Thứ ba 26/05/2026 11:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường bảo đảm quyền của lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam

Lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam, đặc biệt là lao động nữ là một trong những lực lượng lao động chịu nhiều thiệt thòi bởi mô hình kinh tế tăng trưởng nhanh hiện nay

Lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam, đặc biệt là lao động nữ là một trong những lực lượng lao động chịu nhiều thiệt thòi bởi mô hình kinh tế tăng trưởng nhanh hiện nay, mặc dù họ tham gia vào cả lực lượng lao động chính thức lẫn phi chính thức. Nhiều người di cư không được hưởng những quyền lợi từ các chính sách an sinh xã hội, bao gồm lao động, việc làm và giảm nghèo; bảo hiểm xã hội; bảo trợ xã hội; các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và tiếp cận thông tin. Bên cạnh đó là việc có thu nhập không ổn định và bấp bênh từ những công việc chỉ được ký hợp đồng lao động ngắn hạn hoặc thậm chí là không có hợp đồng. Vì vậy, cần thiết phải có các giải pháp bảo đảm quyền cho nhóm lao động này một cách tốt nhất.

Trong bài viết này, tác giả nêu định hướng bảo đảm quyền của lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam, đồng thời, tập trung phân tích các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường bảo đảm các quyền đặc trưng của nhóm lao động này.

1. Định hướng bảo đảm quyền của lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam

1.1. Nâng cao nhận thức về bảo đảm quyền của lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị

Cần phải coi lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị là nhóm xã hội dễ bị tổn thương và phải được quan tâm, hỗ trợ, đồng thời, phải xem nhóm xã hội này là một vấn đề phát triển. Mặc dù, di cư có thể kéo theo các hệ quả xã hội nhất định (biến động về cư trú, trật tự xã hội, tệ nạn xã hội, quá tải của hệ thống cở sở hạ tầng đô thị), nhưng di cư rõ ràng là một vấn đề phát triển trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam. Từ góc độ nơi xuất cư, di cư là một lựa chọn của nhiều người trong lực lượng lao động muốn thay đổi nơi cư trú để có việc làm, tạo ra thu nhập cho bản thân, trợ giúp thu nhập gia đình. Ở góc độ nơi đến, lao động di cư là nguồn lao động bổ sung cần thiết, nhất là đối với các công việc lao động phổ thông trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ đòi hỏi sử dụng nhiều lao động. Vì vậy, luồng di cư cần được xem là một nguồn lực kinh tế có đóng góp nhất định đối với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo[1]. Chỉ đến khi luồng lao động di cư được đặt đúng với ý nghĩa của nó thì các quan điểm tiêu cực về di cư, kiểm soát và hạn chế di cư, thậm chí là có tính phân biệt đối xử với lao động di cư mới được xóa bỏ. Quan điểm này cần được thể hiện trong những văn kiện có ý nghĩa chiến lược ở cấp cao nhất của quốc gia để có thể trở thành một chủ trương chính thức đối với quản lý vấn đề phát triển là di cư trong nước.

1.2. Tăng cường hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền của lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị

Cùng với các nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác trong xã hội như trẻ em, người nghèo, người dân tộc thiểu số... thì người lao động di cư trong đó đặc biệt là lao động nữ di cư cần phải được đưa vào các chính sách quan trọng của đất nước như chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược chăm sóc sức khỏe, chính sách hỗ trợ giảm nghèo, chính sách tạo việc làm ổn định, chính sách hỗ trợ sử dụng các dịch vụ xã hội... Cần phải xem xét để đưa đối tượng này vào đối tượng bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, việc đưa vào các chính sách phải dưới góc độ bảo đảm, bảo vệ các quyền mà nhóm xã hội này rất dễ bị xâm phạm, bảo đảm những điều kiện để nhóm xã hội này giảm bớt những tổn thương, những rủi ro thường phải đối mặt. Đặc biệt, phải quan tâm đến việc xây dựng các chính sách để có thể giảm tải lượng người di cư đến thành thị trong bối cảnh quá tải hiện nay và bảo đảm được quyền của lao động nữ nông thôn. Đó chính là chính sách hỗ trợ việc làm tại nơi đi, chính sách sử dụng lao động tại chỗ đối với các công trình xây dựng tại địa phương, tạo thu nhập cho lao động nữ nông thôn. Khi có việc làm tại nông thôn thì họ sẽ ít phải di cư nhằm mục đích mưu sinh. Các chính sách phải được thực hiện đồng bộ mới có thể bảo đảm quyền của nhóm xã hội này một cách thiết thực nhất.

Phải xây dựng khung pháp luật chặt chẽ, đầy đủ và có tính đặc thù riêng cho đối tượng lao động di cư. Đặc biệt, phải xem đối tượng lao động di cư làm việc không có hợp đồng cũng phải là người lao động được bảo đảm bằng các quy định đặc thù cho nhóm lao động này. Việc xây dựng chế định riêng về nhóm người lao động làm việc tự do tương tự như việc bảo đảm các nhóm lao động đặc thù trong Bộ luật Lao động hiện nay như lao động chưa thành niên hay nhóm lao động là người cao tuổi. Các quy định pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng tháo gỡ các rào cản gây khó khăn cho người di cư trong nước trong việc tiếp cận các dịch vụ trong sinh hoạt và các dịch vụ xã hội khác cụ thể là các quy định pháp luật về chế độ quản lý bằng hộ khẩu. Các quy định này phải được sửa đổi theo hướng loại bỏ việc quy định hộ khẩu thường trú là điều kiện trong tiếp cận các dịch vụ xã hội hay thủ tục pháp lý, hành chính mà chỉ sử dụng làm công cụ quản lý sự biến động dân số và hỗ trợ cho tính toán và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

1.3. Hoàn thiện bộ máy nhà nước để bảo đảm quyền của lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị

Trước hết, phải thiết lập được cơ quan nhân quyền quốc gia để bảo đảm quyền con người nói chung, trong đó có lao động nữ di cư từ nông thôn đến thành thị. Đồng thời, phải xây dựng cơ quan chuyên trách trong bộ máy nhà nước để quản lý đồng thời bảo đảm quyền cho lao động di cư trong nước nói chung. Cơ quan chuyên trách này có bộ phận chuyên trách về lao động nữ di cư. Tuy nhiên, theo nguyên tắc bộ máy nhà nước càng mở rộng thì xã hội càng thu hẹp cũng như theo chiến lược cải cách hành chính hiện nay, nên giao trách nhiệm này cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, không thành lập thêm cục mới mà giao thêm trách nhiệm này cho Cục Quản lý lao động ngoài nước. Đổi tên Cục Quản lý lao động ngoài nước thành Cục Quản lý lao động di cư. Nhiệm vụ của Cục bao gồm quản lý và bảo đảm quyền của cả lao động di cư trong nước, lao động di cư Việt Nam ở nước ngoài và lao động nước ngoài ở Việt Nam. Cục Quản lý lao động di cư có trách nhiệm tham mưu cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về các chính sách liên quan đến lao động di cư và đưa đối tượng lao động di cư trong nước, đặc biệt là lao động nữ di cư vào thụ hưởng các chế độ chính sách xã hội mà Bộ trực tiếp quản lý. Từ đó, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội có trách nhiệm phối hợp với các bộ ngành liên quan như Bộ Y tế, Bộ Giáo dục... đưa ra các giải pháp hỗ trợ phù hợp để tạo thuận lợi cho đối tượng này được thuận lợi trong việc thụ hưởng các quyền đặc trưng.

Trong bộ máy quản lý nhà nước, chính quyền địa phương có một vai trò quan trọng vì họ là cấp chính quyền có tác động trực tiếp nhất đối với lao động di cư. Ở góc độ này, trước hết cần có sự quán triệt về chủ trương đối với chính quyền các cấp về quan điểm lao động di cư là một luồng lao động bổ sung cho địa phương; di cư là một vấn đề phát triển. Đây là một điều kiện cơ bản để các cấp chính quyền địa phương có thể đưa ra những quyết định chính sách theo hướng “vì người lao động di cư’.

1.4. Tăng cường hoạt động bảo đảm quyền của lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị từ các tổ chức đoàn thể trong xã hội

Trong nhiệm vụ và các chương trình hoạt động của các đoàn thể xã hội phải hướng tới nhóm xã hội này. Đặc biệt tại nơi đến, cần tránh quan điểm chú trọng vào dân cư đã cư trú thường xuyên trên địa bàn mà bỏ qua đối tượng là lao động nữ di cư. Hoạt động của các đoàn thể nếu hướng đến lao động nữ di cư sẽ tạo được những điều kiện thuận lợi giúp nhóm xã hội này không còn bị rơi vào trạng thái bị tách rời khỏi xã hội nơi đến, có thể tiếp cận và hòa nhập với cộng đồng nơi đến. Đồng thời, các đoàn thể xã hội sẽ có các phương án hỗ trợ hoặc kiến nghị các cấp chính quyền có các chính sách bảo đảm các quyền của nhóm xã hội này. Các đoàn thể xã hội có liên quan trực tiếp đến đối tượng lao động nữ di cư chính là Liên đoàn Lao động, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên.

Ngoài ra, Việt Nam cần phải tích cực học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới về vấn đề bảo đảm, thúc đẩy và bảo vệ người di cư trong nước nói chung và lao động nữ di cư nói riêng. Ví dụ: Vận dụng chính sách của Nhật Bản đối với người di cư cụ thể là sự tiếp cận phổ biến và miễn phí đến các dịch vụ chăm sóc lao cho dân di cư[2].

2. Những giải pháp nhằm bảo đảm quyền của lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam

2.1. Bảo đảm quyền làm việc và quyền liên quan đến quyền làm việc

Trước hết, cần phải thống kê số lượng, việc làm và chất lượng cuộc sống của lao động nữ di cư theo hướng phân chia giữa lao động là công nhân và lao động di cư làm việc tự do để có số liệu đánh giá cụ thể, từ đó mới có thể đưa ra được các giải pháp về bảo đảm quyền làm việc, quyền liên quan đến quyền làm việc cho nhóm xã hội này. Nhiệm vụ này nằm trong cuộc tổng điều tra di cư của Tổng cục Thống kê[3]. Hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền trực tiếp cho lao động nữ di cư, trong đó chú trọng lao động nữ di cư làm việc tự do không có hợp đồng tại một chế định riêng biệt “Quy định dành cho lao động làm việc tự do không có hợp đồng lao động”. Trong chế định này sẽ quy định các quyền về việc làm mà nhóm lao động này được bảo đảm như: Làm việc tại môi trường làm việc an toàn, được tham gia bảo hiểm y tế, tham gia bảo hiểm xã hội... Đồng thời, quy định trách nhiệm cho đoàn thể và chính quyền về trách nhiệm cung cấp thông tin về việc làm, hướng dẫn di cư an toàn cũng như bảo đảm các điều kiện, tạo thuận lợi và có chính sách hỗ trợ cho đời sống của nhóm lao động này.

Các cơ quan nhà nước phải xây dựng được chính sách việc làm hàng năm, trong đó chú trọng đến tạo điều kiện có việc làm cho lao động nữ tại nông thôn và các chương trình đào tạo nghề. Theo đó, phải triển khai được đa dạng hóa việc làm tại nông thôn, phát triển các làng nghề truyền thống, xây dựng các khu công nghiệp. Tuy nhiên, các dự án này cũng phải quan tâm đến sự phát triển bền vững có tính toán đến việc có thu hẹp đất nông nghiệp hay không...

Các cơ quan nhà nước và đoàn thể xã hội tại nơi đến phải có cơ chế giám sát và kịp thời tiếp nhận thông tin xử lý vi phạm các hành vi vi phạm pháp luật của người sử dụng lao động đối với công nhân trong quá trình tuyển dụng, việc không ký kết hợp đồng lao động, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, trả chậm lương, không thực hiện cam kết đào tạo nâng cao tay nghề... Đồng thời, có cơ chế kiểm soát tốt việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động đối với người giúp việc gia đình. Bên cạnh đó, cần nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Ngoài ra, cần thực hiện việc giáo dục nâng cao nhận thức và các thông tin việc làm cần thiết cho đối tượng lao động nữ di cư giúp cho nhóm xã hội này được nâng cao hiểu biết về việc làm và các chế độ được hưởng trong làm việc tránh bị dụ dỗ, lừa đảo, bị lợi dụng trong quá trình tìm kiếm việc làm hoặc trong cả quá trình làm việc. Trách nhiệm này thuộc về cả cơ quan lao động thương binh và xã hội, Liên đoàn Lao động, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân ở cả nơi đi và nơi đến.

2.2. Bảo đảm quyền tự do cư trú và quyền có nhà ở

Nhà nước cần phải xem xét lại việc thực hiện quản lý dân cư bằng hộ khẩu gia đình và hộ khẩu gia đình là điều kiện để được hưởng các dịch vụ liên quan đến đời sống sinh hoạt với giá thấp hơn. Nếu giữ lại việc quản lý dân cư bằng hộ khẩu gia đình thì chỉ sử dụng làm căn cứ xác định thành viên của hộ gia đình chứ không phải là công cụ để hạn chế việc di cư vào các vùng thành thị. Hạn chế di cư bằng biện pháp hành chính là không khả thi và còn vi phạm đến quyền tự do cư trú trong nước của công dân. Để dung hòa được mâu thuẫn một bên là quyền tự do cư trú và một bên là sức ép từ việc di cư đối với thành thị nên đưa ra các giải pháp phù hợp như tạo công ăn việc làm tại nông thôn chứ không được sử dụng chế độ hộ khẩu để hạn chế di cư như hiện nay. Cần tăng cường kiểm soát các văn bản dưới luật, đặc biệt là các văn bản của các địa phương nơi đến của lao động nữ di cư trong việc hạn chế di cư.

Bên cạnh đó, Nhà nước, các tổ chức xã hội và các doanh nghiệp phải quan tâm và có chính sách hỗ trợ cho lao động di cư nói chung và lao động nữ di cư nói riêng về nhà ở. Huy động nguồn lực tài chính để xây dựng nhà ở xã hội với giá bán và giá cho thuê thấp phù hợp với thu nhập của đối tượng này. Ngoài ra, phải đưa đối tượng lao động di cư vào đối tượng nhận được sự bảo trợ của xã hội trong việc được hỗ trợ về giá điện và giá nước sinh hoạt. Đồng thời, phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc tăng giá nhà cho thuê, tăng giá điện và giá nước không phù hợp tại các khu nhà trọ nơi mà lao động nữ di cư sinh sống. Trách nhiệm này chủ yếu thuộc về chính quyền nơi đến.

2.3. Bảo đảm quyền được bảo vệ về thể chất, tình dục, cảm xúc và tinh thần

Chính quyền nơi đi phải có trách nhiệm tuyên truyền và giáo dục nhận thức cho lao động nữ có thể di cư an toàn. Trong chương trình tuyên truyền phải đưa ra được những rủi ro về việc xâm phạm về thể chất, tình dục, những tệ nạn xã hội mà lao động nữ di cư có thể bị đối mặt, bị dụ dỗ, lôi cuốn, từ đó, lao động nữ di cư được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết tự bảo vệ cho bản thân mình. Đồng thời, Hội Phụ nữ tại địa phương nơi đi phải có được thông tin về lao động nữ di cư của địa phương mình, từ đó có các chương trình hành động vì gia đình lao động nữ di cư. Trong chương trình hành động này có sự quan tâm tới con cái của lao động nữ di cư không di cư cùng mẹ, cũng như làm công tác tư tưởng cho cả chồng của lao động nữ di cư về việc giữ gìn hạnh phúc gia đình trong thời gian phụ nữ di cư vì mục đích mưu sinh.

Chính quyền nơi đến phải xem đối tượng lao động nữ di cư sinh sống trên địa bàn là đối tượng dễ gặp phải rủi ro và rất cần sự quan tâm và giúp đỡ của các cơ quan nhà nước cũng như đoàn thể xã hội tại nơi đến. Chính quyền địa phương phải bảo đảm an ninh trật tự xung quanh khu làm việc của lao động nữ di cư và những khu vực nơi tập trung lao động nữ di cư sinh sống. Tăng cường tuyên truyền và cung cấp những thông tin về tình hình an ninh trật tự, tình hình tội phạm trên địa bàn có nguy cơ xâm hại đến nhóm xã hội này một cách kịp thời và thường xuyên để lao động nữ di cư có thể cảnh giác và đề phòng những rủi ro có thể xảy ra.

Các cơ quan nhà nước và đoàn thể xã hội tăng cường kiểm soát điều kiện làm việc an toàn của lao động nữ di cư về tình trạng xâm phạm tình dục, xúc phạm tinh thần nơi làm việc kể cả tại các khu công nghiệp, khu chế xuất cũng như tại các gia đình thuê giúp việc và các địa điểm làm việc của lao động nữ làm việc tự do.

Tăng cường giáo dục quyền con người cụ thể là việc bảo đảm, thúc đẩy và bảo vệ quyền của lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị một cách rộng rãi cho xã hội nơi đến. Thông qua giáo dục, xã hội nơi đến nhận thức được các quyền tự nhiên của con người nói chung và nhóm xã hội này nói riêng, từ đó hình thành trong nhận thức và hành động việc tôn trọng quyền của nhóm xã hội này.

2.4. Bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe

Tăng cường giáo dục nhận thức cho lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị về tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe đặc biệt là chăm sóc sức khỏe sinh sản. Bên cạnh đó, phải tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về chính sách bảo hiểm y tế một cách rộng rãi cho cả đối tượng lao động nữ là công nhân và cả lao động nữ làm việc tự do. Trách nhiệm giáo dục nhận thức và hiểu biết pháp luật thuộc về tổ chức công đoàn tại các khu công nghiệp, khu chế xuất đối với công nhân và thuộc về Hội Liên hiệp Phụ nữ tại địa bàn dân cư nơi có lao động nữ làm việc tự do sinh sống.

Nhà nước và các tổ chức khác trong xã hội phải đưa đối tượng lao động nữ di cư vào các chiến lược, chương trình và chính sách chăm sóc sức khỏe quốc gia cũng như các chính sách chăm sóc sức khỏe đặc thù dành riêng cho đối tượng lao động nữ di cư. Đồng thời thực hiện việc thăm khám và phát thuốc miễn phí. Trong các chiến lược, chính sách chăm sóc sức khỏe phải đặc biệt quan tâm tới lực lượng lao động nữ di cư làm việc tự do. Để thực hiện được vấn đề này, cần thiết việc tranh thủ nguồn lực tài chính, nguồn lực xã hội cũng như cần phải phối hợp với các tổ chức phi Chính phủ.

Cần phải hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm y tế có hướng đến đối tượng là lao động di cư trong nước. Có thể thay đổi việc hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo cơ sở khám chữa bệnh đăng ký ban đầu hoặc đưa ra những quy định đặc thù dành riêng cho đối tượng lao động nữ di cư làm việc tự do. Theo đó, nếu khi di cư, người lao động có giấy tờ xác nhận của chính quyền nơi đi và nơi đến là lao động di cư đối với lao động làm việc tự do thì sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm tại nơi đến tương tự là nơi đăng ký thăm khám lần đầu hoặc được hỗ trợ với mức cao hơn so với quy định về vượt tuyến.

2.5. Bảo đảm quyền được hưởng an sinh xã hội

Cần sớm cải cách quản lý hộ khẩu để gỡ bỏ những rào cản đối với người di cư nông thôn đến thành thị trong việc tiếp cận với các dịch vụ an sinh xã hội. Bên cạnh đó, cần tăng cường giáo dục nhận thức và trang bị kiến thức cần thiết cho lao động nữ di cư để có những hiểu biết nhất định và thực hiện việc tham gia hệ thống an sinh xã hội đặc biệt là chính sách bảo hiểm xã hội. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ký kết hợp đồng lao động đối với việc thụ hưởng chế độ của bảo hiểm xã hội, từ đó yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện nghĩa vụ của mình. Đối với lao động nữ làm việc tự do càng phải tích cực phổ biến pháp luật về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện và các chế độ được thụ hưởng từ việc tham gia bảo hiểm. Các cơ quan nhà nước và các đoàn thể xã hội nơi đến phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm kịp thời, nghiêm khắc việc không thực hiện nghĩa vụ ký kết hợp đồng hoặc cố tình ký kết hợp đồng làm việc ngắn hạn của các doanh nghiệp nhằm trốn tránh trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Ngoài ra, cần sớm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội, trong đó có quy định thêm các chế độ được hưởng của việc tham gia loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện không dừng lại ở hai chế độ hưu trí và tử tuất như hiện nay. Điều này cũng bảo đảm quyền ngang nhau của lao động làm việc theo hợp đồng và lao động làm việc tự do. Đồng thời, giảm mức đóng bảo hiểm xã hội cho đối tượng lao động nữ di cư, không lấy mức lương tối thiểu làm cơ sở xác định mức đóng và có quy định một cơ sở xác định mức đóng thấp hơn và hợp lý hơn.

2.6. Bảo đảm quyền liên quan đến thành viên trong gia đình họ mà cụ thể là quyền của con cái họ

Nhà nước và xã hội phải có sự chú trọng đến việc quan tâm và hỗ trợ trẻ em là con cái của người lao động di cư trong các chính sách hỗ trợ và cả quy định pháp luật. Con cái của người lao động di cư trong các chính sách hỗ trợ và cả quy định pháp luật. Phải xem đây là đối tượng dễ bị tổn thương cần phải đặc biệt quan tâm.

Nhà nước và các đoàn thể xã hội phải thực hiện việc giám sát, kiểm soát chặt chẽ các văn bản dưới luật, quy chế xét tuyển học sinh ở các địa phương có lượng lao động nhập cư lớn đưa ra các điều kiện để được học tập tại các cơ sở giáo dục đào tạo công lập trong đó có điều kiện về hộ khẩu thường trú. Cần phải xóa bỏ việc sử dụng hộ khẩu thường trú làm điều kiện để tiếp cận học tập trường công lập tại thành thị thay vào đó là các giải pháp phù hợp hơn như mở thêm các cơ sở khác của trường công lập, hỗ trợ học phí cho các đối tượng là con của lao động nữ di cư hay tổ chức thi tuyển công khai mà không liên quan đến hộ khẩu thường trú... Bên cạnh đó, Nhà nước và các đoàn thể xã hội tăng cường việc kiểm tra, giám sát và khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện cam kết xây dựng các nhà trẻ cho con cái của lao động nữ.

Dương Thị Hải Yến





[1]. Tổ chức UN Việt Nam, (2010), Di cư trong nước cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.

[2]. Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2013), Thực trạng di cư trong nước và những vấn đề cần ưu tiên trong chăm sóc sức khỏe, Kỷ yếu Hội thảo Chăm sóc sức khỏe người di cư ở Việt Nam thực trạng và giải pháp, Tổ chức Di cư Thế giới IOM.

[3]. Tổ chức UN Việt Nam, (2010), Di cư trong nước cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: