Thứ ba 21/04/2026 23:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sửa đổi Luật Thanh niên năm 2005 cần tiếp cận theo hướng phát triển thanh niên

Tóm tắt: Trải qua hơn 10 năm tổ chức thực hiện, Luật Thanh niên năm 2005 được đánh giá là chưa đạt được hiệu quả mong muốn, thể hiện ở những bất cập về kỹ thuật lập pháp,

Tóm tắt: Trải qua hơn 10 năm tổ chức thực hiện, Luật Thanh niên năm 2005 được đánh giá là chưa đạt được hiệu quả mong muốn, thể hiện ở những bất cập về kỹ thuật lập pháp, về tổ chức thực hiện dẫn đến việc chưa tận dụng tốt nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp phát triển đất nước. Bài viết này nghiên cứu đề xuất hướng sửa đổi Luật Thanh niên cho phù hợp với tình hình mới.

Abstract: According to assessment, after 10-year implementation, the Youth Law of 2005 has not yet achieved the desired result. This is represented in entanglements on legislative techniques, on implementation organization leading to the fact that youth resources cannot be made the best for the development of the country. This paper conducts research and makes proposals for amendment orientation of the Youth Law in accordance with the new situation.

1. Phát triển thanh niên - hướng tiếp cận phù hợp khi sửa đổi Luật Thanh niên năm 2005

1.1. Phát triển thanh niên là xu thế và đang trở thành cách tiếp cận chuẩn mực trên toàn cầu

Hiện nay, phát triển thanh niên là xu thế và đang dần trở thành một cách tiếp cận, một chuẩn mực trên toàn cầu. Phần lớn các quốc gia trên thế giới đã có chính sách quốc gia về thanh niên với mục tiêu cơ bản là nhằm phát triển thanh niên. Một số quốc gia đã thành lập Bộ Phát triển thanh niên (New Zealand, Nigeria…) để trực tiếp thực hiện các chính sách, pháp luật về phát triển thanh niên. Theo quan điểm của các nước trong khối Thịnh vượng chung, phát triển thanh niên là việc “nâng cao vị trí của thanh niên, trao cho họ khả năng dựa vào năng lực của chính mình trong cuộc sống. Điều đó sẽ làm cho họ có thể đóng góp và được hưởng lợi từ sự ổn định chính trị, sự phát triển kinh tế và môi trường pháp lý thuận lợi, đảm bảo sự tham gia đầy đủ của họ với tư cách là một thành viên tích cực trong xã hội”[1].

Tại Việt Nam, mặc dù các văn bản pháp luật chưa quy định khái niệm “phát triển thanh niên” một cách cụ thể nhưng thanh niên từ lâu đã là đối tượng được quan tâm, chú trọng phát triển. Để tạo điều kiện phát triển thanh niên, Việt Nam đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản chính sách, pháp luật như: Luật Thanh niên năm 2005, Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và các nghị định, thông tư hướng dẫn với mục tiêu xuyên suốt là phát triển thanh niên. Điều 1 Chiến lược phát triển thanh niên Việt nam giai đoạn 2011 - 2020 khẳng định mục tiêu của Chiến lược là: “Xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước, có đạo đức cách mạng, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa; có trình độ học vấn, nghề nghiệp và việc làm; có văn hóa, sức khỏe, kỹ năng sống và ý chí vươn lên; xung kích, sáng tạo làm chủ khoa học, công nghệ tiên tiến; hình thành nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Phát huy vai trò, trách nhiệm của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Bản chất của phát triển thanh niên là nuôi dưỡng và phát triển các kỹ năng và mối quan hệ mà thanh niên cần để tham gia đời sống xã hội, phát huy tối đa tiềm năng của họ. Phát triển thanh niên là để thanh niên đạt được: (i) Ý thức đóng góp cho xã hội; (ii) Cảm nhận về mối liên hệ giữa mình với người khác và với xã hội; (iii) Niềm tin rằng họ có những lựa chọn cho tương lai của chính mình; (iv) Cảm nhận một cách tích cực và thoải mái về cá tính của chính mình. Đó là việc xây dựng các mối quan hệ mạnh mẽ và sự tham gia tích cực của thanh niên trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, bao gồm: (i) Gia đình và họ hàng; (ii) Nhà trường, cơ sở đào tạo và nơi làm việc; (iii) Cộng đồng; (iv) Nhóm bạn bè. Đó cũng là việc thanh niên được tham gia và có tiếng nói trong quá trình tham gia và tổ chức thực hiện cũng như đánh giá các quyết định có ảnh hưởng tới họ, đến gia đình, cộng đồng và đất nước của họ.

1.2. Thanh niên có phát triển thì mới có đủ năng lực để đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội

Có thể nói, trong bối cảnh nền kinh tế tri thức thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, thanh niên Việt Nam - với số lượng đông đảo[2], với sức sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp của mình - là tầng lớp có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn cho xã hội. Kinh nghiệm ở một số quốc gia trên thế giới cho thấy, việc tận dụng tốt cơ hội dân số vàng, phát huy tốt vai trò của thanh niên đã làm cho một số quốc gia có được sự phát triển vượt bậc trong thời gian ngắn như Hàn Quốc. Chính vì vậy, một trong những định hướng cơ bản để phát triển đất nước ta hiện nay chính là việc phát huy và khai thác hiệu quả nguồn lực thanh niên. Theo đó, chính sách và pháp luật - với tư cách là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong quản lý xã hội - cũng cần hướng tới mục tiêu khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực thanh niên. Tuy nhiên, nguồn lực thanh niên không tự nhiên sinh ra mà cần phải được đầu tư, hay nói cách khác, để có thể phát huy vai trò của mình, đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội, chính bản thân thanh niên cũng cần được tạo điều kiện để phát triển, nâng cao năng lực cũng như ý thức công dân của mình. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định, lứa tuổi thanh niên là lứa tuổi có khả năng tốt trong việc tiếp thu kiến thức, ổn định các thuộc tính nhân cách và hình thành những kinh nghiệm sống và làm việc[3]. Đây vừa là cơ hội nhưng cũng lại là thách thức không nhỏ. Nếu không có sự đầu tư, kiểm soát tốt thì có thể thay vì hình thành những phẩm chất tích cực, thanh niên cũng là đối tượng dễ bị tác động của những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, trở thành tầng lớp không những không đóng góp tích cực, mà còn có thể cản trở, thậm chí phá hoại đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Với nhận thức như vậy, Nhà nước cần phải đầu tư cho sự phát triển của thanh niên, hình thành năng lực, phẩm chất và thái độ tích cực, trước khi yêu cầu họ có đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội.

1.3. Phát triển thanh niên cần trở thành mục đích của Luật Thanh niên nhằm khai thác tốt nguồn lực thanh niên trong phát triển xã hội

Theo đó, mục đích của Luật Thanh niên trong giai đoạn hiện nay trước hết và chủ yếu là để “phát triển thanh niên”, tạo tiền đề vững chắc cho sự đóng góp của thanh niên vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều này cũng phù hợp với xu thế chung của thời đại khi phần lớn các quốc gia có Luật Thanh niên hoặc chính sách thanh niên quốc gia đều hướng các chính sách, pháp luật này đến mục đích “phát triển thanh niên”[4].

Như vậy, cần thiết kế lại toàn bộ Luật Thanh niên theo hướng là một đạo luật có vai trò thiết lập mục tiêu, nguyên tắc cơ bản, cũng như đảm bảo các điều kiện cần thiết để thực hiện chính sách thanh niên vì sự phát triển và thông qua đó, phát huy vai trò của thanh niên, có thể quy định một điều luật riêng biệt trong Luật nêu rõ mục đích của Luật Thanh niên. Với cách tiếp cận này, có thể thiết kế một điều luật đầu tiên trong Luật Thanh niên mới, thể hiện rõ mục đích của toàn bộ hệ thống chính sách, pháp luật về thanh niên ở cả khía cạnh xây dựng cũng như tổ chức thực hiện theo các hướng: (i) “Luật Thanh niên quy định những vấn đề liên quan trực tiếp đến thanh niên, nhằm mục đích tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi thúc đẩy sự phát triển tầng lớp thanh niên, khẳng định và phát huy vai trò của họ trong sự nghiệp phát triển đất nước, đồng thời hạn chế những biểu hiện tiêu cực trong thanh niên”; (ii) “Luật Thanh niên quy định quyền và nghĩa vụ (đặc thù) của thanh niên; trách nhiệm của gia đình, xã hội, Nhà nước và chính quyền địa phương đối với thanh niên và thiết lập hệ thống thiết chế/cơ chế nhà nước làm công tác thanh niên nhằm đảm bảo sự phát triển của thanh niên”; (iii) “Luật Thanh niên quy định những nội dung cơ bản, mang tính nguyên tắc nhằm phát triển, quản lý và bảo vệ thanh niên”.

1.4. Với mục tiêu “phát triển thanh niên”, Luật Thanh niên sửa đổi sẽ khắc phục được các hạn chế, bất cập của Luật hiện hành

Luật Thanh niên sửa đổi nếu được thiết kế theo mục đích phát triển thanh niên sẽ khắc phục được những hạn chế, bất cập ở những điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, mục đích phát triển thanh niên đảm bảo được nguyên tắc về sự phù hợp, tính thống nhất, hợp hiến, hợp pháp trong chỉnh thể hệ thống pháp luật Việt Nam. Đây là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp đối với một tầng lớp cụ thể, đưa Hiến pháp tiếp cận gần hơn với thực tiễn cuộc sống, đồng thời định hướng cho các đạo luật khác có liên quan đến thanh niên cần tuân thủ mục đích và đảm bảo các nguyên tắc phát triển thanh niên.

Thứ hai, xem xét về hướng tiếp cận của Luật Thanh niên năm 2005 cho thấy, Luật hiện hành được xây dựng theo hình thức luật đối tượng, trong đó chủ yếu quy định quyền và nghĩa vụ của thanh niên, trách nhiệm của Nhà nước và các chủ thể khác có liên quan trong việc đảm bảo thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên. Tuy nhiên, theo cách tiếp cận này, chưa làm rõ được các quyền và lợi ích hợp pháp đặc thù của thanh niên cần được luật hóa cũng như không thể bao quát hết được các quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng thanh niên theo lĩnh vực. Trong khi đó, các quyền và nghĩa vụ của thanh niên với tư cách là một chủ thể pháp luật đầy đủ đã được các luật chuyên ngành quy định khá chi tiết, hoàn chỉnh. Vì vậy, nếu chúng ta chọn phương án tiếp tục quy định trong Luật Thanh niên sửa đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ cụ thể của thanh niên (có bổ sung một số quyền mới theo quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân) sẽ dễ trùng lặp với quy định của các ngành luật khác, không đảm bảo tính thống nhất, dễ xảy ra xung đột pháp luật.

Thứ ba, trong Luật hiện hành, trách nhiệm của các chủ thể đối với việc đảm bảo thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp cho thanh niên còn được quy định chung chung, thiếu cụ thể; cơ chế đảm bảo thực hiện chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ, tính khả thi không cao. Bên cạnh đó, trách nhiệm công dân của thanh niên, những cống hiến của thanh niên đối với đất nước chưa được khẳng định rõ trong Luật. Chính vì vậy, việc định hướng mục đích ngay từ đầu trong thiết kế, dự thảo Luật sẽ giúp tập trung mọi nguồn lực để đạt được mục tiêu, tránh dàn trải, lãng phí.

2. Thiết kế Luật Thanh niên sửa đổi theo hướng tiếp cận phát triển thanh niên

2.1. Về mặt cấu trúc

- Những quy định chung phải thể hiện rõ nét mục đích của Luật Thanh niên sửa đổi, trên cơ sở đó xác định các nguyên tắc xây dựng, tổ chức thực hiện và đánh giá, giám sát các chính sách, pháp luật đặc thù về thanh niên, xác định phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật và giải thích/định nghĩa các thuật ngữ cơ bản về thanh niên và công tác thanh niên.

- Phần tiếp theo của Luật Thanh niên sửa đổi phải thiết kế được khung pháp lý chung nhất về tổng thể các hoạt động nhằm phát triển thanh niên, trong đó, quy định hệ thống chính sách, pháp luật về thanh niên, hệ thống các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và người làm công tác thanh niên và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân này; quy định mối quan hệ, phối hợp hoạt động cũng như chia sẻ thông tin trong công tác thanh niên giữa các tổ chức, cá nhân; quy định về các loại hình dịch vụ dành cho thanh niên cũng như quy định những đảm bảo về tài chính, về nhân lực cho công tác thanh niên.

- Luật Thanh niên sửa đổi cũng cần quy định việc tổ chức triển khai thực hiện và xử lý vi phạm trong đó quy định cơ chế giám sát và đánh giá thực thi Luật cũng như các chế tài áp dụng trong trường hợp vi phạm. Cơ chế giám sát và đánh giá có thể được xây dựng theo hướng độc lập, nhưng cũng có thể thiết kế thông qua sự giám sát lẫn nhau giữa các chủ thể trong nội bộ hệ thống này.

2.2. Về những nội dung cơ bản

- Nội dung quy định về hệ thống chính sách và pháp luật về thanh niên: Đây chính là nội dung thiết kế tổng thể hệ thống chính sách, pháp luật về thanh niên, thể hiện rõ vai trò trung tâm của Luật Thanh niên sửa đổi. Xác định hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và pháp luật về thanh niên. Xác định các loại văn bản quy phạm pháp luật dưới luật, các văn bản cá biệt… Xác định thẩm quyền xây dựng, phê duyệt, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát, đánh giá đối với từng loại chính sách, pháp luật của từng cơ quan nhà nước trong hệ thống nêu trên. Xác định các yêu cầu cơ bản về nội dung và hình thức của từng loại văn bản, đặc biệt là các văn bản kế hoạch, báo cáo ở cấp địa phương.

Để triển khai các nội dung này thành quy định (điều luật) cụ thể, các nhân tố cần được liệt kê và mối quan hệ giữa chúng cần được thể hiện trong một “ma trận” tổng thể về việc hình thành và tổ chức thực hiện cũng như giám sát, đánh giá chính sách, pháp luật về thanh niên. Đặc biệt, các chủ thể và trách nhiệm của họ cần phải được xác định một cách cụ thể. Đồng thời, mối quan hệ giữa các chủ thể trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật về thanh niên cũng cần được xác định trong “ma trận” này.

- Nội dung quy định về hệ thống thực thi chính sách và pháp luật về thanh niên: Nếu như nội dung trước xác định tổng thể hệ thống pháp luật và chính sách về thanh niên, thì nội dung này xác định các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện các chính sách, pháp luật về thanh niên, bao gồm: Các tổ chức thanh niên (cần thể hiện định nghĩa, các điều kiện thành lập, xác định các tổ chức thanh niên quốc gia như Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Sinh viên…, xác định vị trí, vai trò của chúng trong cơ chế thực hiện chính sách, pháp luật về thanh niên); người làm công tác thanh niên (cần đưa ra định nghĩa, những hoạt động cơ bản và chính sách của Nhà nước đối với họ); lực lượng thanh niên tình nguyện (cần xác định các hoạt động thanh niên tình nguyện, đưa ra những nguyên tắc cơ bản…). Quy định mối quan hệ phối hợp hoạt động cũng như chia sẻ thông tin trong công tác thanh niên giữa các tổ chức, cá nhân. Quy định các loại hình dịch vụ dành cho thanh niên cũng như quy định những đảm bảo về tài chính, về nhân lực cho công tác thanh niên.

- Về các chế định cụ thể: Căn cứ vào cấu trúc và nội dung cơ bản của Luật đã được xác định ở trên, tham khảo kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia có điều kiện tương ứng, tác giả cho rằng, các nội dung sau đây (ngoài mục đích và các nguyên tắc) cần thiết phải được nghiên cứu để quy định trong Luật Thanh niên sửa đổi: (i) Phạm vi, đối tượng điều chỉnh; (ii) Quyền và nghĩa vụ của thanh niên; (iii) Hệ thống chính sách, pháp luật về thanh niên; (iv) Hệ thống quản lý nhà nước về thanh niên; (v) Các chủ thể khác tham gia công tác thanh niên; (vi) Các dịch vụ dành cho thanh niên; (vii) Công tác phát triển các đối tượng thanh niên đặc thù; (viii) Cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin và Hệ thống thông tin quốc gia; (ix) Nguồn tài chính cho công tác phát triển thanh niên; (x) Tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm Luật Thanh niên.

Tóm lại, hướng tiếp cận phát triển thanh niên trong việc thiết kế, xây dựng và tổ chức thực hiện Luật Thanh niên sửa đổi là một hướng tiếp cận phù hợp với xu thế của thời đại và điều kiện của Việt Nam, cũng như đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay.

TS. Hoàng Xuân Châu

TS. Đỗ Thu Hằng

ThS. Nguyễn Tuấn Dũng





[1]. Xem: Commonwealth Secretariat. 2013. Youth Development Index 2013: Results Report.

www. youthdevelopmentindex.org/cms/cms-youth/_ images/197918019952385f3219c75.pdf.

[2]. Theo những báo cáo gần đây nhất, Việt Nam có khoảng trên 25 triệu thanh niên, chiếm gần 30% dân số của cả nước (Báo cáo của Bộ Nội vụ, của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, của UNICEF…).

[3]. Xem, ví dụ: Một số nét tâm lý đặc trưng của lứa tuổi thanh niên, TS. Lê Hương, 2014 tại http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/mot-so-net-tam-ly-dac-trung-cua-lua-tuoi-thanh-nien/2.html.

[4]. Xem Luật Thanh niên của Bulgaria, Moldova, Hàn Quốc.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: