Thứ bảy 27/06/2026 01:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự khác biệt trong quy định về trợ giúp pháp lý giữa Công ước La Hay năm 1980 về tiếp cận công lý và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017

Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế là một Tổ chức liên Chính phủ toàn cầu được hình thành năm 1893 tại Hà Lan. Với tầm nhìn hành động vì một thế giới mà cuộc sống và hoạt động của các tổ chức,

Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế là một Tổ chức liên Chính phủ toàn cầu được hình thành năm 1893 tại Hà Lan. Với tầm nhìn hành động vì một thế giới mà cuộc sống và hoạt động của các tổ chức, cá nhân liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau được hưởng mức độ an toàn pháp lý cao, Hội nghị đã xây dựng nhiều công cụ pháp lý đa phương nhằm đáp ứng nhu cầu của toàn thế giới, trong đó, có Công ước La Hay năm 1980 về Tiếp cận công lý quốc tế. Ngày 10/4/2013, Việt Nam đã chính thức được công nhận là thành viên của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế nhưng Việt Nam chưa gia nhập Công ước. Công ước dành riêng Chương 1 gồm 13 điều quy định về cơ chế thực hiện trợ giúp pháp lý giữa các quốc gia thành viên. Trong bài viết này, tác giả phân tích một số điểm khác biệt trong quy định về trợ giúp pháp lý giữa Công ước La Hay năm 1980 về tiếp cận công lý và Luật Trợ giúp pháp lý Việt Nam năm 2017 để nghiên cứu, chuẩn bị gia nhập Công ước trong điều kiện hiện nay.

Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế là một Tổ chức liên Chính phủ toàn cầu được hình thành năm 1893 tại Hà Lan. Với tầm nhìn hành động vì một thế giới mà cuộc sống và hoạt động của các tổ chức, cá nhân liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau được hưởng mức độ an toàn pháp lý cao, Hội nghị đã xây dựng nhiều công cụ pháp lý đa phương nhằm đáp ứng nhu cầu của toàn thế giới, trong đó, có Công ước La Hay năm 1980 về Tiếp cận công lý quốc tế (Công ước). Ngày 10/4/2013, Việt Nam đã chính thức được công nhận là thành viên của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế nhưng Việt Nam chưa gia nhập Công ước. Công ước dành 01 Chương (Chương 1) gồm 13 điều quy định về cơ chế thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) giữa các quốc gia thành viên. Phân tích điểm khác biệt trong quy định của Công ước góp phần nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về TGPL tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.

1. Đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý

Điều 1 Công ước quy định: “Công dân của bất kỳ quốc gia thành viên nào và những người thường trú tại bất kỳ quốc gia thành viên nào đều có quyền được trợ giúp pháp lý…”[1]. Từ quy định này, có thể thấy:

Thứ nhất, nghiên cứu 13 điều của Công ước quy định về TGPL, tác giả nhận thấy, các quy định của Công ước về đối tượng thuộc diện TGPL được xác định dựa trên yếu tố quốc tịch và nơi cư trú của người đó mà không xác định rõ đối tượng đó là thể nhân hay pháp nhân. Công ước sử dụng thuật ngữ “persons” theo tiếng Việt có nghĩa là “người” nhưng trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới có thể bao gồm hai loại, đó là thể nhân (natural person) và pháp nhân (legal person). Mặt khác, theo Tài liệu số 15 năm 2009 của Văn phòng Thường trực Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế thì có xu hướng cung cấp TGPL cho pháp nhân. Có thể đưa ra một dẫn chứng, Pháp là một quốc gia thành viên của Công ước, TGPL tại Pháp được cung cấp cho bất kỳ cá nhân, tổ chức trong xã hội không có khả năng thực hiện các quyền hợp pháp của mình[2]. Trong khi đó, pháp nhân không thuộc đối tượng được TGPL theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 ở Việt Nam, theo đó, người được TGPL là các cá nhân đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật TGPL (Điều 7).

Thứ hai, cơ sở xác định điều kiện được TGPL theo Công ước dựa trên yếu tố quốc tịch và nơi cư trú (Điều 1). Theo tác giả, với tính chất là một điều ước quốc tế - là hình thức thể hiện sự thỏa thuận giữa các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế (Tổ chức liên Chính phủ, Dân tộc đấu tranh giành quyền tự quyết, Vùng lãnh thổ đặc biệt) làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của chủ thể luật quốc tế để điều chỉnh các đối tượng thì yếu tố quốc tịch, nơi cư trú luôn luôn được đặt ra. Tại Việt Nam, cơ sở xác định đối tượng thuộc diện được TGPL dựa trên việc thực hiện chính sách đền ơn, đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng; chính sách dân tộc; chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi bị buộc tội, chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em và chính sách xã hội khác đối với một số nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội có khó khăn về tài chính, không đủ khả năng chi trả thù lao cho luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý. Cụ thể, tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định 14 nhóm đối tượng thuộc diện TGPL bao gồm: Người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, trẻ em, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo… Mặt khác, Điều 26 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cũng quy định về phạm vi thực hiện TGPL, đó là người được TGPL đang cư trú tại địa phương; vụ việc TGPL xảy ra tại địa phương; vụ việc TGPL do cơ quan có thẩm quyền về TGPL ở trung ương yêu cầu. Như vậy, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 không đề cập đến vấn đề quốc tịch của người được TGPL mà chủ yếu tập trung vào liệt kê rõ các diện được TGPL. Yếu tố cư trú cũng được xác định là một trong những điều kiện để được TGPL.

Thứ ba, Điều 1 Công ước thể hiện nội dung của Nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment) trong quan hệ quốc tế nhằm đảm bảo sự bình đẳng trong tiếp cận công lý, không phân biệt đối xử với bất kỳ ai, cho dù người đó là công dân của quốc gia thành viên của Công ước hoặc người nước ngoài (người nước ngoài có thể là công dân của bất kỳ quốc gia nào, kể cả quốc gia chưa là thành viên của Công ước nhưng thường trú tại một quốc gia thành viên hoặc đã thường trú tại quốc gia thành viên). Ở Pháp, TGPL cũng được áp dụng cho người nước ngoài theo một hiệp định tương trợ tư pháp song phương. Năm 1959, Hoa Kỳ và Pháp đã ký một thỏa thuận, theo đó, các công dân của mỗi nước trong lãnh thổ của nước kia được hưởng TGPL tương tự như công dân của quốc gia đó. Tuy nhiên, theo Điều 28 Công ước, bất kỳ quốc gia ký kết nào tại thời điểm ký, phê chuẩn, chấp nhận, phê duyệt hoặc gia nhập, có quyền bảo lưu Điều 1 Công ước[3], đối với một người không là công dân của quốc gia thành viên của Công ước nhưng thường trú tại một quốc gia thành viên khác, không phải là nước ký kết; hoặc đã từng thường trú tại nước ký kết nhưng giờ ở nước khác không phải là quốc gia thành viên, trừ trường hợp hai nước ký kết điều quốc tế song phương[4].

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 không đề cập đến vấn đề quốc tịch, vì vậy, người nước ngoài là công dân của nước ký kết và người nước ngoài thường trú tại nước ký kết chưa được quy định cụ thể trong pháp luật về TGPL của Việt Nam. Hiện nay, theo một số hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết giữa Việt Nam và một số quốc gia cũng có quy định về việc TGPL của quốc gia sở tại cho công dân của quốc gia ký kết kia. Nếu trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp (khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016). Với những quốc gia mà chưa ký kết điều ước quốc tế thì áp dụng nguyên tắc có đi có lại theo thông lệ quốc tế. Tuy vậy, việc thực hiện TGPL cho người nước ngoài tại Việt Nam cần được nghiên cứu thêm bởi trong thực tiễn chưa có nhiều vụ việc TGPL cho người nước ngoài tại Việt Nam.

2. Lĩnh vực pháp luật được trợ giúp pháp lý

Theo đoạn 1 Điều 1 Công ước thì: “Công dân của bất kỳ quốc gia thành viên nào và những người thường trú tại bất kỳ quốc gia thành viên nào đều có quyền được TGPL khi người đó tham gia thủ tục tố tụng tại Tòa án trong các vấn đề dân sự và thương mại” và theo đoạn 3 Điều 1 Công ước thì TGPL được cung cấp trong các vấn đề hành chính, xã hội hoặc tài khóa. Như vậy, theo quy định của Công ước, phạm vi thực hiện TGPL trong các lĩnh vực pháp luật tương đối rộng, bao gồm cả hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tại khoản 1 Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định: “Trợ giúp pháp lý được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật, trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại”. Điều đó có nghĩa rằng, TGPL chỉ áp dụng trong lĩnh vực dân sự, hình sự, hành chính, không áp dụng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Vì vậy, vẫn còn một sự khác biệt giữa pháp luật trong nước và quy định của Công ước về lĩnh vực pháp luật được TGPL.

3. Hình thức trợ giúp pháp lý

Đoạn 3 Điều 1 Công ước quy định: “Các quy định của Điều này sẽ được áp dụng cho các trường hợp được đưa ra trước Tòa án hoặc Tòa án có thẩm quyền trong các vấn đề đó”. Với tính chất pháp lý là điều ước quốc tế về tiếp cận công lý quốc tế, các quy định của Công ước tập trung chủ yếu vào việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng trong tư pháp hình sự. Bởi lẽ, theo cộng đồng quốc tế, “tiếp cận công lý là việc người dân được tìm kiếm và đạt được các hình thức giải quyết tranh chấp thông qua việc tiếp cận với các biện pháp đền bù, hoặc khắc phục từ các thiết chế tư pháp chính thức, như cơ quan điều tra, truy tố, xét xử đến các thiết chế không mang tính chính thức, như cơ quan nhân quyền quốc gia, cơ quan thanh tra Quốc hội… trên cơ sở tuân thủ theo các chuẩn mực về quyền con người”[5]. Điều 2 Công ước quy định: “Điều 1 sẽ được áp dụng cho tư vấn pháp lý với điều kiện người đó có mặt tại quốc gia nơi thể hiện yêu cầu tư vấn”. Như vậy, theo quy định của Công ước, TGPL được thực hiện thông qua 02 hình thức là tư vấn pháp luật và tham gia tố tụng.

Trong khi đó, khoản 2 Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định 03 hình thức TGPL bao gồm: Tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và tư vấn pháp luật cho người thuộc diện TGPL. Như vậy, TGPL không chỉ tham gia tố tụng để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, đương sự, người có quyền lợi liên quan trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính mà TGPL còn tham gia đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật. Trong đó, tư vấn pháp luật là hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc, hướng dẫn giúp các bên hòa giải, thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc TGPL. Đại diện ngoài tố tụng là việc người thực hiện TGPL đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền để xác lập, thực hiện giao dịch ngoài phạm vi tố tụng hành chính, hình sự, dân sự do Toà án tiến hành với các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác.

4. Cách thức trợ giúp pháp lý

Đoạn 1 Điều 3 Công ước quy định: “Mỗi quốc gia thành viên của Công ước chỉ định một cơ quan trung ương tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý đối với các đơn xin TGPL được nộp theo Công ước này”. Như vậy, theo quy định của Công ước, mỗi quốc gia thành viên sẽ chỉ định một cơ quan trung ương làm đầu mối tiếp nhận yêu cầu TGPL của người có yêu cầu. Sau đó, sẽ chuyển yêu cầu TGPL tới cơ quan thực hiện TGPL để giải quyết yêu cầu đó.

Điều 4 Công ước quy định, mỗi quốc gia ký kết sẽ chỉ định một hoặc nhiều cơ quan truyền phát gửi tài liệu (transmitting authorities) nhằm mục đích chuyển tiếp đơn xin TGPL cho cơ quan trung ương thích hợp tại quốc gia được yêu cầu. Như vậy, đối với trường hợp, người yêu cầu TGPL không cư trú tại quốc gia được yêu cầu thì người đó có thể nộp đơn tại cơ quan truyền phát gửi tài liệu của nước ký kết, nơi người đó cư trú thường xuyên. Đơn xin TGPL sẽ được truyền tới nước yêu cầu TGPL mà không cần sự can thiệp của bất kỳ cơ quan nào khác[6]. Hồ sơ yêu cầu TGPL bao gồm đơn yêu cầu TGPL (dạng mẫu) được đính kèm theo Công ước này và bất kỳ tài liệu cần thiết nào.

Tại Việt Nam, TGPL được thực hiện trên cơ sở yêu cầu TGPL của người được TGPL. Theo đó, người được TGPL tự mình hoặc thông qua người thân thích, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu TGPL. Người yêu cầu phải nộp hồ sơ yêu cầu TGPL cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh/thành phố, chi nhánh của Trung tâm hoặc tổ chức tham gia TGPL (tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật ký hợp đồng thực hiện TGPL với Sở Tư pháp; tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia TGPL) để được xem xét đủ điều kiện thuộc diện TGPL.

Thiết nghĩ, nếu Việt Nam gia nhập Công ước thì cần phải tiếp tục nghiên cứu các quy định trên về TGPL, nhất là cơ chế phối hợp giữa tổ chức thực hiện TGPL với cơ quan trung ương để vừa bảo đảm kịp thời quyền và lợi ích của người được TGPL vừa bảo đảm thực hiện nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda) trong quan hệ quốc tế.

Lê Văn Quang

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp









[1]. Xem đoạn 1 Điều 1 Công ước La Hay năm 1980.

[2]. This provision grants legal aid to anyone, whether plaintiff or defendant, inpidual or association, who is incapable of exercising his legal rights, Legal Aid in France, George A. Pelletier (1967).

[3]. Any Contracting State may, at the time of signature, ratification, acceptance, approval or accession, reserve the right to exclude the application of Article 1 in the case of persons who are not nationals of a Contracting State but who have their habitual residence in a Contracting State other than the reserving State or formerly had their habitual residence in the reserving State, if there is no reciprocity of treatment between the reserving State and the State of which the applicants for legal aid are nationals.

[4]. Ví dụ: Pháp áp dụng điều này.

[5]. UNDP (2005), Programming for Justice: Access for All, Bangkok.

[6]. Trích đoạn 2 Điều 4 Công ước: “without the intervention of any other authority”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: