Thứ ba 10/02/2026 19:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự khác biệt trong quy định về trợ giúp pháp lý giữa Công ước La Hay năm 1980 về tiếp cận công lý và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017

Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế là một Tổ chức liên Chính phủ toàn cầu được hình thành năm 1893 tại Hà Lan. Với tầm nhìn hành động vì một thế giới mà cuộc sống và hoạt động của các tổ chức,

Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế là một Tổ chức liên Chính phủ toàn cầu được hình thành năm 1893 tại Hà Lan. Với tầm nhìn hành động vì một thế giới mà cuộc sống và hoạt động của các tổ chức, cá nhân liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau được hưởng mức độ an toàn pháp lý cao, Hội nghị đã xây dựng nhiều công cụ pháp lý đa phương nhằm đáp ứng nhu cầu của toàn thế giới, trong đó, có Công ước La Hay năm 1980 về Tiếp cận công lý quốc tế. Ngày 10/4/2013, Việt Nam đã chính thức được công nhận là thành viên của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế nhưng Việt Nam chưa gia nhập Công ước. Công ước dành riêng Chương 1 gồm 13 điều quy định về cơ chế thực hiện trợ giúp pháp lý giữa các quốc gia thành viên. Trong bài viết này, tác giả phân tích một số điểm khác biệt trong quy định về trợ giúp pháp lý giữa Công ước La Hay năm 1980 về tiếp cận công lý và Luật Trợ giúp pháp lý Việt Nam năm 2017 để nghiên cứu, chuẩn bị gia nhập Công ước trong điều kiện hiện nay.

Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế là một Tổ chức liên Chính phủ toàn cầu được hình thành năm 1893 tại Hà Lan. Với tầm nhìn hành động vì một thế giới mà cuộc sống và hoạt động của các tổ chức, cá nhân liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau được hưởng mức độ an toàn pháp lý cao, Hội nghị đã xây dựng nhiều công cụ pháp lý đa phương nhằm đáp ứng nhu cầu của toàn thế giới, trong đó, có Công ước La Hay năm 1980 về Tiếp cận công lý quốc tế (Công ước). Ngày 10/4/2013, Việt Nam đã chính thức được công nhận là thành viên của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế nhưng Việt Nam chưa gia nhập Công ước. Công ước dành 01 Chương (Chương 1) gồm 13 điều quy định về cơ chế thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) giữa các quốc gia thành viên. Phân tích điểm khác biệt trong quy định của Công ước góp phần nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về TGPL tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.

1. Đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý

Điều 1 Công ước quy định: “Công dân của bất kỳ quốc gia thành viên nào và những người thường trú tại bất kỳ quốc gia thành viên nào đều có quyền được trợ giúp pháp lý…”[1]. Từ quy định này, có thể thấy:

Thứ nhất, nghiên cứu 13 điều của Công ước quy định về TGPL, tác giả nhận thấy, các quy định của Công ước về đối tượng thuộc diện TGPL được xác định dựa trên yếu tố quốc tịch và nơi cư trú của người đó mà không xác định rõ đối tượng đó là thể nhân hay pháp nhân. Công ước sử dụng thuật ngữ “persons” theo tiếng Việt có nghĩa là “người” nhưng trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới có thể bao gồm hai loại, đó là thể nhân (natural person) và pháp nhân (legal person). Mặt khác, theo Tài liệu số 15 năm 2009 của Văn phòng Thường trực Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế thì có xu hướng cung cấp TGPL cho pháp nhân. Có thể đưa ra một dẫn chứng, Pháp là một quốc gia thành viên của Công ước, TGPL tại Pháp được cung cấp cho bất kỳ cá nhân, tổ chức trong xã hội không có khả năng thực hiện các quyền hợp pháp của mình[2]. Trong khi đó, pháp nhân không thuộc đối tượng được TGPL theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 ở Việt Nam, theo đó, người được TGPL là các cá nhân đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật TGPL (Điều 7).

Thứ hai, cơ sở xác định điều kiện được TGPL theo Công ước dựa trên yếu tố quốc tịch và nơi cư trú (Điều 1). Theo tác giả, với tính chất là một điều ước quốc tế - là hình thức thể hiện sự thỏa thuận giữa các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế (Tổ chức liên Chính phủ, Dân tộc đấu tranh giành quyền tự quyết, Vùng lãnh thổ đặc biệt) làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của chủ thể luật quốc tế để điều chỉnh các đối tượng thì yếu tố quốc tịch, nơi cư trú luôn luôn được đặt ra. Tại Việt Nam, cơ sở xác định đối tượng thuộc diện được TGPL dựa trên việc thực hiện chính sách đền ơn, đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng; chính sách dân tộc; chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi bị buộc tội, chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em và chính sách xã hội khác đối với một số nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội có khó khăn về tài chính, không đủ khả năng chi trả thù lao cho luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý. Cụ thể, tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định 14 nhóm đối tượng thuộc diện TGPL bao gồm: Người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, trẻ em, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo… Mặt khác, Điều 26 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cũng quy định về phạm vi thực hiện TGPL, đó là người được TGPL đang cư trú tại địa phương; vụ việc TGPL xảy ra tại địa phương; vụ việc TGPL do cơ quan có thẩm quyền về TGPL ở trung ương yêu cầu. Như vậy, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 không đề cập đến vấn đề quốc tịch của người được TGPL mà chủ yếu tập trung vào liệt kê rõ các diện được TGPL. Yếu tố cư trú cũng được xác định là một trong những điều kiện để được TGPL.

Thứ ba, Điều 1 Công ước thể hiện nội dung của Nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment) trong quan hệ quốc tế nhằm đảm bảo sự bình đẳng trong tiếp cận công lý, không phân biệt đối xử với bất kỳ ai, cho dù người đó là công dân của quốc gia thành viên của Công ước hoặc người nước ngoài (người nước ngoài có thể là công dân của bất kỳ quốc gia nào, kể cả quốc gia chưa là thành viên của Công ước nhưng thường trú tại một quốc gia thành viên hoặc đã thường trú tại quốc gia thành viên). Ở Pháp, TGPL cũng được áp dụng cho người nước ngoài theo một hiệp định tương trợ tư pháp song phương. Năm 1959, Hoa Kỳ và Pháp đã ký một thỏa thuận, theo đó, các công dân của mỗi nước trong lãnh thổ của nước kia được hưởng TGPL tương tự như công dân của quốc gia đó. Tuy nhiên, theo Điều 28 Công ước, bất kỳ quốc gia ký kết nào tại thời điểm ký, phê chuẩn, chấp nhận, phê duyệt hoặc gia nhập, có quyền bảo lưu Điều 1 Công ước[3], đối với một người không là công dân của quốc gia thành viên của Công ước nhưng thường trú tại một quốc gia thành viên khác, không phải là nước ký kết; hoặc đã từng thường trú tại nước ký kết nhưng giờ ở nước khác không phải là quốc gia thành viên, trừ trường hợp hai nước ký kết điều quốc tế song phương[4].

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 không đề cập đến vấn đề quốc tịch, vì vậy, người nước ngoài là công dân của nước ký kết và người nước ngoài thường trú tại nước ký kết chưa được quy định cụ thể trong pháp luật về TGPL của Việt Nam. Hiện nay, theo một số hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết giữa Việt Nam và một số quốc gia cũng có quy định về việc TGPL của quốc gia sở tại cho công dân của quốc gia ký kết kia. Nếu trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp (khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016). Với những quốc gia mà chưa ký kết điều ước quốc tế thì áp dụng nguyên tắc có đi có lại theo thông lệ quốc tế. Tuy vậy, việc thực hiện TGPL cho người nước ngoài tại Việt Nam cần được nghiên cứu thêm bởi trong thực tiễn chưa có nhiều vụ việc TGPL cho người nước ngoài tại Việt Nam.

2. Lĩnh vực pháp luật được trợ giúp pháp lý

Theo đoạn 1 Điều 1 Công ước thì: “Công dân của bất kỳ quốc gia thành viên nào và những người thường trú tại bất kỳ quốc gia thành viên nào đều có quyền được TGPL khi người đó tham gia thủ tục tố tụng tại Tòa án trong các vấn đề dân sự và thương mại” và theo đoạn 3 Điều 1 Công ước thì TGPL được cung cấp trong các vấn đề hành chính, xã hội hoặc tài khóa. Như vậy, theo quy định của Công ước, phạm vi thực hiện TGPL trong các lĩnh vực pháp luật tương đối rộng, bao gồm cả hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tại khoản 1 Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định: “Trợ giúp pháp lý được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật, trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại”. Điều đó có nghĩa rằng, TGPL chỉ áp dụng trong lĩnh vực dân sự, hình sự, hành chính, không áp dụng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Vì vậy, vẫn còn một sự khác biệt giữa pháp luật trong nước và quy định của Công ước về lĩnh vực pháp luật được TGPL.

3. Hình thức trợ giúp pháp lý

Đoạn 3 Điều 1 Công ước quy định: “Các quy định của Điều này sẽ được áp dụng cho các trường hợp được đưa ra trước Tòa án hoặc Tòa án có thẩm quyền trong các vấn đề đó”. Với tính chất pháp lý là điều ước quốc tế về tiếp cận công lý quốc tế, các quy định của Công ước tập trung chủ yếu vào việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng trong tư pháp hình sự. Bởi lẽ, theo cộng đồng quốc tế, “tiếp cận công lý là việc người dân được tìm kiếm và đạt được các hình thức giải quyết tranh chấp thông qua việc tiếp cận với các biện pháp đền bù, hoặc khắc phục từ các thiết chế tư pháp chính thức, như cơ quan điều tra, truy tố, xét xử đến các thiết chế không mang tính chính thức, như cơ quan nhân quyền quốc gia, cơ quan thanh tra Quốc hội… trên cơ sở tuân thủ theo các chuẩn mực về quyền con người”[5]. Điều 2 Công ước quy định: “Điều 1 sẽ được áp dụng cho tư vấn pháp lý với điều kiện người đó có mặt tại quốc gia nơi thể hiện yêu cầu tư vấn”. Như vậy, theo quy định của Công ước, TGPL được thực hiện thông qua 02 hình thức là tư vấn pháp luật và tham gia tố tụng.

Trong khi đó, khoản 2 Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định 03 hình thức TGPL bao gồm: Tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và tư vấn pháp luật cho người thuộc diện TGPL. Như vậy, TGPL không chỉ tham gia tố tụng để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, đương sự, người có quyền lợi liên quan trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính mà TGPL còn tham gia đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật. Trong đó, tư vấn pháp luật là hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc, hướng dẫn giúp các bên hòa giải, thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc TGPL. Đại diện ngoài tố tụng là việc người thực hiện TGPL đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền để xác lập, thực hiện giao dịch ngoài phạm vi tố tụng hành chính, hình sự, dân sự do Toà án tiến hành với các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác.

4. Cách thức trợ giúp pháp lý

Đoạn 1 Điều 3 Công ước quy định: “Mỗi quốc gia thành viên của Công ước chỉ định một cơ quan trung ương tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý đối với các đơn xin TGPL được nộp theo Công ước này”. Như vậy, theo quy định của Công ước, mỗi quốc gia thành viên sẽ chỉ định một cơ quan trung ương làm đầu mối tiếp nhận yêu cầu TGPL của người có yêu cầu. Sau đó, sẽ chuyển yêu cầu TGPL tới cơ quan thực hiện TGPL để giải quyết yêu cầu đó.

Điều 4 Công ước quy định, mỗi quốc gia ký kết sẽ chỉ định một hoặc nhiều cơ quan truyền phát gửi tài liệu (transmitting authorities) nhằm mục đích chuyển tiếp đơn xin TGPL cho cơ quan trung ương thích hợp tại quốc gia được yêu cầu. Như vậy, đối với trường hợp, người yêu cầu TGPL không cư trú tại quốc gia được yêu cầu thì người đó có thể nộp đơn tại cơ quan truyền phát gửi tài liệu của nước ký kết, nơi người đó cư trú thường xuyên. Đơn xin TGPL sẽ được truyền tới nước yêu cầu TGPL mà không cần sự can thiệp của bất kỳ cơ quan nào khác[6]. Hồ sơ yêu cầu TGPL bao gồm đơn yêu cầu TGPL (dạng mẫu) được đính kèm theo Công ước này và bất kỳ tài liệu cần thiết nào.

Tại Việt Nam, TGPL được thực hiện trên cơ sở yêu cầu TGPL của người được TGPL. Theo đó, người được TGPL tự mình hoặc thông qua người thân thích, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu TGPL. Người yêu cầu phải nộp hồ sơ yêu cầu TGPL cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh/thành phố, chi nhánh của Trung tâm hoặc tổ chức tham gia TGPL (tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật ký hợp đồng thực hiện TGPL với Sở Tư pháp; tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia TGPL) để được xem xét đủ điều kiện thuộc diện TGPL.

Thiết nghĩ, nếu Việt Nam gia nhập Công ước thì cần phải tiếp tục nghiên cứu các quy định trên về TGPL, nhất là cơ chế phối hợp giữa tổ chức thực hiện TGPL với cơ quan trung ương để vừa bảo đảm kịp thời quyền và lợi ích của người được TGPL vừa bảo đảm thực hiện nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda) trong quan hệ quốc tế.

Lê Văn Quang

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp









[1]. Xem đoạn 1 Điều 1 Công ước La Hay năm 1980.

[2]. This provision grants legal aid to anyone, whether plaintiff or defendant, inpidual or association, who is incapable of exercising his legal rights, Legal Aid in France, George A. Pelletier (1967).

[3]. Any Contracting State may, at the time of signature, ratification, acceptance, approval or accession, reserve the right to exclude the application of Article 1 in the case of persons who are not nationals of a Contracting State but who have their habitual residence in a Contracting State other than the reserving State or formerly had their habitual residence in the reserving State, if there is no reciprocity of treatment between the reserving State and the State of which the applicants for legal aid are nationals.

[4]. Ví dụ: Pháp áp dụng điều này.

[5]. UNDP (2005), Programming for Justice: Access for All, Bangkok.

[6]. Trích đoạn 2 Điều 4 Công ước: “without the intervention of any other authority”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: