Chủ nhật 13/09/2026 12:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường quản lý nhà nước về báo chí điện tử trong tình hình hiện nay

Những năm qua, các cơ quan báo chí điện tử ở nước ta có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Báo chí điện tử cung cấp thông tin ngày càng đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước dường như chưa theo kịp sự phát triển của loại hình báo chí này. Bài viết dưới đây đề cập một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về báo chí điện tử trong tình hình hiện nay.

Sự phát triển của công nghệ thông tin và internet đã đem đến những tiện ích vô cùng to lớn cho đời sống, xã hội và con người. Những năm qua, các cơ quan báo chí điện tử ở trong nước có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Theo số liệu thống kê trên cổng thông tin điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông thì cả nước có 103 cơ quan báo và tạp chí điện tử, gần 1.600 trang thông tin điện tử tổng hợp và 420 trang mạng xã hội đã tạo ra một bức tranh đa sắc mầu, đa phong cách trong làng báo chí điện tử Việt Nam[1].

Báo chí điện tử cung cấp thông tin ngày càng đa dạng và phong phú; tích cực tuyên truyền những chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; phát hiện cổ vũ những nhân tố mới, điển hình tiên tiến; phát động và tổ chức nhiều hoạt động xã hội, từ thiện có ý nghĩa, mang lại hiệu quả thiết thực; tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chống và phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch; góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong xu thế giao lưu và hội nhập với các nước trên thế giới[2].

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nói trên, một số cơ quan báo chí điện tử còn thiếu nhạy bén chính trị, chưa làm tốt chức năng tư tưởng - văn hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích; thông tin không trung thực, thiếu chính xác, phản ánh một chiều về tiêu cực và tệ nạn xã hội; đưa tin, rút tít theo hướng giật gân câu khách; nội dung thông tin trên các báo trùng lặp hoặc sao chép của nhau, nhất là khi có các vấn đề phức tạp, nhạy cảm về các vụ án liên quan đến tình hình an ninh, trật tự; chưa quan tâm tuyên truyền các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước...

Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động ở lĩnh vực này còn thiếu, không đồng bộ và chưa theo kịp sự phát triển của báo chí điện tử. Việc xử lý tổ chức, cá nhân sai phạm còn chưa nghiêm khắc, thiếu kiên quyết, chưa kịp thời, còn cả nể và hình thức[3]... Vì vậy, để phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của thông tin trên báo chí điện tử trong tình hình hiện nay, thời gian tới, các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí điện tử cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật về quản lý nhà nước đối với báo chí điện tử

Hiện nay, chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với báo chí điện tử phụ thuộc nhiều vào mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Để báo chí điện tử phát triển, chất lượng thông tin được nâng cao, đáp ứng được nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới, cơ quan quản lý nhà nước cần thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, loại bỏ những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, lạc hậu; đồng thời ban hành mới các văn bản có chất lượng, tính pháp lý cao, sát thực với sự phát triển của báo chí điện tử, đồng thời đáp ứng được các yêu cầu như: Phải đồng bộ, thống nhất, cụ thể để báo chí điện tử phát triển vững chắc, đủ khả năng định hướng, chi phối dư luận và truyền thông xã hội.

Hai là, chú trọng phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng phẩm chất, chính trị, đào tạo và tập huấn về kiến thức, kỹ thuật cho đội ngũ làm báo chí điện tử

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hoạt động báo chí trong môi trường truyền thông số đòi hỏi phải thiết lập tiêu chuẩn đầu vào đối với cán bộ công tác trong bộ máy quản lý nhà nước về báo chí điện tử. Tiêu chuẩn tuyển dụng cán bộ làm công tác quản lý báo chí điện tử phải là đảng viên, có trình độ nghiệp vụ báo chí, am hiểu về công nghệ thông tin, có trình độ ngoại ngữ tương đương cử nhân, có kiến thức về quản lý và pháp luật, có đạo đức, phẩm chất tốt.

Trước mắt, đối với công chức, viên chức từ Trung ương đến cơ sở đang làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí điện tử cần được đào tạo, tập huấn, cập nhập kiến thức, kỹ năng và bồi dưỡng chính trị thường xuyên. Đối với cơ quan chủ quản, cán bộ được phân công theo dõi, quản lý báo chí điện tử cũng phải đủ tiêu chuẩn như đối với cán bộ làm công tác quản lý nhà nước. Đồng thời, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước đối với báo chí điện tử từ Trung ương đến các địa phương để đáp ứng tình hình và nhiệm vụ hiện nay. Đối với lãnh đạo các cơ quan báo chí điện tử, hoạt động của báo chí điện tử phụ thuộc vào hạ tầng internet và công nghệ thông tin, vì vậy, điều kiện bổ nhiệm ngoài việc phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung như các loại hình báo chí khác, còn phải am hiểu công nghệ thông tin. Tiến tới yêu cầu những người quản lý phải có trình độ ngoại ngữ để cập nhập thường xuyên những tiến bộ khoa học của thế giới nhằm nâng cao chất lượng báo chí điện tử và an toàn về an ninh mạng. Kiên quyết không bổ nhiệm lại những lãnh đạo các cơ quan báo chí điện tử để xảy ra nhiều sai phạm. Phóng viên nào vi phạm đạo đức nghề nghiệp, cố ý đưa những thông tin bất lợi về tư tưởng, tác động xấu đối với xã hội và an ninh quốc gia bị cơ quan quản lý nhà nước thu thẻ nhà báo hoặc sa thải, trường hợp nghiêm trọng sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự[4]. Làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng người làm báo sẽ góp phần nâng cao chất lượng thông tin trên báo chí điện tử, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng và phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ba là, ứng dụng những thành tựu khoa học mới trong quản lý nhà nước về báo chí điện tử

Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, đầu tư phương tiện làm việc cho đội ngũ lãnh đạo và quản lý nhà nước đối với báo chí điện tử để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ được giao; đầu tư công nghệ kỹ thuật phục vụ công tác cung cấp và chỉ đạo thông tin định kỳ cũng như đột xuất; dùng công nghệ thông tin tạo lập đường dây nóng để khi các cơ quan báo chí phát hiện các sự việc đột xuất, nhạy cảm có thể xin ý kiến chỉ đạo nhanh, góp phần bảo đảm thông tin chuẩn xác, mang tính định hướng dư luận xã hội. Đồng thời, khi có thông tin cần chỉ đạo gấp, các cơ quan lãnh đạo, quản lý nhà nước về báo chí điện tử có thể nhanh chóng chuyển tải nội dung kịp thời tới lãnh đạo các cơ quan báo chí điện tử nhanh nhất, kịp thời và tiết kiệm.

Đầu tư công nghệ tin học để thường xuyên tầm soát thông tin trên mạng và báo chí điện tử. Hiện nay, có những phần mền có thể phát hiện được những tin, bài viết có dấu hiệu nhạy cảm dựa trên các tiêu chí phân loại đặt ra từ đầu, trên cơ sở đó có thể chỉ đạo báo chí điện tử điều chỉnh, hoặc ngỡ bỏ khi đưa tin sai phạm hoặc bất lợi cho quốc gia, dân tộc. Tương tự như vậy, có thể sử dụng công nghệ thông tin để chặn tình trạng vi phạm bản quyền. Xây dựng và vận hành hệ thống lưu chiểu báo chí điện tử dưới dạng file điện tử. Cần tính tới khả năng tích hợp với hệ thống lưu chiểu thông tin truyền thông xã hội.

Bốn là, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật đối với báo chí điện tử

Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật là một trong những chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước bằng pháp luật nói riêng. Mục đích của thanh tra là nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có các biện pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước. Để công tác thanh tra có chất lượng và hiệu quả, đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra phải thường xuyên được tập huấn về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với báo chí, báo chí điện tử và nghiệp vụ công tác thanh tra. Đơn vị thanh tra cần xây dựng kế hoạch, chương trình và triển khai hoạt động thanh tra định kỳ hàng năm đối với cơ quan báo chí điện tử. Thanh tra đột xuất, thanh tra định kỳ, thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm hoặc theo yêu cầu giải quyết, khiếu nại, tố cáo, hoặc do thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân công. Công tác thanh tra định kỳ và đột xuất được thực hiện nghiêm túc, thường xuyên sẽ giúp cơ quan báo chí có ý thức được quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, nhằm hạn chế những sai sót trong quá trình hoạt động. Cơ quan thanh tra nên lập đường dây nóng, khuyến khích và tổ chức tiếp nhận báo cáo của tổ chức, công dân về những thông tin độc hại hoặc phi pháp xuất hiện trên báo chí điện tử. Bên cạnh việc thanh tra, kiểm tra các hành vi vi phạm pháp luật còn cần chú trọng thanh tra, kiểm tra các văn bản quy phạm pháp luật, qua đó tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật.

Năm là, tăng cường giao lưu hợp tác quốc tế trong xu hướng hội nhập

Trong tình hình hiện nay, trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới và những thách thức đối với nền báo chí cách mạng Việt Nam, việc đẩy mạnh giao lưu hợp tác quốc tế là cần thiết và trở thành một giải pháp mang tính chiến lược trong chương trình công tác của cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, báo chí điện tử. Cần xây dựng chương trình chiến lược tổng thể, hoạch định đối tượng và mục tiêu trong hợp tác quốc tế; tăng cường sự tham gia, phối hợp, chủ động, tích cực của các cơ quan báo chí trong nước; khai thác, sử dụng các nguồn lực hợp tác quốc tế từ các trường có chức năng đào tạo, nghiên cứu về báo chí và truyền thông; đổi mới hình thức tổ chức, các hoạt động giao lưu, hội thảo, trao đổi về nghiệp vụ quản lý nhà nước về báo chí điện tử với các nước trong khu vực và trên thế giới[5].

Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm trao đổi kinh nghiệm với các nước về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật, pháp lý, phát triển và quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên internet. Đối với những thông tin vi phạm pháp luật được cung cấp theo dịch vụ xuyên biên giới từ máy chủ ở ngoài, không thuộc sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và các bộ, ban, ngành tổ chức quốc tế liên quan, thông qua con đường ngoại giao để trao đổi và xử lý; đồng thời xây dựng các quy ước và hiệp định song phương sao cho phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế trong tình hình hiện nay và thời gian tới.

ThS. Nguyễn Minh Thắng

Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công an nhân dân



[1]. Trương Minh Tuấn (2014), “Tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 20/6/2014.

[2]. Nguyễn Phú Trọng (2010), “Báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, chuyên nghiệp và hiện đại”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 22/6/2010.

[3]. Trương Minh Tuấn (2014), “Tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 20/6/2014.

[4]. Nguyễn Viết Tuấn (2010), Quản lý nhà nước đối với báo chí, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật, TP. Hồ Chí Minh.

[5]. Vũ Thanh Vân (2014), Truyền thông quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: