Thứ năm 20/08/2026 04:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sửa đổi Luật Thanh niên năm 2005 cần tiếp cận theo hướng phát triển thanh niên

Tóm tắt: Trải qua hơn 10 năm tổ chức thực hiện, Luật Thanh niên năm 2005 được đánh giá là chưa đạt được hiệu quả mong muốn, thể hiện ở những bất cập về kỹ thuật lập pháp,

Tóm tắt: Trải qua hơn 10 năm tổ chức thực hiện, Luật Thanh niên năm 2005 được đánh giá là chưa đạt được hiệu quả mong muốn, thể hiện ở những bất cập về kỹ thuật lập pháp, về tổ chức thực hiện dẫn đến việc chưa tận dụng tốt nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp phát triển đất nước. Bài viết này nghiên cứu đề xuất hướng sửa đổi Luật Thanh niên cho phù hợp với tình hình mới.

Abstract: According to assessment, after 10-year implementation, the Youth Law of 2005 has not yet achieved the desired result. This is represented in entanglements on legislative techniques, on implementation organization leading to the fact that youth resources cannot be made the best for the development of the country. This paper conducts research and makes proposals for amendment orientation of the Youth Law in accordance with the new situation.

1. Phát triển thanh niên - hướng tiếp cận phù hợp khi sửa đổi Luật Thanh niên năm 2005

1.1. Phát triển thanh niên là xu thế và đang trở thành cách tiếp cận chuẩn mực trên toàn cầu

Hiện nay, phát triển thanh niên là xu thế và đang dần trở thành một cách tiếp cận, một chuẩn mực trên toàn cầu. Phần lớn các quốc gia trên thế giới đã có chính sách quốc gia về thanh niên với mục tiêu cơ bản là nhằm phát triển thanh niên. Một số quốc gia đã thành lập Bộ Phát triển thanh niên (New Zealand, Nigeria…) để trực tiếp thực hiện các chính sách, pháp luật về phát triển thanh niên. Theo quan điểm của các nước trong khối Thịnh vượng chung, phát triển thanh niên là việc “nâng cao vị trí của thanh niên, trao cho họ khả năng dựa vào năng lực của chính mình trong cuộc sống. Điều đó sẽ làm cho họ có thể đóng góp và được hưởng lợi từ sự ổn định chính trị, sự phát triển kinh tế và môi trường pháp lý thuận lợi, đảm bảo sự tham gia đầy đủ của họ với tư cách là một thành viên tích cực trong xã hội”[1].

Tại Việt Nam, mặc dù các văn bản pháp luật chưa quy định khái niệm “phát triển thanh niên” một cách cụ thể nhưng thanh niên từ lâu đã là đối tượng được quan tâm, chú trọng phát triển. Để tạo điều kiện phát triển thanh niên, Việt Nam đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản chính sách, pháp luật như: Luật Thanh niên năm 2005, Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và các nghị định, thông tư hướng dẫn với mục tiêu xuyên suốt là phát triển thanh niên. Điều 1 Chiến lược phát triển thanh niên Việt nam giai đoạn 2011 - 2020 khẳng định mục tiêu của Chiến lược là: “Xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước, có đạo đức cách mạng, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa; có trình độ học vấn, nghề nghiệp và việc làm; có văn hóa, sức khỏe, kỹ năng sống và ý chí vươn lên; xung kích, sáng tạo làm chủ khoa học, công nghệ tiên tiến; hình thành nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Phát huy vai trò, trách nhiệm của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Bản chất của phát triển thanh niên là nuôi dưỡng và phát triển các kỹ năng và mối quan hệ mà thanh niên cần để tham gia đời sống xã hội, phát huy tối đa tiềm năng của họ. Phát triển thanh niên là để thanh niên đạt được: (i) Ý thức đóng góp cho xã hội; (ii) Cảm nhận về mối liên hệ giữa mình với người khác và với xã hội; (iii) Niềm tin rằng họ có những lựa chọn cho tương lai của chính mình; (iv) Cảm nhận một cách tích cực và thoải mái về cá tính của chính mình. Đó là việc xây dựng các mối quan hệ mạnh mẽ và sự tham gia tích cực của thanh niên trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, bao gồm: (i) Gia đình và họ hàng; (ii) Nhà trường, cơ sở đào tạo và nơi làm việc; (iii) Cộng đồng; (iv) Nhóm bạn bè. Đó cũng là việc thanh niên được tham gia và có tiếng nói trong quá trình tham gia và tổ chức thực hiện cũng như đánh giá các quyết định có ảnh hưởng tới họ, đến gia đình, cộng đồng và đất nước của họ.

1.2. Thanh niên có phát triển thì mới có đủ năng lực để đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội

Có thể nói, trong bối cảnh nền kinh tế tri thức thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, thanh niên Việt Nam - với số lượng đông đảo[2], với sức sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp của mình - là tầng lớp có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn cho xã hội. Kinh nghiệm ở một số quốc gia trên thế giới cho thấy, việc tận dụng tốt cơ hội dân số vàng, phát huy tốt vai trò của thanh niên đã làm cho một số quốc gia có được sự phát triển vượt bậc trong thời gian ngắn như Hàn Quốc. Chính vì vậy, một trong những định hướng cơ bản để phát triển đất nước ta hiện nay chính là việc phát huy và khai thác hiệu quả nguồn lực thanh niên. Theo đó, chính sách và pháp luật - với tư cách là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong quản lý xã hội - cũng cần hướng tới mục tiêu khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực thanh niên. Tuy nhiên, nguồn lực thanh niên không tự nhiên sinh ra mà cần phải được đầu tư, hay nói cách khác, để có thể phát huy vai trò của mình, đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội, chính bản thân thanh niên cũng cần được tạo điều kiện để phát triển, nâng cao năng lực cũng như ý thức công dân của mình. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định, lứa tuổi thanh niên là lứa tuổi có khả năng tốt trong việc tiếp thu kiến thức, ổn định các thuộc tính nhân cách và hình thành những kinh nghiệm sống và làm việc[3]. Đây vừa là cơ hội nhưng cũng lại là thách thức không nhỏ. Nếu không có sự đầu tư, kiểm soát tốt thì có thể thay vì hình thành những phẩm chất tích cực, thanh niên cũng là đối tượng dễ bị tác động của những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, trở thành tầng lớp không những không đóng góp tích cực, mà còn có thể cản trở, thậm chí phá hoại đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Với nhận thức như vậy, Nhà nước cần phải đầu tư cho sự phát triển của thanh niên, hình thành năng lực, phẩm chất và thái độ tích cực, trước khi yêu cầu họ có đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội.

1.3. Phát triển thanh niên cần trở thành mục đích của Luật Thanh niên nhằm khai thác tốt nguồn lực thanh niên trong phát triển xã hội

Theo đó, mục đích của Luật Thanh niên trong giai đoạn hiện nay trước hết và chủ yếu là để “phát triển thanh niên”, tạo tiền đề vững chắc cho sự đóng góp của thanh niên vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều này cũng phù hợp với xu thế chung của thời đại khi phần lớn các quốc gia có Luật Thanh niên hoặc chính sách thanh niên quốc gia đều hướng các chính sách, pháp luật này đến mục đích “phát triển thanh niên”[4].

Như vậy, cần thiết kế lại toàn bộ Luật Thanh niên theo hướng là một đạo luật có vai trò thiết lập mục tiêu, nguyên tắc cơ bản, cũng như đảm bảo các điều kiện cần thiết để thực hiện chính sách thanh niên vì sự phát triển và thông qua đó, phát huy vai trò của thanh niên, có thể quy định một điều luật riêng biệt trong Luật nêu rõ mục đích của Luật Thanh niên. Với cách tiếp cận này, có thể thiết kế một điều luật đầu tiên trong Luật Thanh niên mới, thể hiện rõ mục đích của toàn bộ hệ thống chính sách, pháp luật về thanh niên ở cả khía cạnh xây dựng cũng như tổ chức thực hiện theo các hướng: (i) “Luật Thanh niên quy định những vấn đề liên quan trực tiếp đến thanh niên, nhằm mục đích tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi thúc đẩy sự phát triển tầng lớp thanh niên, khẳng định và phát huy vai trò của họ trong sự nghiệp phát triển đất nước, đồng thời hạn chế những biểu hiện tiêu cực trong thanh niên”; (ii) “Luật Thanh niên quy định quyền và nghĩa vụ (đặc thù) của thanh niên; trách nhiệm của gia đình, xã hội, Nhà nước và chính quyền địa phương đối với thanh niên và thiết lập hệ thống thiết chế/cơ chế nhà nước làm công tác thanh niên nhằm đảm bảo sự phát triển của thanh niên”; (iii) “Luật Thanh niên quy định những nội dung cơ bản, mang tính nguyên tắc nhằm phát triển, quản lý và bảo vệ thanh niên”.

1.4. Với mục tiêu “phát triển thanh niên”, Luật Thanh niên sửa đổi sẽ khắc phục được các hạn chế, bất cập của Luật hiện hành

Luật Thanh niên sửa đổi nếu được thiết kế theo mục đích phát triển thanh niên sẽ khắc phục được những hạn chế, bất cập ở những điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, mục đích phát triển thanh niên đảm bảo được nguyên tắc về sự phù hợp, tính thống nhất, hợp hiến, hợp pháp trong chỉnh thể hệ thống pháp luật Việt Nam. Đây là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp đối với một tầng lớp cụ thể, đưa Hiến pháp tiếp cận gần hơn với thực tiễn cuộc sống, đồng thời định hướng cho các đạo luật khác có liên quan đến thanh niên cần tuân thủ mục đích và đảm bảo các nguyên tắc phát triển thanh niên.

Thứ hai, xem xét về hướng tiếp cận của Luật Thanh niên năm 2005 cho thấy, Luật hiện hành được xây dựng theo hình thức luật đối tượng, trong đó chủ yếu quy định quyền và nghĩa vụ của thanh niên, trách nhiệm của Nhà nước và các chủ thể khác có liên quan trong việc đảm bảo thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên. Tuy nhiên, theo cách tiếp cận này, chưa làm rõ được các quyền và lợi ích hợp pháp đặc thù của thanh niên cần được luật hóa cũng như không thể bao quát hết được các quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng thanh niên theo lĩnh vực. Trong khi đó, các quyền và nghĩa vụ của thanh niên với tư cách là một chủ thể pháp luật đầy đủ đã được các luật chuyên ngành quy định khá chi tiết, hoàn chỉnh. Vì vậy, nếu chúng ta chọn phương án tiếp tục quy định trong Luật Thanh niên sửa đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ cụ thể của thanh niên (có bổ sung một số quyền mới theo quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân) sẽ dễ trùng lặp với quy định của các ngành luật khác, không đảm bảo tính thống nhất, dễ xảy ra xung đột pháp luật.

Thứ ba, trong Luật hiện hành, trách nhiệm của các chủ thể đối với việc đảm bảo thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp cho thanh niên còn được quy định chung chung, thiếu cụ thể; cơ chế đảm bảo thực hiện chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ, tính khả thi không cao. Bên cạnh đó, trách nhiệm công dân của thanh niên, những cống hiến của thanh niên đối với đất nước chưa được khẳng định rõ trong Luật. Chính vì vậy, việc định hướng mục đích ngay từ đầu trong thiết kế, dự thảo Luật sẽ giúp tập trung mọi nguồn lực để đạt được mục tiêu, tránh dàn trải, lãng phí.

2. Thiết kế Luật Thanh niên sửa đổi theo hướng tiếp cận phát triển thanh niên

2.1. Về mặt cấu trúc

- Những quy định chung phải thể hiện rõ nét mục đích của Luật Thanh niên sửa đổi, trên cơ sở đó xác định các nguyên tắc xây dựng, tổ chức thực hiện và đánh giá, giám sát các chính sách, pháp luật đặc thù về thanh niên, xác định phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật và giải thích/định nghĩa các thuật ngữ cơ bản về thanh niên và công tác thanh niên.

- Phần tiếp theo của Luật Thanh niên sửa đổi phải thiết kế được khung pháp lý chung nhất về tổng thể các hoạt động nhằm phát triển thanh niên, trong đó, quy định hệ thống chính sách, pháp luật về thanh niên, hệ thống các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và người làm công tác thanh niên và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân này; quy định mối quan hệ, phối hợp hoạt động cũng như chia sẻ thông tin trong công tác thanh niên giữa các tổ chức, cá nhân; quy định về các loại hình dịch vụ dành cho thanh niên cũng như quy định những đảm bảo về tài chính, về nhân lực cho công tác thanh niên.

- Luật Thanh niên sửa đổi cũng cần quy định việc tổ chức triển khai thực hiện và xử lý vi phạm trong đó quy định cơ chế giám sát và đánh giá thực thi Luật cũng như các chế tài áp dụng trong trường hợp vi phạm. Cơ chế giám sát và đánh giá có thể được xây dựng theo hướng độc lập, nhưng cũng có thể thiết kế thông qua sự giám sát lẫn nhau giữa các chủ thể trong nội bộ hệ thống này.

2.2. Về những nội dung cơ bản

- Nội dung quy định về hệ thống chính sách và pháp luật về thanh niên: Đây chính là nội dung thiết kế tổng thể hệ thống chính sách, pháp luật về thanh niên, thể hiện rõ vai trò trung tâm của Luật Thanh niên sửa đổi. Xác định hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và pháp luật về thanh niên. Xác định các loại văn bản quy phạm pháp luật dưới luật, các văn bản cá biệt… Xác định thẩm quyền xây dựng, phê duyệt, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát, đánh giá đối với từng loại chính sách, pháp luật của từng cơ quan nhà nước trong hệ thống nêu trên. Xác định các yêu cầu cơ bản về nội dung và hình thức của từng loại văn bản, đặc biệt là các văn bản kế hoạch, báo cáo ở cấp địa phương.

Để triển khai các nội dung này thành quy định (điều luật) cụ thể, các nhân tố cần được liệt kê và mối quan hệ giữa chúng cần được thể hiện trong một “ma trận” tổng thể về việc hình thành và tổ chức thực hiện cũng như giám sát, đánh giá chính sách, pháp luật về thanh niên. Đặc biệt, các chủ thể và trách nhiệm của họ cần phải được xác định một cách cụ thể. Đồng thời, mối quan hệ giữa các chủ thể trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật về thanh niên cũng cần được xác định trong “ma trận” này.

- Nội dung quy định về hệ thống thực thi chính sách và pháp luật về thanh niên: Nếu như nội dung trước xác định tổng thể hệ thống pháp luật và chính sách về thanh niên, thì nội dung này xác định các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện các chính sách, pháp luật về thanh niên, bao gồm: Các tổ chức thanh niên (cần thể hiện định nghĩa, các điều kiện thành lập, xác định các tổ chức thanh niên quốc gia như Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Sinh viên…, xác định vị trí, vai trò của chúng trong cơ chế thực hiện chính sách, pháp luật về thanh niên); người làm công tác thanh niên (cần đưa ra định nghĩa, những hoạt động cơ bản và chính sách của Nhà nước đối với họ); lực lượng thanh niên tình nguyện (cần xác định các hoạt động thanh niên tình nguyện, đưa ra những nguyên tắc cơ bản…). Quy định mối quan hệ phối hợp hoạt động cũng như chia sẻ thông tin trong công tác thanh niên giữa các tổ chức, cá nhân. Quy định các loại hình dịch vụ dành cho thanh niên cũng như quy định những đảm bảo về tài chính, về nhân lực cho công tác thanh niên.

- Về các chế định cụ thể: Căn cứ vào cấu trúc và nội dung cơ bản của Luật đã được xác định ở trên, tham khảo kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia có điều kiện tương ứng, tác giả cho rằng, các nội dung sau đây (ngoài mục đích và các nguyên tắc) cần thiết phải được nghiên cứu để quy định trong Luật Thanh niên sửa đổi: (i) Phạm vi, đối tượng điều chỉnh; (ii) Quyền và nghĩa vụ của thanh niên; (iii) Hệ thống chính sách, pháp luật về thanh niên; (iv) Hệ thống quản lý nhà nước về thanh niên; (v) Các chủ thể khác tham gia công tác thanh niên; (vi) Các dịch vụ dành cho thanh niên; (vii) Công tác phát triển các đối tượng thanh niên đặc thù; (viii) Cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin và Hệ thống thông tin quốc gia; (ix) Nguồn tài chính cho công tác phát triển thanh niên; (x) Tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm Luật Thanh niên.

Tóm lại, hướng tiếp cận phát triển thanh niên trong việc thiết kế, xây dựng và tổ chức thực hiện Luật Thanh niên sửa đổi là một hướng tiếp cận phù hợp với xu thế của thời đại và điều kiện của Việt Nam, cũng như đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay.

TS. Hoàng Xuân Châu

TS. Đỗ Thu Hằng

ThS. Nguyễn Tuấn Dũng





[1]. Xem: Commonwealth Secretariat. 2013. Youth Development Index 2013: Results Report.

www. youthdevelopmentindex.org/cms/cms-youth/_ images/197918019952385f3219c75.pdf.

[2]. Theo những báo cáo gần đây nhất, Việt Nam có khoảng trên 25 triệu thanh niên, chiếm gần 30% dân số của cả nước (Báo cáo của Bộ Nội vụ, của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, của UNICEF…).

[3]. Xem, ví dụ: Một số nét tâm lý đặc trưng của lứa tuổi thanh niên, TS. Lê Hương, 2014 tại http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/mot-so-net-tam-ly-dac-trung-cua-lua-tuoi-thanh-nien/2.html.

[4]. Xem Luật Thanh niên của Bulgaria, Moldova, Hàn Quốc.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: