Thứ ba 13/10/2026 12:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tác động của toàn cầu hóa đến việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam

Bài viết phân tích về những tác động của quá trình toàn cầu hóa đến việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam, qua đó, tiếp tục tận dụng những tác động tích cực, mặt khác, nhận diện được tác động tiêu cực để có biện pháp hạn chế, phòng ngừa.

Toàn cầu hóa là quá trình tương tác và hội nhập giữa con người, doanh nghiệp và Chính phủ của các quốc gia khác nhau trong quá trình thúc đẩy thương mại, đầu tư quốc tế và sự hỗ trợ của công nghệ thông tin[1]. Toàn cầu hóa có tác động đến không chỉ các quốc gia phát triển mà cả các quốc gia đang phát triển, tác động đến nhiều mặt của cuộc sống cá nhân, cư dân của các quốc gia, trong đó, chủ yếu là các lĩnh vực như: Chính trị, kinh tế, văn hóa, môi trường,… Là một thành viên của cộng đồng quốc tế, Việt Nam cũng không nằm ngoài các ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa đó.


1. Tác động tích cực của toàn cầu hóa đến việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam

Toàn cầu hóa có tác động tích cực đến các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, các tác động tích cực được thể hiện ở một số lĩnh vực như sau:

Một là, trong lĩnh vực chính trị, toàn cầu hóa góp phần đưa Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế và khu vực như: Liên Hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)… và phối hợp trong việc xây dựng các điều ước quốc tế để thúc đẩy môi trường kinh doanh[2]. Là thành viên của các tổ chức quốc tế, đòi hỏi Việt Nam phải có các bước tiến trong việc tham gia xây dựng các điều kiện kinh doanh, mức thuế cho hàng hóa, dịch vụ và xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp. Mặt khác, toàn cầu hóa giúp cho Việt Nam tiếp cận, nghiên cứu và học tập các chính sách của pháp luật nước ngoài, qua đó, vận dụng vào quá trình quản lý và vận hành ở Việt Nam. Rõ ràng nhất, có thể thấy, Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đã có những tác động nhất định, cụ thể: Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 về việc tăng cường năng lực tiếp cận Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4, trong đó, xác định một trong các giải pháp là “phát triển hạ tầng kết nối số và bảo đảm an toàn, an ninh mạng tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp dễ dàng, bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội phát triển nội dung số”. Có thể thấy, thông qua chính sách trên, người dân có thể thực hiện quyền bí mật đời tư trên môi trường mạng, có quyền tiếp cận thông tin. Như vậy, quá trình toàn cầu hóa góp phần thúc đẩy Nhà nước Việt Nam ban hành chính sách để phù hợp với thực tiễn, qua đó, quyền của con người được ghi nhận và bảo đảm hơn.

Hai là, trong lĩnh vực kinh tế, toàn cầu hóa tạo môi trường phát triển liên quốc gia ở tầm cỡ quốc tế. Cụ thể, toàn cầu hóa giúp các quốc gia mở rộng thị trường tiêu thụ và mở rộng chuỗi doanh nghiệp ở tầm quốc tế. Điều này thể hiện ở sự hiện diện của các doanh nghiệp, tập đoàn quốc tế tại Việt Nam. Theo Số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì tính đến ngày 20/11/2017, cả nước có 2.293 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 19,8 tỷ USD, tăng 52% so với cùng kỳ năm 2016[3]. Vì thị trường tiêu thụ nêu trên mà toàn cầu hóa còn tạo môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp của các quốc gia. Theo đó, các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài sẽ một mặt, nâng cao công nghệ, chất lượng sản phẩm, mặt khác, giảm giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó, việc trao đổi hàng hóa, xuất, nhập khẩu hàng hóa giữa các quốc gia được thực hiện thuận tiện và nhanh hơn. Có thể dễ dàng nhận thấy, hiện nay, các sản phẩm của nước ngoài có thể tìm kiếm trên thị trường Việt Nam với giá cả hợp lý, hay sản phẩm của Việt Nam được người tiêu dùng trên toàn thế giới tìm mua thông qua các trang mạng trực tuyến hay qua sàn KIU - sàn giao dịch thương mại điện tử do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Chương trình sáng kiến hỗ trợ tư nhân vùng Mekong (MBI) thiết lập.

Có thể thấy, quá trình toàn cầu hóa đã góp phần đưa các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc sản xuất, xuất khẩu, tiêu thụ sản phầm. Việc tạo môi trường kinh doanh đã góp phần bảo đảm quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa sản phầm của các quốc gia nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng.

Ba là, trong lĩnh vực văn hóa, toàn cầu hóa giúp các quốc gia trao đổi thông tin, tiếp cận dễ dàng hơn nền văn hóa của các quốc gia khác. Quá trình toàn cầu hóa và phát triển kinh tế đất nước đã thúc đẩy Việt Nam ký các hiệp định, thỏa thuận miễn thị thực với các nước. Tính đến ngày 28/7/2017, Việt Nam đã ký hiệp định, thỏa thuận miễn thị thực với 83 nước. Việc miễn thị thực một mặt, góp phần thu hút khách du lịch vào Việt Nam, mặt khác, tạo điều kiện để công dân nước ngoài thực hiện quyền tự do đi lại trong giới hạn nhất định tại Việt Nam.

2. Tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đến việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam

Song song với những tác động tích cực, Việt Nam còn chịu những tác động tiêu cực từ toàn cầu hóa. Điều này đã được nhận diện và cảnh báo qua một số nghiên cứu của Liên Hợp Quốc[4]. Tại Việt Nam, những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa được thể hiện cụ thể như sau:

Một là, về lao động, toàn cầu hóa đã tạo ra tỷ lệ người dân thất nghiệp cao do công nghệ phát triển mà máy móc càng ngày thay thế nhân lực con người. Trong lĩnh vực công nghiệp, do nguồn nhân lực ở các nước đang phát triển thấp hơn nên các nước đã phát triển có xu hướng xây dựng doanh nghiệp tại nước đang phát triển và thuê nhân công ở các nước này. Do đó, tình trạng thất nghiệp là một vấn đề đáng lo ngại. Một vấn đề tiêu cực khác đó là, vì mục tiêu lợi nhuận mà các doanh nghiệp thường không chú trọng đến chất lượng, an toàn lao động[5] (công nhân phải làm việc ngoài giờ, trong điều kiện không đủ ánh sáng, vi phạm chế độ thai sản,...), thay vào đó, họ tập trung vào mục tiêu giảm giá thành. Từ đó, dẫn đến quyền con người nói chung (quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền được có nước sạch,...) và quyền của người lao động nói riêng (quyền sống, quyền nghỉ ngơi, quyền có điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh,...) bị ảnh hưởng.

Hai là, toàn cầu hóa dẫn đến ô nhiễm môi trường. Các doanh nghiệp đa phần vì mục tiêu lợi nhuận và bỏ quan vấn đề môi trường và nhân tố con người. Thực tế, tại Việt Nam, có một số trường hợp doanh nghiệp để xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường gây hậu quả nghiêm trọng. Điều đó trực tiếp, gián tiếp cản trở đến việc thực hiện một số quyền của con người theo pháp luật quốc tế, như quyền sống, quyền có nơi ở, quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền được có nước sạch, quyền có thực phẩm,...

Ba là, toàn cầu hóa làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa người với người[6]. Để phát triển kinh tế, nhiều quốc gia[7], trong đó có Việt Nam đã và đang có xu hướng đô thị hóa nông thôn, theo đó, đất nông nghiệp được cải tạo để xây dựng cơ sở hạ tầng và phục vụ kinh doanh sản xuất. Thực tế tại Việt Nam cho thấy, người dân tại các vùng sâu, vùng xa đã được bồi thường để giải phóng mặt bằng với mức tiền lớn. Tuy nhiên, việc tiếp cận với thông tin còn hạn chế, chưa có chiến lược sử dụng tiền hợp lý nên với tiền bồi thường đó mà nhiều gia đình đã trở lên trắng tay do chi tiêu và bị lừa đảo[8]. Hậu quả là, sau khi chi tiêu hết số tiền được đền bù đất, họ trở thành người không công ăn việc làm, một mặt vì không còn đất để canh tác, sản xuất, mặt khác, vì không có kỹ năng, tay nghề để có thể làm việc cho các doanh nghiệp.

3. Mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và quyền con người

“Quyền con người”, theo Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc thì “quyền con người” hay “nhân quyền” được hiểu là những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hạt đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản[9]. Nói cách khác, quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luạt quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế[10].

Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định, toàn cầu hóa và quyền con người có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau. Điểm tương đồng giữa toàn cầu hóa và quyền con người là nhằm nâng cao tiêu chuẩn sống của con người[11]. Tác động của toàn cầu hóa đến quyền con người thể hiện các phương diện sau:

Thứ nhất, toàn cầu hóa giúp con người hưởng thụ các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Toàn cầu hóa góp phần xóa đói, giảm nghèo. Theo tính toán của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng thế giới, năm 1993, Việt Nam có 58% dân số nghèo thì đến năm 2002 là 28,9% và đến năm 2008, còn 14,5%[12]. Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa đã góp phần tăng thu nhập của người dân, giai đoạn 2011 - 2015 tăng trưởng dưới 6%, kinh tế Việt Nam sẽ tăng tốc trong 05 năm tới, với mức trung bình 6,5-7%; thu nhập bình quân đầu người, theo đó, đạt 3.200-3.500 USD vào năm 2020, tăng khoảng 1.000 USD so với hiện nay (Diễn đàn Đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) ngày 5/12/2015)[13].

Thứ hai, thông qua toàn cầu hóa, việc trao đổi, tiếp cận thông tin được thực hiện nhanh và hiệu quả hơn, qua đó, góp phần bảo đảm thực hiện các quyền học tập (học online), quyền được bảo trợ xã hội (thông qua hình thức bảo hiểm y tế),... Để trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản phù hợp với điều ước quốc tế: Năm 2013, sửa đổi Hiến pháp, trong đó, lần đầu tiên ghi nhận “quyền con người” tách bạch với “quyền công dân”, trên cơ sở đó, Nhà nước cũng sửa đổi Bộ luật Lao động, sửa đổi Luật Đầu tư, sửa đổi Luật Du lịch... Các văn bản này đã góp phần thực hiện tốt hơn quyền của con người nói chung và quyền của công dân Việt Nam nói riêng.

Thứ ba, song song với những tác động tích cực nêu trên, toàn cầu hóa có ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện quyền con người. Một trong những nguyên nhân xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, mặt khác xuất phát từ sự vận hành thiếu kịp thời và hiệu quả của các cơ chế bảo vệ, giám sát, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm. Mặt khác, toàn cầu hóa quá nhanh đã dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám”. Hiện nay, rất nhiều công ty nước ngoài muốn thu hút nhân tài từ Việt Nam đã có chính sách đãi ngộ rất tốt. Tuy nhiên, điều này đặt ra vấn đề cho từng quốc gia, trong đó, có Việt Nam là làm thế nào để thu hút và giữ nhân tài để phát triển đất nước là một vấn đề còn gây tranh cãi.

4. Một số đề xuất, kiến nghị

Xuất phát từ bản chất của toàn cầu hóa và mục tiêu phát triển bền vững, tác giả đề xuất một số giải pháp theo hướng:

Thứ nhất, phát triển bền vững, có lộ trình, kế hoạch và mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Tiếp nối Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ[14], năm 2015, Liên Hợp Quốc đã đề ra Các mục tiêu toàn cầu về phát triển bền vững (SDGs) thực hiện từ năm 2015 đến năm 2030, với 17 mục tiêu, đã được 193 quốc gia thành viên đồng thuận (tính đến tháng 8/2015). Để mục thực hiện các mục tiêu này, ngày 10/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 622/QĐ-TTg về ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững. Theo đó, Kế hoạch đã phân công cụ thể trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương. Nói cách khác, để phát triển bền vững, cần thiết phải có sự tham gia tối đa của cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương. Sự tham gia được thể hiện bằng công tác xây dựng, ban hành và hoàn thiện thể chế - một trong những căn cứ, cơ sở để phát triển bền vững - đặc biệt đối với các văn bản được giao chủ trì xây dựng theo Kế hoạch phát triển bền vững, bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng. Đề xuất này dựa trên tham khảo ý tưởng của Amartya Sen[15], coi “phát triển là tự do” và “nghèo đói là thiếu tự do và năng lực”. Theo đó, để phát triển, điều kiện cần thiết là có đủ điều kiện phát triển do hành vi tôn trọng, thừa nhận và bảo đảm thực hiện của Nhà nước thông qua thể chế, chính sách.

Thứ hai, trên cơ sở thể chế, cần có cơ chế giám sát, phản ứng kịp thời với những vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn để qua đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế, đi đôi với bảo vệ quyền con người và giữ độc lập, tự do dân tộc. Công dân Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế tác động tiêu cực của toàn cầu và phát huy tác động tích cực của nó thông qua việc nâng cao dân trí, tiếp nhận thông tin hai chiều, nâng cao tự hào dân tộc (ưu tiên sử dụng hàng Việt Nam),... Do đó, cần huy động tối đa sự tham gia của cộng đồng để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ ba, quyền con người được coi là trung tâm của ba trụ cột về ý tưởng (ideas), thiết chế (institutions - sự kết hợp giữa ý tưởng và vật chất để thiết lập trật tự xã hội, thể hiện quyền lực giữa các tổ chức), nguồn nguyên liệu (material capacities - công nghệ và khả năng tổ chức sản xuất)[16]. Do đó, cần có cơ chế bảo đảm thực hiện quyền con người. Trước mắt, cần nghiên cứu, học tập kinh nghiệm quốc tế gắn với điều kiện kinh tế văn hóa xã hội của nước ta hiện nay để xây dựng cơ quan bảo vệ quyền con người ở Việt Nam. Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ quyền con người do các cơ quan khác nhau thực hiện tùy thuộc vào từng lĩnh vực, tuy nhiên, cần phải dựa trên cơ sở kinh nghiệm nước ngoài và yêu cầu của quá trình hội trình toàn cầu hóa hiện nay.

Thịnh Anh

Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp


[1] http://www.globalization101.org/what-is-globalization/ .

[2] Hiện nay, các nước thành viên của APEC, trong đó có Việt Nam đang phối hợp với các nước để xây dựng Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), thay thế Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

[3] http://vneconomy.vn/von-dau-tu-nuoc-ngoai-vao-viet-nam-tang-vot-20171128153316591.htm

[4] Báo cáo của Cao ủy Nhân quyền về toàn cầu hóa và tác động đối với thụ hưởng đầy đủ các quyền con người (E/CN.4/2002/54); Báo cáo của Cao ủy nhân quyền về tự do hóa thương mại dịch vụ và quyền con người (E/CN.4/Sub2/2002/9),...

[5] Ví dụ: https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/samsung-viet-nam-chua-tung-co-cong-nhan-nao-bi-phoi-nhiem-hoa-chat-3675420.html

[6] Pierre Sane, Freedom from Poverty as a Human right – Economic Perspectives, Nxb. UNESCO, năm 2010, tr. 79.

[7] Pierre Sane, Freedom from Poverty as a Human right – Economic Perspectives, Nxb. UNESCO, năm 2010, tr. 37.

[8] http://www.bienphong.com.vn/dang-sau-su-an-choi-cua-cac-ty-phu-den-bu/.

[9] United Nations, Human rights: Questions and answers, New York and Geneva, năm 2006, tr. 4.

[10] Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hỏi đáp về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012, tr. 21.

[11] Lời nói đầu của Hiến chương Liên Hợp Quốc; Lời nói đầu Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế; Lời nói đầu của Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới.

[12] Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Giảm nghèo ở Việt Nam - Thách thức và thành tựu, Hà Nội, tháng 3/2011, tr. 15.

[13]https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/vi-mo/thu-nhap-nguoi-viet-len-3-200-3-500-usd-sau-5-nam-3323036.html.

[14] Được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc năm 2000, với 189 quốc gia nhất trí thông qua, xem thêm: http://www.un.org.vn/vi/un-jobs/50-mdgs/what-are-the-mdgs.html.

[15] Nhà kinh tế học, triết gia người Ấn Độ, được trao giải Nobel kinh tế bởi những đóng góp về kinh tế, phúc lợi, cơ chế nằm bên dưới sự đối nghèo và lý thuyết về chủ nghĩa tự do chính trị. Hiện là giáo sư đại học trại Đại học Harvard.

[16] Robert W. Cox, “Social forces, States and World orders: Beyond International Relations theory” in Approaches to world order, edited by Robert W Cox and Timothy J.Sinclair.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: