Thứ tư 14/01/2026 06:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước từ quy định áp thuế 5% với phân bón

Đây là một trong những điểm mới quan trọng của Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 vừa được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 8, được cộng đồng doanh nghiệp quan tâm, mong đợi.

Bất cập khi phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế

Ngày 26/11/2014, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13. Theo đó, Điều 3 Luật này đã bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 với quy định phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành quy định này cho thấy đã phát sinh những bất cập, hạn chế cần được xem xét, đánh giá lại. Cụ thể:

- Việc quy định mặt hàng phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng nên doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước không được kê khai khấu trừ thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả hoạt động đầu tư, mua sắm tài sản cố định phục vụ cho hoạt động sản xuất phân bón) mà phải tính vào chi phí sản phẩm làm cho giá thành sản xuất phân bón trong nước tăng cao và lợi nhuận giảm.

- Trong khi đó, đối với phân bón nhập khẩu được hưởng lợi do được chuyển sang không chịu thuế nhưng vẫn được hoàn toàn bộ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Điều này đã gây bất lợi lớn cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước, nhất là trong bối cảnh xu thế cung vượt cầu trên thị trường phân bón thế giới giai đoạn 2015 - 2020 (trước thời điểm dịch Covid-19), giá phân bón trên thị trường thế giới giảm mạnh, làm giá thành phân bón sản xuất trong nước không cạnh tranh được với giá phân bón nhập khẩu, nên các doanh nghiệp trong nước đều tăng trưởng âm, một số đơn vị lỗ, có nguy cơ phá sản.

- Nếu còn tiếp tục quy định phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế sẽ làm cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước không cạnh tranh được với phân bón nhập khẩu, dẫn đến các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước phải đóng cửa. Điều này làm cho Việt Nam phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển nền nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực quốc gia, làm suy yếu năng lực sản xuất nông nghiệp, giảm tính cạnh tranh với các nước trong khu vực.

Chính vì vậy, cần phải có giải pháp khắc phục bất cập, giúp các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước phát triển, không bị suy giảm, ngừng sản xuất như giai đoạn trước.

Áp thuế phân bón góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước

Nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế nêu trên, thu hẹp đối tượng không chịu thuế, bảo đảm bình đẳng trong đối xử về thuế giữa ngành sản xuất phân bón với các ngành sản xuất khác trong nước, Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 đã sửa đổi quy định hiện hành theo hướng đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế với mức thuế suất 5%. Áp dụng quy định này, doanh nghiệp sản xuất phân bón sẽ được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Điều này làm giảm áp lực cho doanh nghiệp khi đầu tư, tạo thêm nguồn lực, động lực để ổn định, mở rộng sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, quy định này còn tạo điều kiện để doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. Bởi lẽ, giá sản phẩm phân bón nhập khẩu sẽ tăng lên do phải chịu thuế giá trị gia tăng 5%, trong khi đó, vì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào nên giá thành sản xuất phân bón trong nước sẽ được giảm xuống, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Đồng thời, quy định đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế với thuế suất 5% được đánh giá sẽ hỗ trợ phục hồi sản xuất phân bón trong nước, về dài hạn, sẽ góp phần xây dựng nền công nghiệp sản xuất phân bón trong nước phát triển bền vững, ổn định nguồn cung, không phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu, làm cơ sở cho việc hạ giá thành mặt hàng này, qua đó kích thích sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững.

Băn khoăn tác động ảnh hưởng tới nông dân

Phân bón là loại vật tư nông nghiệp quan trọng số một trong sản xuất nông nghiệp của nước ta, chiếm tỷ trọng cao nhất trong giá thành của trồng trọt, trong khi ngành trồng trọt hiện nay đang chiếm từ 64% đến 68% tổng giá trị sản xuất của toàn ngành nông nghiệp. Điều này cho thấy sự tác động rất lớn của chính sách liên quan đến phân bón, trong đó có chính sách thuế đối với sự phát triển nông nghiệp của đất nước. Chính vì vậy, chính sách này cần phải được phân tích, đánh giá thấu đáo, kỹ lưỡng.

Bên cạnh những đánh giá tác động tích cực khi quy định phân bón thuộc đối tượng chịu thuế 5%, cũng có quan điểm còn “băn khoăn”, “lo ngại” điều này sẽ làm giá thành phân bón tăng cao gây ảnh hưởng bất lợi cho nông dân. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng để bảo đảm lợi ích cho cả doanh nghiệp (được khấu trừ thuế) và người dân (không phải chịu mức giá có thuế) thì nên đưa phân bón thuộc đối tượng chịu thuế nhưng với mức thuế suất là 0%. Để làm rõ vấn đề này cần được nhìn nhận, xem xét qua một số đánh giá tác động như sau:

Thứ nhất, về giá thành mặt hàng phân bón:

Khi chịu thuế giá trị gia tăng với mức 5%, người nông dân sẽ mua sản phẩm phân bón với giá thành bao gồm cả thuế 5%. Tuy nhiên, doanh nghiệp sản xuất phân bón sẽ được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào (thông thường là 10%), khi đó, giá thành sản xuất sẽ được giảm xuống, lợi nhuận tăng lên và đây là cơ sở để doanh nghiệp giảm giá sản phẩm hàng hóa, thực hiện khuyến mãi, hậu mãi. Về lâu dài, khi sản xuất phân bón trong nước phát triển, nguồn cung sẽ tăng lên cũng là yếu tố tác động trở lại làm giảm giá thành của sản phẩm. Do đó, nếu chỉ xét trên phương diện thuế thì không thể khẳng định khi áp thuế giá trị gia tăng 5%, giá sản phẩm sẽ tăng cao so với việc không phải chịu thuế, thậm chí giá còn có thể được giảm xuống. Đồng thời, nếu có tăng thì cũng chủ yếu là tăng giá phân bón nhập khẩu nhưng khi đó thì doanh nghiệp trong nước lại được lợi và người nông dân cũng sẽ được hưởng lợi nếu lựa chọn dùng hàng Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến nghi ngại dù được khấu trừ thuế nhưng điều gì có thể bảo đảm doanh nghiệp sẽ giảm giá thành sản phẩm hàng hóa? Có thể thấy, thị trường phân bón vốn đang cạnh tranh rất khốc liệt nên khi có điều kiện giảm giá bán thì doanh nghiệp sẽ phải hạ giá để đẩy mạnh việc bán hàng, tiêu thụ sản phẩm. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trên thị trường mang tính cạnh tranh. Điều này đã được chứng minh trong suốt thời gian qua khi Nhà nước giảm thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8%, các doanh nghiệp đều giảm giá tương ứng với khoản giảm 2% thuế đó, vì nếu không giảm giá sẽ không bán được hàng[1].

Thứ hai, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng 5% đối với mặt hàng phân bón là mức phù hợp, không nên áp dụng mức 0%, bởi lẽ, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đã đánh giá tác động giữa 02 phương án là áp dụng mức thuế 0% và 5% với phân bón cho thấy: với kịch bản thuế suất 0%, theo dự báo, ngân sách nhà nước sẽ giảm thu 1.500 tỷ đồng, còn nếu áp thuế 5%, Nhà nước tăng thu 4.200 tỷ đồng[2]. Điều này có thể thấy, khi áp dụng với mức thuế suất 0%, ngân sách nhà nước bị thiệt hại khá lớn. Khi đó, ngân sách nhà nước phải chi để thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào cho doanh nghiệp sản xuất trong nước, trong khi đó lại không có nguồn thu thuế giá trị gia tăng từ cả phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu.

Từ những phân tích, đánh giá như vậy có thể thấy, quy định áp dụng thuế đối với mặt hàng phân bón 5% là phương án phù hợp có lợi không chỉ cho Nhà nước, cho doanh nghiệp mà còn có lợi cho cả người nông dân. Hy vọng rằng, các quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 nói chung và quy định về áp thuế phân bón 5% nói riêng sẽ thực sự phát huy hiệu quả tích cực trong thực tiễn.

Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, trừ trường hợp quy định về mức doanh thu của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh thuộc đối tượng không chịu thuế tại khoản 25 Điều 5 và Điều 17 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

Uyên Nhi


[1] Tham khảo nguồn: https://tapchitoaan.vn/vi-sao-khi-ap-thue-gtgt-5-lai-tao-dieu-kien-giam-gia-phan-bon12453.html?gidzl=YDXgVOa76Lk8mcfxYHmONOF3RNYV61SAcCLXUPeP5mtDbsGYcqb40vsJCo6MIKLNbfKq8pCowq8NYmiGNm.

[2] Theo ý kiến phát biểu của ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguồn: https://nhandan.vn/ap-muc-thue-vat-0-hay-5-doi-voi-phan-bon-can-phai-can-nhac-that-ky-post819436.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: