Thứ bảy 14/03/2026 19:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự khác biệt trong quy định về trợ giúp pháp lý giữa Công ước La Hay năm 1980 về tiếp cận công lý và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017

Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế là một Tổ chức liên Chính phủ toàn cầu được hình thành năm 1893 tại Hà Lan. Với tầm nhìn hành động vì một thế giới mà cuộc sống và hoạt động của các tổ chức,

Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế là một Tổ chức liên Chính phủ toàn cầu được hình thành năm 1893 tại Hà Lan. Với tầm nhìn hành động vì một thế giới mà cuộc sống và hoạt động của các tổ chức, cá nhân liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau được hưởng mức độ an toàn pháp lý cao, Hội nghị đã xây dựng nhiều công cụ pháp lý đa phương nhằm đáp ứng nhu cầu của toàn thế giới, trong đó, có Công ước La Hay năm 1980 về Tiếp cận công lý quốc tế. Ngày 10/4/2013, Việt Nam đã chính thức được công nhận là thành viên của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế nhưng Việt Nam chưa gia nhập Công ước. Công ước dành riêng Chương 1 gồm 13 điều quy định về cơ chế thực hiện trợ giúp pháp lý giữa các quốc gia thành viên. Trong bài viết này, tác giả phân tích một số điểm khác biệt trong quy định về trợ giúp pháp lý giữa Công ước La Hay năm 1980 về tiếp cận công lý và Luật Trợ giúp pháp lý Việt Nam năm 2017 để nghiên cứu, chuẩn bị gia nhập Công ước trong điều kiện hiện nay.

Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế là một Tổ chức liên Chính phủ toàn cầu được hình thành năm 1893 tại Hà Lan. Với tầm nhìn hành động vì một thế giới mà cuộc sống và hoạt động của các tổ chức, cá nhân liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau được hưởng mức độ an toàn pháp lý cao, Hội nghị đã xây dựng nhiều công cụ pháp lý đa phương nhằm đáp ứng nhu cầu của toàn thế giới, trong đó, có Công ước La Hay năm 1980 về Tiếp cận công lý quốc tế (Công ước). Ngày 10/4/2013, Việt Nam đã chính thức được công nhận là thành viên của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế nhưng Việt Nam chưa gia nhập Công ước. Công ước dành 01 Chương (Chương 1) gồm 13 điều quy định về cơ chế thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) giữa các quốc gia thành viên. Phân tích điểm khác biệt trong quy định của Công ước góp phần nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về TGPL tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.

1. Đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý

Điều 1 Công ước quy định: “Công dân của bất kỳ quốc gia thành viên nào và những người thường trú tại bất kỳ quốc gia thành viên nào đều có quyền được trợ giúp pháp lý…”[1]. Từ quy định này, có thể thấy:

Thứ nhất, nghiên cứu 13 điều của Công ước quy định về TGPL, tác giả nhận thấy, các quy định của Công ước về đối tượng thuộc diện TGPL được xác định dựa trên yếu tố quốc tịch và nơi cư trú của người đó mà không xác định rõ đối tượng đó là thể nhân hay pháp nhân. Công ước sử dụng thuật ngữ “persons” theo tiếng Việt có nghĩa là “người” nhưng trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới có thể bao gồm hai loại, đó là thể nhân (natural person) và pháp nhân (legal person). Mặt khác, theo Tài liệu số 15 năm 2009 của Văn phòng Thường trực Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế thì có xu hướng cung cấp TGPL cho pháp nhân. Có thể đưa ra một dẫn chứng, Pháp là một quốc gia thành viên của Công ước, TGPL tại Pháp được cung cấp cho bất kỳ cá nhân, tổ chức trong xã hội không có khả năng thực hiện các quyền hợp pháp của mình[2]. Trong khi đó, pháp nhân không thuộc đối tượng được TGPL theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 ở Việt Nam, theo đó, người được TGPL là các cá nhân đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật TGPL (Điều 7).

Thứ hai, cơ sở xác định điều kiện được TGPL theo Công ước dựa trên yếu tố quốc tịch và nơi cư trú (Điều 1). Theo tác giả, với tính chất là một điều ước quốc tế - là hình thức thể hiện sự thỏa thuận giữa các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế (Tổ chức liên Chính phủ, Dân tộc đấu tranh giành quyền tự quyết, Vùng lãnh thổ đặc biệt) làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của chủ thể luật quốc tế để điều chỉnh các đối tượng thì yếu tố quốc tịch, nơi cư trú luôn luôn được đặt ra. Tại Việt Nam, cơ sở xác định đối tượng thuộc diện được TGPL dựa trên việc thực hiện chính sách đền ơn, đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng; chính sách dân tộc; chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi bị buộc tội, chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em và chính sách xã hội khác đối với một số nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội có khó khăn về tài chính, không đủ khả năng chi trả thù lao cho luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý. Cụ thể, tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định 14 nhóm đối tượng thuộc diện TGPL bao gồm: Người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, trẻ em, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo… Mặt khác, Điều 26 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cũng quy định về phạm vi thực hiện TGPL, đó là người được TGPL đang cư trú tại địa phương; vụ việc TGPL xảy ra tại địa phương; vụ việc TGPL do cơ quan có thẩm quyền về TGPL ở trung ương yêu cầu. Như vậy, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 không đề cập đến vấn đề quốc tịch của người được TGPL mà chủ yếu tập trung vào liệt kê rõ các diện được TGPL. Yếu tố cư trú cũng được xác định là một trong những điều kiện để được TGPL.

Thứ ba, Điều 1 Công ước thể hiện nội dung của Nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment) trong quan hệ quốc tế nhằm đảm bảo sự bình đẳng trong tiếp cận công lý, không phân biệt đối xử với bất kỳ ai, cho dù người đó là công dân của quốc gia thành viên của Công ước hoặc người nước ngoài (người nước ngoài có thể là công dân của bất kỳ quốc gia nào, kể cả quốc gia chưa là thành viên của Công ước nhưng thường trú tại một quốc gia thành viên hoặc đã thường trú tại quốc gia thành viên). Ở Pháp, TGPL cũng được áp dụng cho người nước ngoài theo một hiệp định tương trợ tư pháp song phương. Năm 1959, Hoa Kỳ và Pháp đã ký một thỏa thuận, theo đó, các công dân của mỗi nước trong lãnh thổ của nước kia được hưởng TGPL tương tự như công dân của quốc gia đó. Tuy nhiên, theo Điều 28 Công ước, bất kỳ quốc gia ký kết nào tại thời điểm ký, phê chuẩn, chấp nhận, phê duyệt hoặc gia nhập, có quyền bảo lưu Điều 1 Công ước[3], đối với một người không là công dân của quốc gia thành viên của Công ước nhưng thường trú tại một quốc gia thành viên khác, không phải là nước ký kết; hoặc đã từng thường trú tại nước ký kết nhưng giờ ở nước khác không phải là quốc gia thành viên, trừ trường hợp hai nước ký kết điều quốc tế song phương[4].

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 không đề cập đến vấn đề quốc tịch, vì vậy, người nước ngoài là công dân của nước ký kết và người nước ngoài thường trú tại nước ký kết chưa được quy định cụ thể trong pháp luật về TGPL của Việt Nam. Hiện nay, theo một số hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết giữa Việt Nam và một số quốc gia cũng có quy định về việc TGPL của quốc gia sở tại cho công dân của quốc gia ký kết kia. Nếu trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp (khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016). Với những quốc gia mà chưa ký kết điều ước quốc tế thì áp dụng nguyên tắc có đi có lại theo thông lệ quốc tế. Tuy vậy, việc thực hiện TGPL cho người nước ngoài tại Việt Nam cần được nghiên cứu thêm bởi trong thực tiễn chưa có nhiều vụ việc TGPL cho người nước ngoài tại Việt Nam.

2. Lĩnh vực pháp luật được trợ giúp pháp lý

Theo đoạn 1 Điều 1 Công ước thì: “Công dân của bất kỳ quốc gia thành viên nào và những người thường trú tại bất kỳ quốc gia thành viên nào đều có quyền được TGPL khi người đó tham gia thủ tục tố tụng tại Tòa án trong các vấn đề dân sự và thương mại” và theo đoạn 3 Điều 1 Công ước thì TGPL được cung cấp trong các vấn đề hành chính, xã hội hoặc tài khóa. Như vậy, theo quy định của Công ước, phạm vi thực hiện TGPL trong các lĩnh vực pháp luật tương đối rộng, bao gồm cả hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tại khoản 1 Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định: “Trợ giúp pháp lý được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật, trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại”. Điều đó có nghĩa rằng, TGPL chỉ áp dụng trong lĩnh vực dân sự, hình sự, hành chính, không áp dụng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Vì vậy, vẫn còn một sự khác biệt giữa pháp luật trong nước và quy định của Công ước về lĩnh vực pháp luật được TGPL.

3. Hình thức trợ giúp pháp lý

Đoạn 3 Điều 1 Công ước quy định: “Các quy định của Điều này sẽ được áp dụng cho các trường hợp được đưa ra trước Tòa án hoặc Tòa án có thẩm quyền trong các vấn đề đó”. Với tính chất pháp lý là điều ước quốc tế về tiếp cận công lý quốc tế, các quy định của Công ước tập trung chủ yếu vào việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng trong tư pháp hình sự. Bởi lẽ, theo cộng đồng quốc tế, “tiếp cận công lý là việc người dân được tìm kiếm và đạt được các hình thức giải quyết tranh chấp thông qua việc tiếp cận với các biện pháp đền bù, hoặc khắc phục từ các thiết chế tư pháp chính thức, như cơ quan điều tra, truy tố, xét xử đến các thiết chế không mang tính chính thức, như cơ quan nhân quyền quốc gia, cơ quan thanh tra Quốc hội… trên cơ sở tuân thủ theo các chuẩn mực về quyền con người”[5]. Điều 2 Công ước quy định: “Điều 1 sẽ được áp dụng cho tư vấn pháp lý với điều kiện người đó có mặt tại quốc gia nơi thể hiện yêu cầu tư vấn”. Như vậy, theo quy định của Công ước, TGPL được thực hiện thông qua 02 hình thức là tư vấn pháp luật và tham gia tố tụng.

Trong khi đó, khoản 2 Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định 03 hình thức TGPL bao gồm: Tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và tư vấn pháp luật cho người thuộc diện TGPL. Như vậy, TGPL không chỉ tham gia tố tụng để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, đương sự, người có quyền lợi liên quan trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính mà TGPL còn tham gia đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật. Trong đó, tư vấn pháp luật là hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc, hướng dẫn giúp các bên hòa giải, thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc TGPL. Đại diện ngoài tố tụng là việc người thực hiện TGPL đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền để xác lập, thực hiện giao dịch ngoài phạm vi tố tụng hành chính, hình sự, dân sự do Toà án tiến hành với các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác.

4. Cách thức trợ giúp pháp lý

Đoạn 1 Điều 3 Công ước quy định: “Mỗi quốc gia thành viên của Công ước chỉ định một cơ quan trung ương tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý đối với các đơn xin TGPL được nộp theo Công ước này”. Như vậy, theo quy định của Công ước, mỗi quốc gia thành viên sẽ chỉ định một cơ quan trung ương làm đầu mối tiếp nhận yêu cầu TGPL của người có yêu cầu. Sau đó, sẽ chuyển yêu cầu TGPL tới cơ quan thực hiện TGPL để giải quyết yêu cầu đó.

Điều 4 Công ước quy định, mỗi quốc gia ký kết sẽ chỉ định một hoặc nhiều cơ quan truyền phát gửi tài liệu (transmitting authorities) nhằm mục đích chuyển tiếp đơn xin TGPL cho cơ quan trung ương thích hợp tại quốc gia được yêu cầu. Như vậy, đối với trường hợp, người yêu cầu TGPL không cư trú tại quốc gia được yêu cầu thì người đó có thể nộp đơn tại cơ quan truyền phát gửi tài liệu của nước ký kết, nơi người đó cư trú thường xuyên. Đơn xin TGPL sẽ được truyền tới nước yêu cầu TGPL mà không cần sự can thiệp của bất kỳ cơ quan nào khác[6]. Hồ sơ yêu cầu TGPL bao gồm đơn yêu cầu TGPL (dạng mẫu) được đính kèm theo Công ước này và bất kỳ tài liệu cần thiết nào.

Tại Việt Nam, TGPL được thực hiện trên cơ sở yêu cầu TGPL của người được TGPL. Theo đó, người được TGPL tự mình hoặc thông qua người thân thích, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu TGPL. Người yêu cầu phải nộp hồ sơ yêu cầu TGPL cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh/thành phố, chi nhánh của Trung tâm hoặc tổ chức tham gia TGPL (tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật ký hợp đồng thực hiện TGPL với Sở Tư pháp; tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia TGPL) để được xem xét đủ điều kiện thuộc diện TGPL.

Thiết nghĩ, nếu Việt Nam gia nhập Công ước thì cần phải tiếp tục nghiên cứu các quy định trên về TGPL, nhất là cơ chế phối hợp giữa tổ chức thực hiện TGPL với cơ quan trung ương để vừa bảo đảm kịp thời quyền và lợi ích của người được TGPL vừa bảo đảm thực hiện nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda) trong quan hệ quốc tế.

Lê Văn Quang

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp









[1]. Xem đoạn 1 Điều 1 Công ước La Hay năm 1980.

[2]. This provision grants legal aid to anyone, whether plaintiff or defendant, inpidual or association, who is incapable of exercising his legal rights, Legal Aid in France, George A. Pelletier (1967).

[3]. Any Contracting State may, at the time of signature, ratification, acceptance, approval or accession, reserve the right to exclude the application of Article 1 in the case of persons who are not nationals of a Contracting State but who have their habitual residence in a Contracting State other than the reserving State or formerly had their habitual residence in the reserving State, if there is no reciprocity of treatment between the reserving State and the State of which the applicants for legal aid are nationals.

[4]. Ví dụ: Pháp áp dụng điều này.

[5]. UNDP (2005), Programming for Justice: Access for All, Bangkok.

[6]. Trích đoạn 2 Điều 4 Công ước: “without the intervention of any other authority”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: