Thứ ba 22/09/2026 17:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường nhận thức và năng lực áp dung pháp luật cho doanh nghiệp

Trong hơn ba mươi năm đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế, vị trí của doanh nghiệp tại Việt Nam đã có những đổi thay cơ bản. Từ chỗ chỉ hoạt động như một bộ phận của Nhà nước, không cần biết đến hiệu quả kinh tế, thì nay, doanh nghiệp đang trở thành các chủ thể độc lập, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình, đóng góp chủ yếu cho tổng sản phẩm quốc gia, tạo việc làm, giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần bảo đảm ổn định xã hội và lành mạnh hóa các quan hệ xã hội.

1. Tình hình nhận thức và năng lực áp dụng pháp luật của doanh nghiệp

Trong hoạt động kinh doanh, rủi ro luôn là một thách thức đối với doanh nghiệp. Hậu quả của rủi ro kinh doanh rất lớn, nó không chỉ gây thiệt hại về kinh tế cho doanh nghiệp hay nhà đầu tư, mà cho toàn xã hội. Các vụ kiện của nước ngoài là một trong những thử thách đối với doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập. Một trong những nguyên nhân gây ra tranh chấp là do doanh nghiệp của Việt nam chưa có đầy đủ những thông tin pháp luật.

Thời gian qua, nhu cầu tìm hiểu thông tin và mong muốn áp dụng đúng pháp luật đã bắt đầu hình thành đối với doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có quy mô trung bình và doanh nghiệp có quy mô lớn hoặc các doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề đặc biệt. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc chủ động tìm hiểu thông tin pháp luật và ý thức thi hành pháp luật còn hạn chế. Vấn đề vi phạm pháp luật của doanh nghiệp diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực, nhưng thường tập trung vào chấp hành pháp luật về thuế, gian lận thương mại, kinh doanh khi chưa có đủ điều kiện hoặc không bảo đảm các điều kiện kinh doanh, gây ô nhiễm môi trường, vi phạm quyền lợi người tiêu dùng, người lao động... Bởi vậy, cần có biện pháp để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận, thực hiện đúng pháp luật.

Nguyên nhân dẫn đến việc các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp nhiều khó khăn khi tìm hiểu và áp dụng pháp luật là:

Từ phía Nhà nước: Hệ thống pháp luật có tiến bộ, nhưng đan xen nhiều nguyên tắc khác nhau dẫn đến thiếu nhất quán, cồng kềnh, mẫu thuẫn, chồng chéo và không ổn định. Pháp luật vẫn nặng về quản lý nhà nước và can thiệp hành chính, chưa thực sự bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và không thân thiện với thương mại.

Tính công khai và minh bạch của hệ thống pháp luật chưa được bảo đảm, doanh nghiệp khó khăn khi tiếp cận thông tin pháp luật, đặc biệt là thông tin từ các cơ quan nhà nước.

Cơ sở dữ liệu pháp luật Việt Nam mới được xây dựng, không tập trung. Các thông tin phần lớn là “thô”, dưới dạng văn bản hoàn chỉnh, chưa được xử lý, phân loại theo nội dung, chủ đề khó tiếp cận... nên chưa đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng. Việc phổ biến pháp luật chưa thực sự hiệu quả, đôi khi trở thành nhàm chán, không thu hút được sự quan tâm của doanh nghiệp.

Về phía doanh nghiệp: Cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã ăn sâu vào ý thức của các doanh nghiệp, nên doanh nghiệp dù tự chủ nhưng chưa có thói quen tự giải quyết, tự tìm tư vấn cho những vướng mắc của mình. Hầu hết giao dịch của doanh nghiệp thực hiện không có sự tư vấn của luật sư hoặc chỉ sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý khi vấn đề đã xảy ra.

2. Biện pháp tăng cường nhận thức và áp dụng pháp luật cho doanh nghiệp

Thứ nhất, theo tác giả Hồ Quang Huy và Nguyễn Thị Ngân tiếp cận trong bài viết “Đồng hành cùng doanh nghiệp - Khởi nguồn từ xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật”[1], thì vấn đề đầu tiên là các văn bản pháp luật được ban hành phải có chất lượng tốt, theo các nguyên tắc của thị trường. Nói cách khác là thân thiện với thị trường, đề cao việc bảo vệ quyền tự do kinh doanh, quyền và lợi ích của người kinh doanh, doanh nghiệp. Sự can thiệp của Nhà nước (quản lý nhà nước) chỉ được thực hiện trên nguyên tắc để bảo vệ lợi ích công, như bảo vệ môi trường, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ đại chúng… Sự can thiệp của Nhà nước mặc dù chủ yếu là biện pháp hành chính nhưng phải trên cơ sở các tiêu chí thương mại. Đây là vấn đề Việt Nam đã cam kết trong nhiều hiệp định thương mại[2].

Thứ hai, tăng niềm tin của doanh nghiệp đối với hệ thống tư pháp, nhất là Tòa án. Thủ tục giải quyết tại Tòa án phải thân thiện với thương mại và bảo vệ đúng quyền và lợi ích của các bên.

Thứ ba, minh bạch hóa thông tin pháp luật. Yêu cầu về thông tin pháp luật tập trung theo các tiêu chí: (i) Sự sẵn có; (ii) Sự tiện lợi; (iii) Tính công khai; (iv) Độ tin cậy của thông tin; (v) Chi phí thấp và hiệu quả cao.

Công khai hóa thông tin pháp lý là một trong các yêu cầu về tính minh bạch trong điều kiện hội nhập. Nếu các doanh nghiệp không có điều kiện tiếp cận các thông tin pháp lý thì sẽ rất khó thi hành đúng pháp luật.

Xây dựng cơ sở thông tin dữ liệu quốc gia: Tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã xây dựng cơ sở dữ liệu và thường xuyên cập nhật hệ thống văn bản pháp luật[3]. Một cơ sở dữ liệu pháp luật có khả năng cập nhật và được truyền tải trên internet là giải pháp tối ưu để cho doanh nghiệp chủ động tra cứu, thu thập thông tin. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật sẽ giúp luật sư dễ dàng tiếp cận với thông tin pháp lý và cập nhật văn bản pháp luật để thực hiện tốt hơn hoạt động tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp.

Cần hình thành một trung tâm thông tin dữ liệu pháp luật quốc gia duy nhất, cập nhật thường xuyên và được xử lý về kỹ thuật để có thể tìm kiếm theo chủ đề phù hợp với mục đích sử dụng. Việc đăng tải trên internet phải được thực hiện và việc truy cập miễn phí với tính chất là một dịch vụ công. Mạng thông tin cung cấp thông tin pháp lý được cập nhật cho các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, luật sư, các trung tâm tư vấn pháp luật, các hiệp hội doanh nghiệp... Mạng thông tin phải có đường dẫn đến các mạng thông tin pháp luật quốc tế và các nước khác, nhất là các nước là bạn hàng thường xuyên của doanh nghiệp Việt Nam.

Thứ tư, bồi dưỡng kiến thức pháp lý. Nhà nước chỉ nên tập trung vào tổ chức đào tạo và bồi dưỡng kiến thức pháp lý liên quan đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước (luật công), ví dụ như về thủ tục hành chính, pháp luật thuế, pháp luật hải quan... Các lĩnh vực pháp luật khác nên khuyến khích các hiệp hội, các công ty tư vấn, văn phòng luật sư, kể cả văn phòng luật sư nước ngoài thực hiện. Các hiệp hội, công ty tư vấn, văn phòng luật sư không bị hạn chế về phạm vi nội dung vì họ sẽ thực hiện trên cơ sở yêu cầu của chính các doanh nghiệp.

Thứ năm, hướng dẫn pháp luật. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích những vướng mắc của doanh nghiệp liên quan đến pháp luật về quản lý nhà nước và các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước (luật công). Những vấn đề thuộc về luật tư, doanh nghiệp phải nhờ sự hỗ trợ của thị trường dịch vụ pháp lý. Thị trường dịch vụ pháp lý cũng hỗ trợ những vấn đề thuộc về luật công.

Thứ sáu, cần xác định hiệp hội doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề là một trong những thiết chế quan trọng nhất thực hiện hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó có hỗ trợ pháp lý.

Thứ bảy, phát triển thị trường dịch vụ pháp lý, nhất là dịch vụ pháp lý do luật sư cung cấp. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, luật sư có vai trò quan trọng trong việc cố vấn pháp luật cho hoạt động của doanh nghiệp, họ là người tư vấn, đại diện cho doanh nghiệp. Các luật sư không chỉ cung cấp dịch vụ pháp lý cho doanh nghiệp, mà thông qua đó còn góp phần quảng bá chính sách, pháp luật của Nhà nước. Như vậy, họ đã góp phần trong việc nâng cao ý thức thực thi pháp luật của các doanh nghiệp và thu hút đầu tư.

TS. Nguyễn Am Hiểu

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem thêm: Hồ Quang Huy và Nguyễn Thị Ngân, “Đồng hành cùng doanh nghiệp - Khởi nguồn từ xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật” trên www.moj.gov.vn, ngày 17/05/2017.

[2]. Đoạn 78, 79 Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): “Tất cả các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hay do Nhà nước kiểm soát, kể cả các doanh nghiệp đã được cổ phần hóa nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ quyền kiểm soát, và các doanh nghiệp được hưởng đặc quyền hay độc quyền sẽ thực hiện việc mua sắm không phục vụ cho nhu cầu của Chính phủ và bán hàng trong hoạt động thương mại quốc tế chỉ dựa trên các tiêu chí thương mại, tức là các tiêu chí về giá cả, chất lượng, khả năng bán ra thị trường, khả năng cung cấp, và rằng các doanh nghiệp của các thành viên WTO khác sẽ có cơ hội thỏa đáng, theo đúng với tập quán kinh doanh thông thường, khi cạnh tranh để tham gia vào các giao dịch mua bán với các doanh nghiệp này mà không bị phân biệt đối xử. Chính phủ Việt Nam sẽ không tác động dù là trực tiếp hay gián tiếp tới các quyết định thương mại của các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước kiểm soát, hay các doanh nghiệp được hưởng đặc quyền hay độc quyền, gồm các quyết định về số lượng, giá trị hay nước xuất xứ của bất kỳ hàng hóa nào được mua hay bán, trừ trường hợp can thiệp theo cách thức phù hợp với các quy định của Hiệp định WTO và các quyền tương tự quyền dành cho các chủ doanh nghiệp hay cổ đông khác không phải là Chính phủ (Đoạn 78)”.

Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) yêu cầu các nước thành viên tuân thủ 03 nghĩa vụ, trong đó, nghĩa vụ 1 là không hỗ trợ phi thương mại riêng/chủ yếu cho doanh nghiệp nhà nước đến mức có thể gây ra tác động tiêu cực tới lợi ích của thành viên TPP khác.

[3]. Kinh nghiệm của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD), xem Báo cáo về các nguyên tắc cơ bản của OECD nhằm đảm bảo chất lượng và tính hiệu quả của pháp luật, bản dịch tiếng Việt do GTZ cung cấp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: