Thứ năm 14/05/2026 01:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường quản lý nhà nước về báo chí điện tử trong tình hình hiện nay

Những năm qua, các cơ quan báo chí điện tử ở nước ta có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Báo chí điện tử cung cấp thông tin ngày càng đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước dường như chưa theo kịp sự phát triển của loại hình báo chí này. Bài viết dưới đây đề cập một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về báo chí điện tử trong tình hình hiện nay.

Sự phát triển của công nghệ thông tin và internet đã đem đến những tiện ích vô cùng to lớn cho đời sống, xã hội và con người. Những năm qua, các cơ quan báo chí điện tử ở trong nước có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Theo số liệu thống kê trên cổng thông tin điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông thì cả nước có 103 cơ quan báo và tạp chí điện tử, gần 1.600 trang thông tin điện tử tổng hợp và 420 trang mạng xã hội đã tạo ra một bức tranh đa sắc mầu, đa phong cách trong làng báo chí điện tử Việt Nam[1].

Báo chí điện tử cung cấp thông tin ngày càng đa dạng và phong phú; tích cực tuyên truyền những chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; phát hiện cổ vũ những nhân tố mới, điển hình tiên tiến; phát động và tổ chức nhiều hoạt động xã hội, từ thiện có ý nghĩa, mang lại hiệu quả thiết thực; tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chống và phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch; góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong xu thế giao lưu và hội nhập với các nước trên thế giới[2].

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nói trên, một số cơ quan báo chí điện tử còn thiếu nhạy bén chính trị, chưa làm tốt chức năng tư tưởng - văn hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích; thông tin không trung thực, thiếu chính xác, phản ánh một chiều về tiêu cực và tệ nạn xã hội; đưa tin, rút tít theo hướng giật gân câu khách; nội dung thông tin trên các báo trùng lặp hoặc sao chép của nhau, nhất là khi có các vấn đề phức tạp, nhạy cảm về các vụ án liên quan đến tình hình an ninh, trật tự; chưa quan tâm tuyên truyền các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước...

Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động ở lĩnh vực này còn thiếu, không đồng bộ và chưa theo kịp sự phát triển của báo chí điện tử. Việc xử lý tổ chức, cá nhân sai phạm còn chưa nghiêm khắc, thiếu kiên quyết, chưa kịp thời, còn cả nể và hình thức[3]... Vì vậy, để phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của thông tin trên báo chí điện tử trong tình hình hiện nay, thời gian tới, các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí điện tử cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật về quản lý nhà nước đối với báo chí điện tử

Hiện nay, chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với báo chí điện tử phụ thuộc nhiều vào mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Để báo chí điện tử phát triển, chất lượng thông tin được nâng cao, đáp ứng được nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới, cơ quan quản lý nhà nước cần thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, loại bỏ những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, lạc hậu; đồng thời ban hành mới các văn bản có chất lượng, tính pháp lý cao, sát thực với sự phát triển của báo chí điện tử, đồng thời đáp ứng được các yêu cầu như: Phải đồng bộ, thống nhất, cụ thể để báo chí điện tử phát triển vững chắc, đủ khả năng định hướng, chi phối dư luận và truyền thông xã hội.

Hai là, chú trọng phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng phẩm chất, chính trị, đào tạo và tập huấn về kiến thức, kỹ thuật cho đội ngũ làm báo chí điện tử

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hoạt động báo chí trong môi trường truyền thông số đòi hỏi phải thiết lập tiêu chuẩn đầu vào đối với cán bộ công tác trong bộ máy quản lý nhà nước về báo chí điện tử. Tiêu chuẩn tuyển dụng cán bộ làm công tác quản lý báo chí điện tử phải là đảng viên, có trình độ nghiệp vụ báo chí, am hiểu về công nghệ thông tin, có trình độ ngoại ngữ tương đương cử nhân, có kiến thức về quản lý và pháp luật, có đạo đức, phẩm chất tốt.

Trước mắt, đối với công chức, viên chức từ Trung ương đến cơ sở đang làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí điện tử cần được đào tạo, tập huấn, cập nhập kiến thức, kỹ năng và bồi dưỡng chính trị thường xuyên. Đối với cơ quan chủ quản, cán bộ được phân công theo dõi, quản lý báo chí điện tử cũng phải đủ tiêu chuẩn như đối với cán bộ làm công tác quản lý nhà nước. Đồng thời, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước đối với báo chí điện tử từ Trung ương đến các địa phương để đáp ứng tình hình và nhiệm vụ hiện nay. Đối với lãnh đạo các cơ quan báo chí điện tử, hoạt động của báo chí điện tử phụ thuộc vào hạ tầng internet và công nghệ thông tin, vì vậy, điều kiện bổ nhiệm ngoài việc phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung như các loại hình báo chí khác, còn phải am hiểu công nghệ thông tin. Tiến tới yêu cầu những người quản lý phải có trình độ ngoại ngữ để cập nhập thường xuyên những tiến bộ khoa học của thế giới nhằm nâng cao chất lượng báo chí điện tử và an toàn về an ninh mạng. Kiên quyết không bổ nhiệm lại những lãnh đạo các cơ quan báo chí điện tử để xảy ra nhiều sai phạm. Phóng viên nào vi phạm đạo đức nghề nghiệp, cố ý đưa những thông tin bất lợi về tư tưởng, tác động xấu đối với xã hội và an ninh quốc gia bị cơ quan quản lý nhà nước thu thẻ nhà báo hoặc sa thải, trường hợp nghiêm trọng sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự[4]. Làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng người làm báo sẽ góp phần nâng cao chất lượng thông tin trên báo chí điện tử, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng và phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ba là, ứng dụng những thành tựu khoa học mới trong quản lý nhà nước về báo chí điện tử

Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, đầu tư phương tiện làm việc cho đội ngũ lãnh đạo và quản lý nhà nước đối với báo chí điện tử để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ được giao; đầu tư công nghệ kỹ thuật phục vụ công tác cung cấp và chỉ đạo thông tin định kỳ cũng như đột xuất; dùng công nghệ thông tin tạo lập đường dây nóng để khi các cơ quan báo chí phát hiện các sự việc đột xuất, nhạy cảm có thể xin ý kiến chỉ đạo nhanh, góp phần bảo đảm thông tin chuẩn xác, mang tính định hướng dư luận xã hội. Đồng thời, khi có thông tin cần chỉ đạo gấp, các cơ quan lãnh đạo, quản lý nhà nước về báo chí điện tử có thể nhanh chóng chuyển tải nội dung kịp thời tới lãnh đạo các cơ quan báo chí điện tử nhanh nhất, kịp thời và tiết kiệm.

Đầu tư công nghệ tin học để thường xuyên tầm soát thông tin trên mạng và báo chí điện tử. Hiện nay, có những phần mền có thể phát hiện được những tin, bài viết có dấu hiệu nhạy cảm dựa trên các tiêu chí phân loại đặt ra từ đầu, trên cơ sở đó có thể chỉ đạo báo chí điện tử điều chỉnh, hoặc ngỡ bỏ khi đưa tin sai phạm hoặc bất lợi cho quốc gia, dân tộc. Tương tự như vậy, có thể sử dụng công nghệ thông tin để chặn tình trạng vi phạm bản quyền. Xây dựng và vận hành hệ thống lưu chiểu báo chí điện tử dưới dạng file điện tử. Cần tính tới khả năng tích hợp với hệ thống lưu chiểu thông tin truyền thông xã hội.

Bốn là, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật đối với báo chí điện tử

Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật là một trong những chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước bằng pháp luật nói riêng. Mục đích của thanh tra là nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có các biện pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước. Để công tác thanh tra có chất lượng và hiệu quả, đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra phải thường xuyên được tập huấn về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với báo chí, báo chí điện tử và nghiệp vụ công tác thanh tra. Đơn vị thanh tra cần xây dựng kế hoạch, chương trình và triển khai hoạt động thanh tra định kỳ hàng năm đối với cơ quan báo chí điện tử. Thanh tra đột xuất, thanh tra định kỳ, thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm hoặc theo yêu cầu giải quyết, khiếu nại, tố cáo, hoặc do thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân công. Công tác thanh tra định kỳ và đột xuất được thực hiện nghiêm túc, thường xuyên sẽ giúp cơ quan báo chí có ý thức được quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, nhằm hạn chế những sai sót trong quá trình hoạt động. Cơ quan thanh tra nên lập đường dây nóng, khuyến khích và tổ chức tiếp nhận báo cáo của tổ chức, công dân về những thông tin độc hại hoặc phi pháp xuất hiện trên báo chí điện tử. Bên cạnh việc thanh tra, kiểm tra các hành vi vi phạm pháp luật còn cần chú trọng thanh tra, kiểm tra các văn bản quy phạm pháp luật, qua đó tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật.

Năm là, tăng cường giao lưu hợp tác quốc tế trong xu hướng hội nhập

Trong tình hình hiện nay, trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới và những thách thức đối với nền báo chí cách mạng Việt Nam, việc đẩy mạnh giao lưu hợp tác quốc tế là cần thiết và trở thành một giải pháp mang tính chiến lược trong chương trình công tác của cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, báo chí điện tử. Cần xây dựng chương trình chiến lược tổng thể, hoạch định đối tượng và mục tiêu trong hợp tác quốc tế; tăng cường sự tham gia, phối hợp, chủ động, tích cực của các cơ quan báo chí trong nước; khai thác, sử dụng các nguồn lực hợp tác quốc tế từ các trường có chức năng đào tạo, nghiên cứu về báo chí và truyền thông; đổi mới hình thức tổ chức, các hoạt động giao lưu, hội thảo, trao đổi về nghiệp vụ quản lý nhà nước về báo chí điện tử với các nước trong khu vực và trên thế giới[5].

Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm trao đổi kinh nghiệm với các nước về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật, pháp lý, phát triển và quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên internet. Đối với những thông tin vi phạm pháp luật được cung cấp theo dịch vụ xuyên biên giới từ máy chủ ở ngoài, không thuộc sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và các bộ, ban, ngành tổ chức quốc tế liên quan, thông qua con đường ngoại giao để trao đổi và xử lý; đồng thời xây dựng các quy ước và hiệp định song phương sao cho phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế trong tình hình hiện nay và thời gian tới.

ThS. Nguyễn Minh Thắng

Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công an nhân dân



[1]. Trương Minh Tuấn (2014), “Tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 20/6/2014.

[2]. Nguyễn Phú Trọng (2010), “Báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, chuyên nghiệp và hiện đại”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 22/6/2010.

[3]. Trương Minh Tuấn (2014), “Tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 20/6/2014.

[4]. Nguyễn Viết Tuấn (2010), Quản lý nhà nước đối với báo chí, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật, TP. Hồ Chí Minh.

[5]. Vũ Thanh Vân (2014), Truyền thông quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: