Thứ ba 13/01/2026 04:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tác động của Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương đến Ngành Dệt may Việt Nam

Ngành Dệt may hiện nay đã vươn lên trở thành ngành kinh tế lớn của đất nước, góp phần tích cực trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình đô thị hóa và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Trong các cuộc đàm phán về Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), dệt may luôn là một nội dung quan trọng bởi quy mô và sự ảnh hưởng của ngành này đến tất cả các nội dung đàm phán về thương mại và cắt giảm thuế quan; quy tắc xuất xứ và yêu cầu về tỷ trọng sản xuất trong nước; vấn đề đầu tư; dịch vụ bán lẻ, phân phối; vấn đề sở hữ trí tuệ và quyền của người lao động; môi trường và vệ sinh dịch tễ cùng hàng loạt vấn đề pháp lý liên quan.

Việc gia nhập TPP mang đến cho Ngành Dệt may Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức, tác động trên nhiều phương diện, ở nhiều góc độ khác nhau. Bài viết đã phân tích được thực trạng của Ngành Dệt may Việt Nam hiện nay; những tác động tích cực và tiêu cực của TPP tới dệt may Việt Nam, qua đó có đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp dệt may Việt Nam xây dựng những đường hướng, chiến lược phát triển trong tương lai.

1. Thực trạng Ngành Dệt may Việt Nam hiện nay

Dệt may được xem là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm vừa qua. Sản phẩm dệt may Việt Nam được xuất khẩu đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu luôn ở mức cao1. Ngành Dệt may Việt Nam nhiều năm liền được đánh giá cao từ thị trường thế giới, có sức hấp dẫn đối với các thương nhân và các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam cũng có những biện pháp ưu tiên và khuyến khích đầu tư vào Ngành Dệt may như ưu đãi thuế nhập khẩu cho các nguyên liệu thô với mục đích sản xuất các sản phẩm may tái xuất khẩu trong 3 đến 4 tháng, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp… nên sản phẩm dệt may của Việt Nam đã được nhiều thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản chấp nhận.

Tuy nhiên, hiện nay Ngành Dệt may Việt Nam đang gặp những khó khăn nhất định khi hàng may mặc xuất khẩu phần lớn theo phương thức gia công, khâu thiết kế chưa phát triển, tỷ lệ làm hàng theo phương thức FOB (phương thức mà các doanh nghiệp chủ động tham gia vào quá trình sản xuất, từ việc mua nguyên liệu đến cho ra sản phẩm cuối cùng) thấp; nhiều mặt hàng còn phổ thông, chưa đa dạng, chưa có những mặt hàng chất lượng và kỹ thuật may mặc ở trình độ cao, chưa có chiến lược đào tạo bài bản nguồn nhân lực dệt may chất lượng cao và đội ngũ thiết kế có khả năng cạnh tranh với các quốc gia khác. Hơn nữa, năng lực tiếp thị của Ngành Dệt may Việt Nam còn hạn chế, phần lớn các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam chưa khẳng định được thương hiệu, uy tín của mình trên thị trường quốc tế.

Trong những năm tới đây, hoạt động sản xuất và kinh doanh của Ngành Dệt may Việt Nam đang đứng trước những vận hội mới khi nhiều quốc gia trên thế giới đã tìm đến Việt Nam để đầu tư, bởi đây được coi là một thị trường kinh doanh tốt; tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ thuật, nhân sự dễ dàng hơn những quốc gia phát triển khác trên thế giới. Ngoài ra, thị trường nội địa cũng là một môi trường kinh doanh tự do, thoải mái cho Ngành Dệt may Việt Nam nhằm đáp ứng những yêu cầu trong đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam. Ngay từ khi Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được các quốc gia thành viên chấp thuận, thì Ngành Dệt may Việt Nam lại có cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài để tăng cường trình độ công nghệ, kỹ thuật và khả năng cạnh tranh của Ngành Dệt may Việt Nam so với nhiều nước trên thế giới.

Bên cạnh những cơ hội, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn khi tham gia TPP, đó là: Ngành Dệt may còn nhiều yếu kém, xuất phát điểm không cao so với cùng ngành ở thị trường thế giới; công nghiệp dệt may, máy móc, thiết bị chưa phát triển; nhân công, nguyên liệu còn nghèo nàn…; môi trường pháp lý chưa thực sự thông thoáng, bởi chưa nội luật hóa các quy định được ghi nhận trong TPP; có khá nhiều doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam với quy mô nhỏ nên sức cạnh tranh với các thị trường rộng lớn trên thế giới còn yếu.

Theo các chuyên gia nước ngoài, hiện Việt Nam là quốc gia được đánh giá có năng lực cạnh tranh cao tại chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu. Việc chọn Việt Nam làm trung tâm sản xuất hàng dệt may xuất khẩu đang là đích đến của nhiều nhà đầu tư trong lĩnh vực này. Năm 2014, đã có gần 20 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mới đầu tư vào lĩnh vực dệt may. Như vậy, cùng với dư địa phát triển lớn đến từ thị trường thế giới, Ngành Dệt may có nhiều cơ hội bứt phát trong những năm tới. Với tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, Ngành Dệt may không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với mục tiêu phục hồi đà tăng trưởng kinh tế, mà còn đảm bảo cân bằng cán cân thương mại của Việt Nam. Do vậy, ngành sẽ còn nhận được nhiều sự quan tâm, đầu tư hỗ trợ chiến lược từ Chính phủ, cũng như các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, để có được năng lực cạnh tranh ổn định trên thị trường, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải tập trung đầu tư nhiều hơn nữa cho chiến lược nghiên cứu thị trường và công tác thiết kế.

2. Tác động của Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương tới Ngành Dệt may Việt Nam

TPP tác động đến Ngành Dệt may trên nhiều phương diện, ở nhiều góc cạnh khác nhau như:

Một là, tác động tích cực: Việc tham gia Hiệp định TPP mở ra cơ hội đưa Ngành Dệt may vươn xa và hội nhập sâu hơn vào thị trường thế giới. Các nước thành viên của TPP sẽ giảm thuế suất xuống tới 0% cho đại bộ phận các hàng dệt may của nước ta khi xuất khẩu vào các nước này. Đây được coi là một lợi thế lớn để Ngành Dệt may cạnh tranh thị phần với các quốc gia thành viên của TPP. Ngoài ra, nếu như TPP có hiệu lực đồng nghĩa với tỉ trọng xuất khẩu hàng dệt may đến các quốc gia thành viên, đặc biệt Hoa Kỳ và Nhật Bản của Việt Nam sẽ tăng cao2. Theo dự đoán từ Ngân hàng Thế giới (WB), thì đến năm 2020, sản lượng Ngành Dệt may sẽ tăng 21%; tốc độ tăng trưởng chung cho toàn ngành có thể đạt 41% tương ứng với giá trị xuất khẩu tăng thêm 11,5 tỷ USD, trong đó tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ có thể đạt kỷ lục 90%. Thêm vào đó là, TPP góp phần thúc đẩy đầu tư nguyên liệu, thị trường lao động trong nước thay đổi nhiều, tỉ lệ người lao động có việc làm trong Ngành Dệt may sẽ tăng cao khi đòi hỏi chất lượng sản phẩm và số lượng sản phẩm hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang các nước thành viên nhiều hơn trước đó. Như vậy, khi Hiệp định TPP có hiệu lực, thì thuế suất đối với hoạt động xuất khẩu hàng may mặc giảm đáng kể và gần như bằng 0; tỉ suất kinh doanh, kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường trong khu vực TPP sẽ tăng cao; các lao động nói chung và lao động ở nông thôn nói riêng sẽ có cơ hội tiếp xúc với công việc trong lĩnh vực dệt may với mức lương đáng kể; các nhà đầu tư nước ngoài được thu hút đầu tư nguồn vốn, nguyên liệu, công nghệ, nhân lực vào Ngành Dệt may Việt Nam; tăng cường khả năng cạnh tranh lành mạnh, minh bạch cho các doanh nghiệp dệt may trên thị trường nội địa và quốc tế; góp phần gia tăng, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Hai là, tác động tiêu cực: Một trong những thách thức của TPP được các nước thành viên đưa ra đó là “nguyên tắc xuất xứ của sản phẩm hàng dệt may”, hiểu một cách đơn giản, thì để được hưởng những ưu đãi từ các quốc gia trong TPP, thì Việt Nam phải đưa ra được nguồn gốc xuất xứ của các sản phẩm xuất khẩu được sản xuất từ nguyên liệu sẵn có trong nước hoặc nhập khẩu từ các nước là thành viên của TPP, chứ không phải là nguyên vật liệu từ các nước ngoài TPP. Điều này là một trở ngại khá lớn mà TPP gây ra cho Ngành Dệt may của Việt Nam trong khi đa số nguyên liệu được nhập từ các quốc gia không nằm trong TPP như Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước ASEAN… Nói cách khác, theo ước tính, hiện nay có tới 80% nguyên liệu sản xuất của Việt Nam có yếu tố phụ thuộc từ quốc gia ngoài TPP. Thật khó cho Việt Nam khi xuất khẩu các sản phẩm hàng dệt may và hưởng ưu đại thuế suất khi có quá nhiều sự phụ thuộc về nguyên liệu sản xuất ban đầu. Thêm vào đó, thách thức đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực dệt may ở Việt Nam là điều tất yếu khi hầu hết các doanh nghiệp này khả năng cạnh tranh với các nhà đầu tư nước ngoài đều rất yếu vì nguồn vốn mỏng, nhân lực chất lượng cao ít, công nghệ cũ, chưa đổi mới, lỗi thời… Đặc biệt, năng suất lao động ở Việt Nam tương đối thấp (chỉ xấp xỉ bằng 2,4), điều này có tác động tiêu cực khi các doanh nghiệp Việt Nam “cố tình” tăng cao giá sản phẩm của mình với cùng chất lượng giá trị của các sản phẩm cùng loại trong thị trường cạnh tranh quốc tế. Trong phạm vi TPP, việc tăng giá sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam đối với thị trường của các nước thành viên là điều không hợp lý và có thể dẫn đến hậu quả không tốt trong quá trình cạnh tranh.

Xét trong tổng thể tác động của TPP đến nền kinh tế Việt Nam, rõ ràng Ngành Dệt may nhận được những tác động mạnh mẽ từ TPP. Tuy nhiên, không phải tất cả các tác động từ TPP mang lại đều có ý nghĩa tích cực, mà đằng sau đó còn có cả những tính trái chiều, tiêu cực. Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam phải tăng cường tiềm lực và lợi thế cạnh tranh của mình với các doanh nghiệp cùng ngành trong nội địa và quốc tế.

3. Một số đề xuất

Khi Hiệp định TPP có hiệu lực, hàng loạt các doanh nghiệp Việt Nam sẽ đón nhận những kết quả tích cực và đồng thời cũng hứng chịu những hậu quả tiêu cực. Do đó, việc nhìn nhận cách thức vận động cũng như đường hướng, chiến lược phát triển trong tương lai ngay từ bây giờ là điều mà các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam nói riêng và Ngành Dệt may Việt Nam nói chung buộc phải làm. Dước góc độ nghiên cứu về tác động của TPP đối với Ngành Dệt may tại Việt Nam, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

Thứ nhất, hiện nay có 80% nguyên vật liệu sản xuất, khâu đầu vào của ngành dệt may Việt Nam phụ thuộc vào các quốc gia ngoài khu vực TPP. Do đó, hoạt động đầu tiên cần làm để đáp ứng những yêu cầu mà TPP đặt ra đối với Việt Nam đó là tách khỏi sự phụ thuộc. Muốn làm được điều nay, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) cần phải xây dựng một quy trình hoạt động mang tầm chiến lược để tạo nên sự liên kết bền chặt giữa các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong hoạt động chung. Theo đó, cần hình thành một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh từ xây dựng quy trình đến khâu thiết kế sản phẩm, từ việc sử dụng nguyên vật liệu sẵn có hoặc nhập khẩu ở các quốc gia thành viên TPP đến khâu thành phẩm và phân phối sản phẩm. Các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam nếu như không có sự liên kết chỉnh chu và toàn diện ở các khâu, thì khó có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp trên thị trường quốc tế, vì hầu hết đa số doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam được xây dựng nhỏ lẻ, manh mún, thiếu cơ sở vật chất tốt và đội ngũ nhân lực chất lượng cao.

Thứ hai, sở dĩ sản phẩm dệt may của Việt Nam được ưa chuộng ở nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả những thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Nhật Bản bởi giá thành khá rẻ và chất lượng tương đối tốt. Do vậy, nếu như vẫn tiếp tục giữ được những ưu thế, lợi thế riêng của mình, thì Ngành Dệt may Việt Nam luôn có chỗ đứng trên thị trường. Tuy nhiên, muốn làm tốt điều này, thì các doanh nghiệp dệt may lớn và doanh nghiệp dệt may vừa, nhỏ cần tập trung đầu tư vốn, kỹ thuật, công nghệ, nhân lực và đặc biệt có sự hỗ trợ đắc lực từ cơ quan nhà nước khi gặp khó khăn trong hoạt động cạnh tranh.

Thứ ba, đối với các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam, việc nghiên cứu, các quy định của TPP đối với Ngành Dệt may và áp dụng phù hợp đối với doanh nghiệp mình để tăng cường sự cạnh tranh trong thị trường quốc tế là điều cần thiết. Theo đó, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần có sự đầu tư chuẩn bị nguồn nhân lực, thiết bị công nghệ mới và sở hữu trí tuệ, trang bị những kiến thức liên quan đến TPP phục vụ cho hội nhập sắp tới. Ngoài ra, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng có những hướng dẫn cụ thể các nội dung quy định về thuế, hải quan, tiêu chuẩn TPP để giúp các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tận dụng tốt các cơ hội xuất khẩu với những ưu đãi thuế quan giúp các doanh nghiệp dệt may hội nhập thành công. Đồng thời, các doanh nghiệp Việt Nam cần có nhận thức đúng đắn và đầu tư thích hợp cho việc phát triển thị trường nội địa. Bởi vì, đây cũng là nơi bắt đầu của quá trình xây dựng thương hiệu và uy tín của sản phẩm dệt may để tăng cường cơ hội vươn ra thị trường quốc tế.

Thứ tư, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần phối hợp với các doanh nghiệp ở một vài lĩnh vực khác như truyền thông, tổ chức sự kiện, quảng bá hình ảnh, cung cấp thị trường và nhu cầu… để cộng tác trong hoạt động đưa tin, truyền bá sản phẩm hàng may mặc của Việt Nam trong khuôn khổ khu vực TPP; cần có nhiều cuộc đàm thoại, hội thảo để trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực may mặc. Song song với đó, các hoạt động xúc tiến thương mại như hội chợ, triển lãm quốc tế cũng cần được tổ chức thường xuyên hơn để nhanh chóng đưa Ngành Dệt may của Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam nói riêng tạo dựng được uy tín, thương hiệu của mình khi cạnh tranh với các doanh nghiệp quốc tế cùng ngành.

Thứ năm, Hiệp hội Dệt may Việt Nam cần kết hợp với các cơ quan chức năng liên quan, cũng như các doanh nghiệp may mặc ở nước ta tổ chức một cuộc khảo sát quy mô rộng để nhằm mục đích loại khỏi thị trường những doanh nghiệp dệt may yếu kém về năng lực, chất lượng và hợp nhất những doanh nghiệp này vào kết cấu kinh tế lớn hơn. Điều này góp phần làm trong sạch và phát triển vững mạnh cho Ngành Dệt may tại Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là nền tảng để các doanh nghiệp dệt may lớn khẳng định được kinh nghiệm, chất lượng của mình trong quá trình cạnh tranh với thị trường quốc tế.


Nguyễn Sĩ Anh


Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.

Theo dõi chúng tôi trên: