Thứ hai 09/03/2026 07:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tác động của văn hóa đến pháp luật Việt Nam - Khái luận và một số vấn đề phát triển

Nhìn từ góc độ nghiên cứu, có thể thấy, khái niệm văn hóa là một trong những khái niệm rất khó định nghĩa. Nói đến văn hóa, trước hết phải nói đến con người, xã hội, lịch sử, truyền thống, kể cả môi trường, điều kiện xã hội, tự nhiên… Nói cách khác, văn hóa dường như là khái niệm được xây dựng trên tất cả những khái niệm nói trên, nhưng lại tồn tại từ rất lâu, cùng lúc với thời điểm loài người bắt đầu xây dựng những nền văn minh đầu tiên.

1. Văn hóa Việt Nam - những điểm chung nhất

Khi bàn về văn hóa, chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[1]. Bên cạnh đó, Nhà văn hóa Phạm Văn Đồng cũng cho rằng “cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa”. Ngoài ra, Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã khẳng định “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”[2] hoặc như Cựu Tổng giám đốc UNESCO định nghĩa “văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”[3].

Như vậy, có thể thấy, văn hóa đã ra đời từ rất lâu và bao trùm lên mọi mặt của đời sống xã hội, có tính phong phú, đa diện, là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần, là nền tảng, cốt lõi của một dân tộc.

Nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, trước hết, phải xem xét Việt Nam dưới góc độ vị trí địa lý với những điều kiện tự nhiên và môi trường đặc trưng. Đó là một trong những đất nước có lượng mưa trung bình lớn nhất thế giới, lãnh thổ bao gồm những đồng bằng phù sa với hai đồng bằng chính là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Với điều kiện tự nhiên như vậy, ngành nông nghiệp trồng lúa nước đã sớm phát triển và cùng với nhu cầu trị thủy là nhu cầu cố kết cộng đồng để hình thành nên những công xã từ rất sớm. Bên cạnh đó, do vị trí địa lý khá đặc biệt như một cửa ngõ nối Bắc và Nam, Đông và Tây ở khu vực Đông Nam Á và rộng hơn là Đông Á, Việt Nam sớm đã phải đứng trước nguy cơ ngoại xâm rất lớn. Các yếu tố kể trên góp phần hình thành nên nét đặc trưng gần như bản chất của văn hóa Việt Nam, đó là sự gắn bó cộng đồng. Gắn bó để trị thủy, gắn bó để chống giặc ngoại xâm, gắn bó để cùng làm việc và chung sống.

Với điều kiện tự nhiên đặc trưng như vậy, người Việt Nam đã sống cả cuộc đời gắn bó mật thiết với sông, nước. Sông, nước và những hình ảnh có liên quan đã trở thành những điều gắn bó như hơi thở với đời sống người Việt. Phải chăng, chính vì vậy mà có nhiều học giả khi bàn đến văn hóa Việt Nam đã đề cập đến “tính nước”. “Tính nước” có những di hại như sự tùy tiện, lập lờ nước đôi, những điểm tiêu cực ảnh hưởng đến đời sống khoa học, pháp luật sau này, tuy nhiên cũng có điểm tốt cơ bản, đó là sự linh hoạt, cách ứng xử mềm dẻo. Sự linh hoạt, mềm dẻo thể hiện trong cách sống, để dù sống ở vùng núi, vùng đồng bằng hay ngoài biển đảo xa xôi đều biết cách thích nghi, tùy biến, hoặc thay đổi bản thân, hoặc tác động vào môi trường sao cho phù hợp.

Đồng thời, cùng với tư tưởng trong thuyết âm dương ngũ hành của Đạo gia, một trong những đạo giáo có ảnh hưởng nhiều đến nhận thức buổi đầu của người Việt, “tính nước” chuyển hóa thành cách suy nghĩ và lối sống dung hòa. Dung hòa giữa cứng và mềm, giữa tối và sáng, giữa lạnh và nóng, giữa trong và đục. Dung hòa để sống với những cách sống khác nhau.

Bên cạnh đó, người Việt còn có lối sống trọng tình và cách tư duy tuy tổng hợp biện chứng nhưng lại thiên về kinh nghiệm, cảm tính nhiều hơn lý tính. Một số nét văn hóa khác tuy không phải là chủ yếu và cơ bản nhưng cũng có nhiều đóng góp trong đời sống tinh thần của người Việt, là sự tôn trọng thiên nhiên, sự gắn bó định cư với xứ sở và sự trân trọng với người phụ nữ.

Ngoài ra, sự du nhập và phổ biến của Nho giáo thời Bắc thuộc và sự phổ biến đến cực thịnh của Phật giáo từ đời Lý - Trần đã góp phần khiến cho những triết lý của các đạo giáo này ảnh hưởng khá nhiều đến đời sống văn hóa của người Việt.

Tất cả những yếu tố kể trên, tuy là những yếu tố thuộc văn hóa nhưng đã có những ảnh hưởng nhất định đến đời sống pháp luật của Việt Nam.

2. Ảnh hưởng của văn hóa với việc ban hành và thực thi pháp luật

2.1. Mối quan hệ giữa văn hóa và pháp luật

Theo Mác - Lênin thì văn hóa và pháp luật là hai yếu tố thuộc về kiến trúc thượng tầng xã hội, nếu áp dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến thì rõ ràng giữa hai yếu tố này có mối liên hệ tác động qua lại với nhau.

Thực vậy, giữa văn hóa và pháp luật có mối liên hệ mật thiết. Pháp luật không tách rời với văn hóa. Không những thế, pháp luật dường như còn là một biểu hiện và theo định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì còn là một bộ phận của văn hóa. Bởi vậy, trong xây dựng hệ thống pháp luật của quốc gia, kinh nghiệm ứng xử của cộng đồng là một yếu tố quan trọng.

Đồng thời, từ mối quan hệ trên, pháp luật có thể được ban hành và đưa vào cuộc sống dễ dàng hơn nếu con người ứng xử theo pháp luật như một ứng xử văn hóa. Hay nói cách khác, văn hóa ảnh hưởng đến pháp luật mang tính nền tảng, góp phần hình thành nên pháp luật. Ngược lại, pháp luật, hay đơn vị nhỏ nhất của pháp luật là quy phạm pháp luật, muốn tồn tại và được tuân thủ phải được xây dựng thành văn hóa.

2.2. Tác động tích cực của văn hóa đến pháp luật

Như đã đề cập ở phần trên, đời sống văn hóa người Việt có đặc trưng cơ bản là tính gắn bó cộng đồng. Điều này khiến cho người Việt thường có tập quán sinh sống gắn bó với nhau, hiện nay, ở nông thôn thì đơn vị dân cư là làng, xã, ở đô thị là phường, tổ dân phố… và cùng với tập quán định canh, định cư đã giúp cho việc phổ biến pháp luật, quản lý hành chính… theo đơn vị dễ dàng hơn. Ngoài ra, việc sinh sống gắn bó với nhau kết hợp cùng khái niệm “lệ làng”, “hương ước” (những quy định riêng của nhóm nhỏ dân cư) còn góp phần hình thành khả năng tự quản, một trong những yếu tố của dân chủ. Quy chế dân chủ nội bộ hay thỏa ước lao động tập thể trong Luật Lao động chính là xuất phát từ tính gắn bó cộng đồng và sự linh hoạt.

Lối sống cộng đồng khiến cho hành vi vi phạm pháp luật khi bị pháp luật trừng phạt không chỉ mang tính răn đe với cá nhân người phạm tội, mà họ còn phải chịu “búa rìu” dư luận xã hội từ gia đình, cộng đồng gắn bó với họ - một sự trừng phạt có khi còn đáng sợ hơn cả án tử hình. Đồng thời, việc đấu tranh phòng chống tội phạm nhờ có cộng đồng cũng trở nên dễ dàng hơn.

Sự dung hòa trong cách tư duy, thế giới quan, cùng việc tôn trọng thứ bậc, trật tự (do ảnh hưởng Nho giáo) đã góp phần hình thành tư duy về sự thống nhất - tư duy chủ đạo hình thành nên cơ chế quản lý tập quyền, như quy định tại Hiến pháp. Cùng với “tính nước” trong văn hóa, sự linh hoạt cũng góp phần hình thành đặc tính “chuyên chế mềm”[4] - một trong những điều kiện chủ yếu để phát huy dân chủ trong ban hành và thực thi luật pháp.

Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt là rất lớn. Một trong những điều tích cực mà hai tôn giáo trên mang đến cho văn hóa nói chung và pháp luật nói riêng là một xã hội ổn định, ít tranh chấp, xung đột. Điều này vô hình chung giúp cho việc quản lý xã hội dễ dàng hơn và người dân có sự tôn trọng pháp luật ở một chừng mực nhất định. Tư tưởng, nhiệm vụ, bổn phận được phát huy đúng cũng giúp người dân có ý thức hơn về vai trò trách nhiệm của mình với gia đình, Nhà nước và xã hội.

Ngoài ra, sự tôn trọng phụ nữ vốn là một trong những điểm cơ bản trong văn hóa Việt Nam xưa đã góp phần tạo nên những quy phạm với những hình phạt nhẹ hơn cho nữ giới và một số quy định có lợi cho người phụ nữ, không chỉ trong Hình thư, Hình luật, Quốc triều hình luật… mà còn trong các văn bản pháp luật hiện đại Luật Hôn nhân gia đình, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động… Đây cũng là xu thế chung của pháp luật thế giới.

2.3. Tác động tiêu cực của văn hóa đến pháp luật

Sự gắn bó cộng đồng, bên cạnh việc giúp cho cộng đồng gần nhau hơn, còn đem đến tư duy “phép vua thua lệ làng”. Nhiều địa phương tự ban hành nhiều luật lệ khác nhau hoặc diễn giải những quy định pháp luật theo cách hiểu khác nhau. Đủ loại giấy phép con, phí, lệ phí cũng phát sinh, làm các thủ tục hành chính vốn đã chưa thông thoáng lại càng thêm phức tạp, rối rắm[5].

Đồng thời, cách tư duy tổng hợp, biện chứng, thiên về kinh nghiệm, ứng xử linh hoạt là một trong những nguyên nhân hình thành lối sống không theo lý trí, đôi khi trở nên tùy tiện, khiến cho việc ban hành văn bản pháp luật để đi vào cuộc sống đã khó, việc thực thi và bảo đảm thực thi càng khó khăn hơn. Cùng với ảnh hưởng từ nền nhân trị trong Nho giáo xưa, sự hình thành và tôn trọng quyền lực không theo lý trí, tư duy khách quan, nói cách khác là không theo pháp luật cũng là một chiều hướng ngầm, tồn tại nhưng khó phát hiện và đi ngược lại việc tôn trọng Hiến pháp và pháp luật - những chuẩn mực ứng xử một cách lý trí của xã hội nói chung[6].

Hơn thế nữa, mong muốn sống dung hòa cùng tư tưởng vô tụng của Nho giáo và Phật giáo còn kìm hãm tư duy phản biện, khả năng phản kháng của con người, dẫn tới sự ảnh hưởng đến một số quyền con người nhất định. Truyền thống vô tụng làm cho xã hội trở nên ít xảy ra tranh chấp hơn, nhưng điều này tựa như sự bình yên trên bề mặt, mà bên trong là những con sóng ngầm, những ngọn núi lửa nhỏ có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Mâu thuẫn không được giải quyết triệt để bằng các biện pháp tư pháp, hòa giải, bằng lí trí khách quan… nếu đến lúc bùng phát khó có thể kim hãm.

3. Một số giải pháp phát huy điểm tích cực và hạn chế mặt tiêu cực

Trong các điểm nổi bật của văn hóa, có những điểm tạo ảnh hưởng tích cực, có điểm gây ảnh hưởng đa phần là tiêu cực đến đời sống pháp luật Việt Nam. Việc hạn chế những điểm tiêu cực, phát huy những điểm tích cực là điều cần được bàn đến khi đề cập đến ảnh hưởng của văn hóa với pháp luật.

Trước hết, do mối quan hệ của văn hóa với pháp luật là văn hóa tạo nền tảng xây dựng pháp luật và văn bản pháp luật cần trở thành văn hóa để được là văn bản “sống”, điều kiện tiên quyết để đảm bảo phát huy những điểm tốt của văn hóa là sự tôn trọng nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này có được khi pháp luật, đặc biệt là Hiến pháp được phổ biến đến mọi đối tượng công dân và người khác trong xã hội. Khi hiểu rõ luật, nắm rõ vai trò, nhiệm vụ, quyền lợi, nghĩa vụ của mình, người dân sẽ dần hình thành đời sống văn hóa theo đời sống pháp luật. Nói cách khác, pháp luật muốn tồn tại thì cần phải dưới hình thức của một loại hình văn hóa, không chỉ đơn giản là sửa chữa văn bản đã có mà còn đem văn bản đã có đến với đời sống thường ngày của người dân theo một cách “mượt mà” nhất, không chỉ bằng cách giảng giải trên các giảng đường mà còn tuyên truyền, phổ biến bằng các tổ chức, hiệp hội, tại từng địa phương; không chỉ tuyên truyền pháp luật cho người chưa vi phạm, bên cạnh đó còn tuyên truyền, phổ biến cho những người đã từng vi phạm để họ không tái phạm.

Đối với những điểm tích cực trong ảnh hưởng của văn hóa, cần tiếp tục giữ vững và phát huy. Đối với những điểm chưa tốt, nếu biết cách khắc phục hạn chế, sẽ có ảnh hưởng tích cực đến việc hình thành và xây dựng nền pháp quyền Việt Nam.

Đó có thể là hạn chế sự tùy tiện trong thi hành và ban hành văn bản, đề cao nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức với người dân không chỉ bằng hô khẩu hiệu và các cuộc thi, mà đem tư tưởng cán bộ, công chức, viên chức là người công bộc, người phục vụ đến với từng người. Đó cũng có thể là xây dựng những cách nhìn khác về cơ chế dân chủ hiện tại, rà soát bỏ đi những quy định mang tính cứng nhắc, chưa đi vào đời sống, hay khuyến khích, giáo dục người dân xây dựng cách nhìn khách quan, toàn diện, có tính pháp quyền hơn đối với những vấn đề trong cuộc sống.

4. Văn hóa và pháp luật trong đổi mới và giao lưu

Trong bối cảnh văn hóa Việt Nam truyền thống, giáo sư Phan Ngọc cho rằng, con người Việt Nam là con người nhân cách luận - con người theo cương vị, nhân cách, tìm thấy ý nghĩa cuộc sống trong tinh thần trách nhiệm vì người khác hơn vì mình. Bốn yếu tố cấu thành nên con người nhân cách luận đó là 04 chữ F: Fatherland (tổ quốc), Family (gia đình), Fate (thân phận), Face (diện mạo)[7]. Thực chất, đó cũng chính là một điểm thể hiện của nền văn hóa cộng đồng.

Tuy nhiên, nền văn hóa nào cũng có con đường phát triển riêng, bởi lẽ như mọi sự vật khác, văn hóa cũng có những mâu thuẫn nội tại và phải đấu tranh với chính nó, vượt qua mâu thuẫn đó để phát triển. Trong hội nhập cũng tất yếu nảy sinh sự giao lưu văn hóa. Văn hóa Việt Nam truyền thống trong tương lai có thể có thêm những đặc điểm mới, thậm chí, không còn bảo lưu những đặc tính đã phân tích ở trên. Điều này có thể thấy qua cấu trúc gia đình: Số hộ gia đình độc thân ở Việt Nam hay gia đình hai thế hệ đang tăng lên so với gia đình có ba, bốn thế hệ trước kia. Bên cạnh đó, bắt đầu xuất hiện cả những gia đình đồng tính, đi ngược lại với triết lý âm dương ngũ hành hay quan điểm về hôn nhân gia đình trước đây. Sự biến đổi xã hội cũng sẽ có ảnh hưởng đến văn hóa, như việc dân số Việt Nam hiện đang có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới, điều sẽ không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất, lao động, kinh tế… mà còn ảnh hưởng đến cách nhìn, lối sống văn hóa, bắt đầu từ đơn vị nhỏ nhất là gia đình làng xã. Ngày càng nhiều người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống học tập và quay trở lại thăm quê hương, mang theo những cách nghĩ, tư tưởng, văn hóa mới. Cùng với làn sóng đầu tư từ các nước phát triển và nền kinh tế mới nổi, ngày càng nhiều người nước ngoài cũng sang Việt Nam sinh sống, lao động, học tập. Tất cả các yếu tố đó sẽ góp phần hình thành nên đời sống văn hóa mới, tại các đô thị là văn hóa công nghiệp - đô thị, tại nông thôn là văn hóa nông thôn mới… và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến đời sống pháp luật.

Nguyễn Ngọc Anh Thư

Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh


[1] Hồ Chí Minh toàn tập, in lần II, Nxb. Chính trị Quốc gia, 1995, tập III, tr.431.

[2] Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, 1999, tr.10.

[3] Thông tin UNESCO, số tháng 1/1998.

[4] Xây dựng Nhà nước pháp quyền trong bối cảnh Văn hóa Việt Nam, Bùi Ngọc Sơn, Nxb. Tư pháp, 2005.

[5] Xem thêm: Một xã hội làng xã, Nguyễn Đăng Dung, Tap chí Nghiên cứu lập pháp, số 11 (2003).

[6] Tư tưởng đẳng cấp, quyền lực, đầu óc địa vị, tâm lý hiếu danh của đạo đức phong kiến và ảnh hưởng của nó trong cán bộ quản lý hiện nay ở nước ta, Trần Thành, in trong “Ảnh hưởng của đạo đức phong kiến trong cán bộ quản lý của Việt Nam hiện nay”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.

[7] Truyền thống văn hóa và lịch sử Việt Nam, Phan Ngọc, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2000.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: