Thứ tư 20/05/2026 10:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự tương thích của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với pháp luật dân sự về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Theo quy định tại khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”.

1. Các điểm tương thích

Thứ nhất, quy định về đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp đương sự tham gia tố tụng chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế là phù hợp với pháp luật dân sự 2015

Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Dân sự năm 2015, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân bao gồm các quyền:

“1. Quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản

2. Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản

3. Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó”

Trong các quyền trên,quyền nhân thân thuộc nhóm quyền “gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” (khoản 1 Điều 25 Bộ luật Dân sư năm 2015). Do vậy khi cá nhân đang tham gia vào các vụ án phát sinh từ quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng (ly hôn, giải quyết vấn đề nuôi con)...mà xuất hiện sự kiện đương sự chết thì quyền và nghĩa vụ của họ không thể được chuyển giao cho chủ thể khác. Sự kiện này làm cho quá trình giải quyết vụ án của Tòa án bị chấm dứt và Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Nói cách khác quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là phù hợp với các quy định về quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân quy định tại Chương III Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, đối với vụ việc có nhiều quan hệ pháp luật, vừa có quan hệ nhân thân, vừa có quan hệ tài sản cần giải quyết (ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng đồng thời giải quyết yêu cầu của chủ nợ đối với vợ chồng...) thì việc một trong các đương sự chết cũng không làm chấm dứt việc giải quyết các quan hệ tài sản. Trong trường hợp này, Tòa án chỉ đình chỉ giải quyết yêu cầu đối với quan hệ nhân thân chứ không đình chỉ giải quyết vụ án.

Thứ hai, quy định về đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp “Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt…” phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2015

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”. Nói cách khác, các quan hệ pháp luật dân sự là các quan hệ được thiết lập dựa trên ý chí tự nguyện, tinh thần hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi của các bên. Pháp luật tôn trọng và tạo điều kiện tối đa để các chủ thể thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ pháp luật dân sự.

Mặt khác, trước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự đã là chủ thể của các quan hệ pháp luật nội dung (quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng). Do đó, khi quan hệ pháp luật nội dung được thiết lập dựa trên ý chí tự nguyện, tinh thần hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi của các bên; thì quan hệ pháp luật tố tụng dân sự tất yếu phải được xác lập dựa trên nguyên tắc đó. Nhằm tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của đương sự, pháp luật tố tụng dân sự cho phép các chủ thể có quyền tự định đoạt về việc có tiếp tục giải quyết vụ án dân sự hay không thông qua hành vi của đương sự. Theo đó, hành vi này được thể hiện dưới hai hình thức: “Rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện” (hành động) hoặc “nguyên đơn đã được triệu tập lần thứ hai vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan” (không hành động). Quy định này nhằm tạo sự linh hoạt cho cơ quan có thẩm quyền (Tòa án) trong việc giải quyết vụ án dân sự, tránh tình trạng tồn đọng án; đồng thời mở rộng tối đa quyền tự định đoạt của đương sự trong việc giải quyết vụ án dân sự.

Thứ ba, quy định về đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp “Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó” là phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật Phá sản năm 2014

Quy định này phù hợp với Điều 71 của Luật Phá sản năm 2014 “Trường hợp Tòa án ra quyết định mở thủ tục pháp sản, Tòa án, Trọng tài, cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định tạm đình chỉ theo quy định tại Điều 41 của Luật này phải ra quyết định đình chỉ và chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án đang tiến hành thủ tục phá sản giải quyết”. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự nếu một trong các bên đương sự của vụ án doanh nghiệp, hợp tác xã đã có quyết định mở thủ tục phá sản thì các quyền, nghĩa vụ của đương sự sẽ được giải quyết theo thủ tục phá sản. Vì vậy, Tòa án đang giải quyết vụ án dân sự đó sẽ đình chỉ giải quyết vụ án kể từ ngày có quyết định phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã của TA có thẩm quyền đồng thời TA này phải chuyển hồ sơ vụ án cho TA đang tiến hành thủ tục phá sản để giải quyết.

Thứ tư, quy định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp “Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết”là phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2015

Quy định này phù hợp với khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyết từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc áp dụng đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”.

Việc khởi kiện vụ án dân sự được quy định tại Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Tuy nhiên, việc khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án chỉ được thực hiện trong một thời hạn do Luật quy định, hết thời hạn đó thì người có quyền khởi kiện bị mất quyền khởi kiện. Thời hạn được thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự gọi là thời hiệu khởi kiện. Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Thời hiệu khởi kiện vụ án được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thức thì mất quyền khởi kiện.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự không áp dụng trong những trường hợp sau đây: (i) Yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước; (ii) Yêu cầu bảo vệ quyền nhân dân bị xâm phạm trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; (iii) Các trường hợp khác do pháp luật quy định. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây: (i) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; (ii) Bên nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; (iii) Các bên đã tự hòa giải với nhau.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án đối với một số tranh chấp được quy định như sau: Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng (Điều 129); thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 588)… là ba năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm; Thời hiệu để người yêu cầu chia di sản thừa kế (Điều 623) là ba mươi năm đối với bất động sản, mười năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế…. Thời điểm để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế.Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế.Theo Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015, không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong các trường hợp sau đây: (i) Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn liền với tài sản; (ii) Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có quy định khác; (iii) Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai; (iv) Các trường hợp khác do luật quy định.Có thể nhận thấy, thời hiệu thực hiện quyền khởi kiện quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là nhiều hơn so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Các quy định về không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật Dân sự năm 2015 được mở rộng hơn, bổ sung thêm một số tranh chấp không áp dụng thời hiệu khởi kiện là các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản do người khác quản lý, tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.Bên cạnh các quy định của Bộ luật Dân sự, các văn bản pháp luật khác cũng quy định về thời hiệu khởi kiện như: Luật Thương mại năm 2005 quy định thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm… (Điều 3)

Như vậy, có thể thấy đi cùng sự thay đổi của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng có những chuyển biến để phù hợp với pháp luật nội dung nhằm giải quyết các Vụ việc dân sự theo nghĩa rộng đảm bảo quyền, lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng.

2. Các điểm không tương thícvà kiến nghị nhằm hoàn thiện

Thứ nhất, điểm a khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 “Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế”

Theo pháp luật dân sự, khi một người chết đi mà các quyền, nghĩa vụ có thể được chuyển giao (thường là quyền, nghĩa vụ về tài sản) thì người thừa kế của người này có quyền được thừa kế những quyền và nghĩa vụ đó.Ngược lại, cũng có những quyền, nghĩa vụ sẽ không được chuyển giao (thường là quyền, nghĩa vụ về nhân thân) thì người thừa kế của người này không có quyền được thừa kế những quyền và nghĩa vụ đó.

Hiện nay, theo quy định tại Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khi đương sự chết, chỉ có những quyền và nghĩa vụ về tài sản của đương sự đã chết có thể để lại thừa kế (có thể chuyển giao) thì người thừa kế mới có quyền kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Tuy nhiên, quy định này đã hạn chế quyền được thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của người thừa kế trong một số trường hợp.Trên thực tế, có một số quyền, nghĩa vụ về nhân thân của đương sự đã chết vẫn có thể được thừa kế như quyền công bố tác phẩm được quy định trong Luật sở hữu trí tuệ.

Quyền tác giả bao gồm hai nhóm quyền: Quyền tài sản và quyền nhân thân. Quyền tài sản bảo vệ các lợi ích kinh tế của tác giả và cho phép tác giả thu lợi bằng cách khai thác trực tiếp hoặc gián tiếp tác phẩm. Quyền nhân thân bảo vệ sự toàn vẹn về sáng tạo và danh tiếng của tác giả sáng tạo được thể hiện thông qua tác phẩm. Quyền nhân thân bao gồm: Quyền đặt tên cho tác phẩm; Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Công bố tác phẩm hoặc cho người khác công bố tác phẩm; Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm,…

Tham chiếu vào Khoản 2 Điều 22 Nghị định 100/2006/NĐ-CP về quyền tác giả và quyền liên quan ta có khái niệm công bố tác phẩm như sau: “Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng tuỳ theo bản chất của tác phẩm, do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả”.Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.

Ngoài ra, cũng có những quyền, nghĩa vụ về tài sản sẽ không được chuyển giao như nghĩa vụ cấp dưỡng. Về bản chất, nghĩa vụ cấp dưỡng là sự biểu đạt vật chất của tình đoàn kết giữa các thành viên trong cùng một gia đình, là nghĩa vụ mà luật áp đặt đối với một thành viên trong gia đình, theo đó thành viên này phải giúp đỡ các thành viên khác. Theo quy định của pháp luật nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ, con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại với cháu; giữa cô, gì, chú, cậu, bác ruột với cháu; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản khác liên quan. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.Chính vì vậy, mặc dù là quyền tài sản những nó gắn liền với nhân thân do vậy khi đương sự chết sẽ không thể thừa kế lại cho chủ thể khác quyền, nghĩa vụ này.

Thứ hai, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 “Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan”

Có thể thấy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có sự thay đổi về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự bằng việc bỏ đi quy định về điều kiện “được Tòa án chấp nhận” khi “người khởi kiện rút đơn khởi kiện” (điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011). Sự thay đổi này nhằm nâng cao và tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của đương sự đã được công nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2015 khi tham gia vào các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng. Tuy nhiên, nếu bỏ đi quy định về yêu cầu “được Tòa án chấp nhận” theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì trên phương diện nhất định, pháp luật tố tụng dân sự đã vô tình làm tăng thêm gánh nặng của cơ quan Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân không được lạm dụng quyền dân sự của mình gây thiệt hại cho người khác, để vi phạm nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện mục đích khác trái pháp luật”

Nếu theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 thì việc đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện sẽ chỉ được tiến hành nếu được Tòa án chấp nhận. Quy định này như một “lá chắn” yêu cầu người khởi kiện trước khi khởi kiện phải có sự suy xét kĩ lưỡng, quyết định khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và của người khác.

Ngoài ra, trong một vụ án dân sự nếu chỉ có duy nhất một nguyên đơn thì việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì được coi như từ bỏ quyền khởi kiện và Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án (không có yêu cầu phản tố của bị đơn hay yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan). Nhưng trên thực tế hiện nay, trong một vụ án dân sự có thể có từ hai nguyên đơn trở lên, nếu chỉ một trong các nguyên đơn rút đơn khởi kiện hay vắng mặt đến lần thứ hai mà không có lý do chính đáng thì có đình chỉ giải quyết vụ án với tất cả các yêu cầu của các nguyên đơn hay không.

Hơn nữa, Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Như vậy theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đương sự có quyền rút lại đơn khởi kiện của mình ở cả trong giai đoạn xét xử sơ thẩm cũng như giai đoạn xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên trên thực tế, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì lại phát sinh một số vướng mắc, cụ thể tại Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

Trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không và tuỳ từng trường hợp mà giải quyết như sau:

a) Bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn;

b) Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án….”

Tuy nhiên điều luật trên chưa đề cập đến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Trên thực tế nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện và bị đơn đồng ý; nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập kháng cáo giữ nguyên yêu cầu độc lập và yêu cầu kháng cáo thì trong trường hợp này sẽ giải quyết như thế nào?

Có quan điểm cho rằng trong trường hợp này sẽ thay đổi địa vị tố tụng, nghĩa là nếu nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện và bị đơn đồng ý nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn. Tuy nhiên quan điểm này chưa có cơ sở bởi vì thay đổi địa vị tố tụng theo quy định tại Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 chỉ áp dụng cho giai đoạn xét xử sơ thẩm, còn giai đoạn xét xử phúc thẩm không có quy định về việc thay đổi địa vị tố tụng.

Cũng có quan điểm cho rằng trong trường hợp này Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đồng thời hướng dẫn người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan khởi kiện lại đối với yêu cầu của mình.

Vì chưa có hướng dẫn của cấp trên nên trên thực tế khi gặp những trường hợp nói trên thì có nhiều cách giải quyết khác nhau, chưa có sự thống nhất.Để việc áp dụng pháp luật được thống nhất đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự thiết nghĩ liên ngành cấp trên cần có hướng dẫn cụ thể để giải quyết trường hợp vừa nêu.

Thứ ba, điểm g khoản 1 Điều 217 “Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý”

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật này nhưng Tòa án vẫn tiến hành thụ lý thì sau đó phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217. Theo Điều a khoản 1 Điều 192 Tòa án sẽ phải trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp : “Người khởi kiện không có quyền khởi theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự”. Như vậy, trong trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện (không phải chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung, không phải người đại diện hợp pháp của chủ thể quan hệ pháp luật nội dung hoặc không được pháp luật quy định có quyền khởi kiện) mà khởi kiện thì Tòa án trong trường hợp đã thụ lý phải đình chỉ giải quyết vụ án. Quy định này nhằm hạn chế việc chủ thể khởi kiện không có tư cách của nguyên đơn do không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật cần giải quyết, không có tư cách của người đại diện hợp pháp của đương sự.

Tuy nhiên, việc quy định như vậy của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 lại mâu thuẫn Luật Thi hành án dân sự. Ví dụ: Ngày 12/12/2014, Bản án dân sự sơ thẩm số 202 tuyên ông Nguyễn Văn A phải trả cho bà Trần Thị B số tiền 400 triệu đồng có hiệu lực và phải được thi hành án. Ngày 01/02/2015, ông A bán nhà cho ông C trị giá 900 triệu đồng (có công chứng). Ngày 03/03/2015, bà B làm đơn yêu cầu thi hành án (ông A không còn tài sản). Câu hỏi đặt ra trong trường hợp này bà B có quyền khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng bán nhà giữa ông A và ông C hay không?

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bà B không phải chủ thể của quan hệ pháp luật (mua bán nhà) giữa ông A và ông B nên không đủ điều kiện khởi kiện VADS. Tuy nhiên, theo Điều 75 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết…” chúng ta có thể thấy bà B hoàn toàn có quyền khởi kiện tại Tòa án và theo quy định này Tòa án phải thụ lý và giải quyết theo đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự. Việc quy định này của Luật Thi hành án dân sự hoàn toàn phù hợp với thực tiễn hiện nay khi việc hoạt động thi hành án ngày càng trở nên khó khăn do phía người phải thi hành án thường trốn tránh nghĩa vụ của mình bằng cách tẩu tán tài sản. Việc quy định như vậy tạo sự chủ động cho người được thi hành án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Chính vì lẽ đó, trong trường hợp này, pháp luật cần có sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật tránh gây lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng. Và quan trọng hơn cả là giữa hoạt động xét xử với hoạt động thi hành án của Tòa án với cơ quan thi hành án.

Thứ tư, khoản 4 Điều 217 “Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có),…”

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, một vụ án dân sự có thể được giải quyết thông qua hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm hoặc chỉ thông qua một cấp xét xử sơ thẩm (không có kháng cáo, kháng nghị) và Bản án, quyết định của Tòa án sẽ có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã hoặc đang được thi hành án vẫn có thể được xem xét lại nếu phát hiện có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc phát hiện tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án. Lúc này, nếu vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị hủy và bị yêu cầu xét xử lại tiếp tục bị đình chỉ giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có). Tuy nhiên, chính việc đưa một quy định mới vào trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như vậy khi chưa có sự thống nhất với Luật thi hành án dân sự đã dẫn đến sự mâu thuẫn trong quá trình áp dụng pháp luật. Cụ thể trường hợp sau:

Ông A khởi kiện ông B trong việc tranh chấp một ngôi nhà trên phố Liễu Gia. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều tuyên ngôi nhà thuộc về ông A, giá trị căn nhà tại thời điểm thi hành án dân sự là 700 triệu đồng. Dựa trên bản án của Tòa án cấp phúc thẩm ông A đã bán ngôi nhà cho ông C với giá 500 triệu đồng. Sau đó, ông B làm đơn đề nghị và đã được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo đó, bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm là sai (ngôi nhà thuộc về ông B) và cần hủy để giải quyết lại từ cấp sơ thẩm.

Trong trường hợp này, khoản 3 Điều 135 Luật thi hành án dân sự có quy định như sau: “ Trường hợp tài sản đã được chuyển dịch hợp pháp cho người thú ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyềnlà chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người ngày không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi hiện trạng thì chủ sở hữu tài sản ban đầu không lấy lại tài sản nhưng được bồi hoàn giá trị của tài sản...”. Như vậy, trong trường hợp này, ông B sẽ nhận lại số tiền tương ứng với giá trị ngôi nhà tại thời điểm thi hành án dân sự là 700 triệu đồng. Tuy nhiên, số tiền ông A nhận được khi bán ngôi nhà cho ông C chỉ là 500 triệu đồng, vậy 200 triệu còn lại do giá trị tài sản bị thi hành án giảm sút cơ quan nào sẽ phải chịu trách nhiệm thanh toán. Hiện nay, pháp luật mới chỉ giải quyết vấn đề giá trị tài sản tăng sau khi thi hành án dân sự, còn trong trường hợp tài sản giảm giá trị sau khi thi hành án dân sự thì chưa có quy định cụ thể.Thiết nghĩ, pháp luật về bồi thường nhà nước cần quy định cụ thể về vấn đề này.

Ngoài ra, trong trường hợp sau khi quay lại giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, ông A rút đơn khởi kiện, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp ông B đồng ý. Nhưng sau đó, ông B khởi kiện lại do không đồng ý với quyết định giải quyết hậu quả của việc thi hành án dân sự từ Tòa án có được thụ lý giải quyết hay không khi mà vụ án này đã được giải quyết thông qua một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (một trong các điều kiện khởi kiện). Đây là một trong những điểm không tương thích giữa Bộ luật tố tụng dân sự với luật thi hành án dân sự cần có sự điều chỉnh phù hợp với thực tiễn hiện nay.

Do đó, để việc áp dụng pháp luật được thống nhất đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự thiết nghĩ liên ngành cấp trên cần có hướng dẫn cụ thể để giải quyết trường hợp vừa nêu.

Phan Thanh Dương

Đại học Luật Hà Nội



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: