĩnh trong quá trình thực hiện quyền, nhiệm vụ theo luật định.

Dõi theo các hoạt động tại nghị trường Quốc hội có thể thấy, số đại biểu “đăng đàn” phát biểu tỏ rõ quan điểm về những vấn đề lớn của đất nước, đề xuất cơ chế, chính sách, chế định của pháp luật để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; dám chất vấn đối với cơ quan, cá nhân về những sai phạm khiến cử tri và nhân dân bức xúc chiếm tỷ lệ còn quá khiêm tốn. Số đại biểu có trách nhiệm và bản lĩnh ấy thường là đại biểu chuyên trách và đại biểu ở các tổ chức chính trị, xã hội. Một thực tế đáng buồn là rất nhiều đại biểu Quốc hội đang đảm đương chức danh cấp ủy ở địa phương, có người là Ủy viên Trung ương Đảng, nhưng hầu như không thấy “đăng đàn” chất vấn hoặc nếu có phát biểu thì cũng chung chung, không thể hiện rõ quan điểm trước vấn đề “nóng” trong quản lý nhà nước... Có đại biểu Hội đồng nhân dân cả nhiệm kỳ không hề phát biểu[2].

1. Một số vấn đề về đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội hiện nay

Thứ nhất, chất lượng thảo luận tại các phiên họp toàn thể, các buổi thảo luận chuyên đề, trình dự án luật về hoạt động xây dựng pháp luật

Với những dự án văn bản quan trọng, các đại biểu thảo luận tại các phiên họp toàn thể, các buổi thảo luận chuyên đề về hoạt động xây dựng pháp luật được nâng lên rõ rệt. Các đại biểu Quốc hội thẳng thắn nói tiếng nói cử tri, bày tỏ ý kiến, phản ánh, đề nghị của các cử tri mà mình có trách nhiệm truyền tải và bảo vệ. Các đại biểu đã có tính độc lập cao, tranh luận sôi nổi, bám sát ý kiến, yêu cầu của cử tri. Nhiều đại biểu đã phát biểu riêng cho hoạt động lập pháp, phát biểu không chỉ với tư cách chuyên gia cấp cao trong lĩnh vực pháp luật mà còn với tấm lòng nhiệt huyết, lương tri đại biểu trong việc phản ánh ý chí của cử tri. Bên cạnh đó, còn có những đại biểu mạnh dạn đề xuất dự án luật với tư cách cá nhân.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của đại biểu Quốc hội cũng tồn tại nhiều hạn chế. Xây dựng luật là quyền hiến định đối với đại biểu Quốc hội, nhưng trên thực tế, số lượng đề xuất, kiến nghị của đại biểu về chương trình xây dựng luật gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội còn ít. Cùng với quá trình soạn dự thảo luật, công việc khởi đầu này thường giao và phụ thuộc nhiều vào cơ quan hành pháp. Nó tạo nên sự thụ động, trông chờ của Quốc hội vào phía các nhà quản lý hành chính. Đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm còn nhiều, bộ phận giúp việc hạn chế, việc thuê khoán các chuyên gia chưa phổ biến, quan niệm đại biểu là một “nghề” cần chuyên sâu đang hình thành, nên rất khó để yêu cầu đại biểu có thể hoàn tất quyền hiến định quan trọng này. Thực tế còn có hiện tượng, đại biểu Quốc hội tiến hành thảo luận ở tổ, đoàn và tại phiên họp toàn thể mà không “ngó ngàng” gì tới tài liệu; những ý kiến trái chiều hoặc tranh luận chủ yếu tập trung vào một số đại biểu có vị trí tương đối độc lập với nhánh hành pháp. Một số đại biểu vẫn than phiền là tài liệu quá nhiều, nhưng có thể do không biết cách xử lý nên vẫn thiếu thông tin để chuẩn bị cho phiên họp và hậu quả là không phát biểu ý kiến một lần nào. Bên cạnh đó, trong kỳ họp, nhiều đại biểu Quốc hội đã chuẩn bị kĩ những ý kiến để tham gia, viết thành bài phát biểu, nhưng cũng vì thế mà bị lệ thuộc vào bài viết, thiếu khả năng ứng phó tức thời, nên đã xảy ra tình trạng trùng lặp ý kiến.

Thứ hai, chất lượng hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội

Hoạt động chất vấn luôn có sự đổi mới để nâng cao chất lượng như: Chất vấn theo nhóm vấn đề, tăng thời gian chất vấn tại hội trường, hạn chế thấp nhất thời gian trả lời bằng văn bản, nâng cao kỹ năng hỏi - đáp trong các buổi chất vấn, đảm bảo đúng nội dung, ngắn gọn, nghiêm túc và có tính trách nhiệm. Số lượng và chất lượng các câu hỏi chất vấn ngày càng được nâng cao, bám sát yêu cầu của cử tri. Việc tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri, theo dõi việc thực hiện lời hứa của chủ thể trả lời chất vấn được thực hiện đều đặn. Hình thức giám sát tối cao qua chất vấn của Quốc hội có nhiều đổi mới, đã tăng thời gian chất vấn từ 2,5 ngày lên 3 ngày. Tại phiên chất vấn, không chỉ kiến thức, sự am hiểu mà cả kỹ năng phát biểu của các đại biểu Quốc hội cũng tốt hơn, các đại biểu không chỉ chất vấn, tranh luận với Bộ trưởng, các thành viên Chính phủ mà còn thẳng thắn giơ biển xin tranh luận lại với chính đại biểu Quốc hội khác...

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội vẫn còn những hạn chế. Suốt quá trình họp, nhiều đại biểu không hề chất vấn, mang tư tưởng ỷ lại để lâu thành thói quen. Các đại biểu chất vấn thì nêu lên rất nhiều câu hỏi nhưng không phải tất cả đều đúng với nghĩa chất vấn. Chất lượng câu hỏi còn hạn chế, chưa xứng tầm, đôi khi câu hỏi còn dài dòng, không rõ trọng tâm hay chỉ là những câu hỏi thường yêu cầu cung cấp thông tin về một vấn đề nào đó. Các câu hỏi thường chỉ xuất phát từ lĩnh vực thuộc chuyên ngành của các đại biểu mà chưa tập trung vào những vấn đề quan trọng được dư luận quan tâm.

Thứ ba, chất lượng hoạt động quyết định phê chuẩn những vấn đề quan trọng của Quốc hội

Trong việc quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bên cạnh kế hoạch năm, Quốc hội ban hành các nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh kế - xã hội 5 năm, làm căn cứ phát triển cho cả nhiệm kỳ. Đại biểu Quốc hội cũng dành thời gian tập trung đánh giá khách quan, toàn diện, sâu sắc những mặt tích cực và những hạn chế, yếu kém trong việc thực hiện từng mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế; xác định nguyên nhân chủ quan, khách quan, kết quả công tác điều hành của Chính phủ, các ngành, các cấp để từ đó đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về chính sách, điều hành cho từng năm sau đó.

Trong những năm gần đây, ngay cả một số nhà nghiên cứu người nước ngoài về Việt Nam, vốn khắt khe trong đánh giá cũng nhận xét rằng, đại biểu Quốc hội Việt Nam ngày càng thực quyền hơn, không còn nhiều đặc tính của một Quốc hội “con dấu” nữa[3]. Kỳ họp đã tạo ra một “không khí ở hội trường Quốc hội”, những vấn đề được giải quyết ở hành lang Quốc hội đã kéo theo rất nhiều vấn đề khác của đất nước cũng được giải quyết triệt để. Tuy nhiên, hoạt động này cũng vẫn còn những hạn chế nhất định. Theo kết quả thăm dò dư luận đánh giá về chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, chỉ có 30% số được hỏi đánh giá tốt, 38% đánh giá tương đối tốt, 20% đánh giá bình thường, 4% đánh giá là yếu và 8% cho rằng không biết[4]. Một số đại biểu chỉ biết thông tin qua “biển xanh - nhà biệt thự - nước biển trên báo chí” để truy tìm nguyên nhân.

Thứ tư, chất lượng hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp nhận ý kiến giải quyết các khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp nhận ý kiến giải quyết các khiếu nại, tố cáo của nhân dân ngày càng được chú trọng và có những đổi mới về nội dung cũng như hình thức tổ chức, qua đó giúp đại biểu Quốc hội có thể thu nhận được ý kiến mang tính chất chuyên sâu về những vấn đề bức xúc hiện nay của cử tri và nhân dân. Theo đó, chất lượng của hoạt động tiếp xúc cử tri nhìn chung đã có chuyển biến đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Việc tiếp nhận đơn thư của công dân bảo đảm tính dân chủ, công khai và thuận tiện cho công dân thông qua nhiều hình thức như qua cơ quan truyền thông, qua hoạt động tiếp công dân, tiếp xúc cử tri. Chọn những nơi có diễn biến phức tạp và bức xúc về khiếu nại, tố cáo để giám sát.

Công tác tiếp công dân tuy có nhiều cố gắng, nhưng hiệu quả chưa cao; chưa bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa việc tiếp công dân với việc nghiên cứu, xử lý đơn, thư và với công tác giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các đại biểu Quốc hội ở trung ương hầu như không tham gia việc tiếp công dân định kỳ tại địa phương. Công tác theo dõi, đôn đốc, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết các đơn, thư đã chuyển cũng chưa được tiến hành thường xuyên; nhiều trường hợp mới chỉ dừng lại ở việc chuyển đơn mà chưa chú trọng xem xét, đánh giá việc giải quyết[5].

Hoạt động thu thập, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri cũng như việc giải quyết các ý kiến còn bất cập. Một số đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ tiếp xúc cử tri không thường xuyên; đại biểu chưa chủ động tiến hành các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, khi tiếp nhận ý kiến, kiến nghị của cử tri chưa chủ động nghiên cứu, chuyển đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền; báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri chất lượng chưa cao, chưa phân loại được đâu là ý kiến bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của cử tri, đâu là ý kiến đóng góp về chủ trương, chính sách pháp luật và đâu là ý kiến, kiến nghị cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của các Bộ, ngành trung ương. Đối với việc xem xét, giải quyết ý kiến, kiến nghị cử tri của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì việc trả lời của một số cơ quan còn chậm, còn thiếu, chưa đúng với nội dung mà cử tri kiến nghị, có những vấn đề còn chưa cụ thể, chưa nêu được lộ trình giải quyết đối với những vấn đề được nêu ra, văn bản trả lời còn nặng về giải thích cơ chế, chính sách[6].

2. Sự cần thiết xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội

Hiện nay, có nhiều giải pháp đưa ra nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, về xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội còn thiếu vắng, do đó, cần khẩn trương đưa vào quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội. Việc xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội xuất phát từ những lý do sau:

Thứ nhất, tại các văn bản luật của Việt Nam, chưa có quy định chính thức nào quy định về tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội mà chỉ có quy định về tiêu chuẩn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Do đó, trong thực tiễn có hiện tượng đại biểu ngủ gật, chơi điện tử, xem điện thoại, nói chuyện riêng trong khi làm nhiệm vụ đại biểu tại Hội trường. Trong những kỳ họp gần đây xảy ra khá nhiều chuyện đáng tiếc liên quan tới việc đại biểu Quốc hội “bấm nút hộ” hoặc vắng mặt trong các phiên họp tại hội trường, đặc biệt, có đại biểu cả nhiệm kỳ không phát biểu. Đó là những nội dung được cử tri hết sức quan tâm, bởi lẽ những “căn bệnh” trên ít nhiều ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của Quốc hội.

Chính việc chưa có tiêu chí, quy chế gắn trách nhiệm từng đại biểu với hoạt động, nhiệm vụ đại biểu của mình, nên đại biểu Quốc hội năng nổ hoạt động dễ bị chỉ lỗi, phán xét; đại biểu “im lặng” trong suốt cả nhiệm kỳ lại không chịu “chế tài” gì. Điều đó tạo sức ì, ngại va chạm, ngại tư duy, học hỏi cho một số đại biểu. Do vậy, cần phải xác định trách nhiệm trước nhân dân đối với những đại biểu chưa thực hiện “tròn vai” của mình.

Thứ hai, tiêu chí đánh giá đại biểu Quốc hội tạo cơ sở pháp lý, chính trị để giám sát, đại biểu hoạt động có hiệu quả cần được biểu dương, khen thưởng xứng đáng, tạo động lực để họ hăng hái tham gia đóng góp ý kiến, cống hiến vì lợi ích chung. Công chức, viên chức, cán bộ Đảng viên hằng năm vẫn có đánh giá, phân loại, xếp loại. Do đó, nếu đại biểu Quốc hội, những người đại diện cho cử tri lại không được đánh giá chất lượng hoạt động thì sẽ khó khuyến khích những đại biểu tích cực trong việc hoàn thiện các dự án luật, làm lợi cho xã hội, đất nước.

Thứ ba, tiêu chí đánh giá đại biểu Quốc hội sẽ là căn cứ (thang đánh giá đại biểu) để nhắc nhở, khiển trách, để Đại biểu tự điều chỉnh, hoàn thiện mình.

Thứ tư, việc xây dựng tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội sẽ là tiền đề đảm bảo đánh giá đại biểu Quốc hội tốt về mặt định tính và định lượng. Rất nhiều quy định trong lĩnh vực này được quy định rải rác trong các văn bản như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Phòng, chống tham nhũng. Thậm chí có những quy định, yêu cầu phải hiểu theo cách dẫn chiếu tới các nghị định và thông tư.

Dù chúng ta chưa có quy định chính thức về tiêu chí đánh giá đại biểu Quốc Hội và từ “đánh giá” gần như không xuất hiện ở các văn bản, nhưng chúng ta vẫn có đánh giá đại biểu Quốc hội. Việc đánh giá này chủ yếu được thông qua sự tín nhiệm của nhân dân. Có đánh giá chính thức và phi chính thức: Đánh giá chính thức được thể hiện qua các báo cáo, qua việc tiếp xúc cử tri, lấy phiếu tín nhiệm, bầu cử, bãi nhiệm, hội nghị…; còn về đánh giá phi chính thức, chẳng hạn như qua báo chí đánh giá chung toàn khóa hay của từng kỳ họp, từng đại biểu… Dù khó nhưng chúng ta cần phải xây dựng được bộ tiêu chí đảm bảo cả về mặt định tính và định lượng[7].

Thứ năm, đại biểu Quốc hội khi hướng đến tính chuyên nghiệp thì càng đòi hỏi phải có những nguyên tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp. Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết đã từng nói: Nghề nào cũng có sự dụng công. Đại biểu Quốc hội cũng như thợ mộc, thợ nề, phải tâm huyết với nghề, cố gắng tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp và luôn sáng tạo thì mới thành công được[8]. Hiện nay, trên thế giới có một xu hướng là xây dựng các bộ quy tắc ứng xử (ở một số nước gọi là bộ quy tắc đạo đức) dành cho công chức nói chung và các nghị sỹ nói riêng. Hiện Việt Nam chưa có bộ quy tắc ứng xử dành cho các đại biểu Quốc hội cũng như đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định pháp luật về tiêu chuẩn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội có thể thấy một số quy định đã mang tính chất các quy tắc ứng xử tương tự như ở nhiều quốc gia[9].

Thứ năm, thông qua việc xây dựng tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội, cử tri mới thực sự được thực hiện quyền giám sát đại biểu Quốc hội. Qua đó họ có thể nắm được thái độ, lập trường của đại biểu do mình bầu ra. Đây chính là kênh thông tin chính xác, khoa học nhằm đánh giá chính thức để cử tri yêu cầu áp dụng chế tài Hiến pháp đối với chủ thể vi phạm. Qua đó, tạo ra sự minh bạch hơn trong quá trình hoạt động của Quốc hội trong thời gian tới.

TS. Trần Văn Duy

Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam


[1] Uyên Nhi (2017), Hội thảo “Tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, truy cập tại http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/tin-tuc.aspx?ItemID=184.

[2] Ban Biên tập (2016), Đánh giá hoạt động của đại biểu: Tiêu chí bắt buộc, truy cập tại http://hdnd.baclieu.gov.vn/hdnd/Lists/Posts/Post.aspx?List=68ba612a-822b-4af8-90a5-d5f13781cb08&ID=460.

[3] Trung tâm Thông tin - Thư viện và nghiên cứu khoa học, Báo cáo chuyên đề: Đại biểu Quốc hội - Năng lực quyết định, tr.18.

[4] Văn phòng Quốc hội (2014), Báo cáo kết quả thăm dò dư luận xã hội về tổ chức và hoạt động của Quốc hội và một số vấn đề liên quan đến Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi, Luật Bầu cử Quốc hội sửa đổi, Hà Nội.

[5] Hoàng Duy Việt (2016), Địa vị pháp lý và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang, Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Luật học Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 24.

[6] Ngô Trung Tại (2011), Tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, Tóm tắt Luận văn thạc sĩ Luật học Khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr. 9.

[7] Uyên Nhi (2017), Hội thảo “Tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, truy cập tại http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/tin-tuc.aspx?ItemID=184.

[8] Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử (2011), Đại biểu Quốc hội những điều cần biết, Nxb. Chính trị - hành chính, Hà Nội, tr.171.

[9] Uyên Nhi (2017), Hội thảo “Tiêu chí đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, truy cập tại http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/tin-tuc.aspx?ItemID=184.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: