Thứ tư 24/06/2026 04:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước từ quy định áp thuế 5% với phân bón

Đây là một trong những điểm mới quan trọng của Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 vừa được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 8, được cộng đồng doanh nghiệp quan tâm, mong đợi.

Bất cập khi phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế

Ngày 26/11/2014, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13. Theo đó, Điều 3 Luật này đã bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 với quy định phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành quy định này cho thấy đã phát sinh những bất cập, hạn chế cần được xem xét, đánh giá lại. Cụ thể:

- Việc quy định mặt hàng phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng nên doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước không được kê khai khấu trừ thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả hoạt động đầu tư, mua sắm tài sản cố định phục vụ cho hoạt động sản xuất phân bón) mà phải tính vào chi phí sản phẩm làm cho giá thành sản xuất phân bón trong nước tăng cao và lợi nhuận giảm.

- Trong khi đó, đối với phân bón nhập khẩu được hưởng lợi do được chuyển sang không chịu thuế nhưng vẫn được hoàn toàn bộ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Điều này đã gây bất lợi lớn cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước, nhất là trong bối cảnh xu thế cung vượt cầu trên thị trường phân bón thế giới giai đoạn 2015 - 2020 (trước thời điểm dịch Covid-19), giá phân bón trên thị trường thế giới giảm mạnh, làm giá thành phân bón sản xuất trong nước không cạnh tranh được với giá phân bón nhập khẩu, nên các doanh nghiệp trong nước đều tăng trưởng âm, một số đơn vị lỗ, có nguy cơ phá sản.

- Nếu còn tiếp tục quy định phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế sẽ làm cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước không cạnh tranh được với phân bón nhập khẩu, dẫn đến các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước phải đóng cửa. Điều này làm cho Việt Nam phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển nền nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực quốc gia, làm suy yếu năng lực sản xuất nông nghiệp, giảm tính cạnh tranh với các nước trong khu vực.

Chính vì vậy, cần phải có giải pháp khắc phục bất cập, giúp các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước phát triển, không bị suy giảm, ngừng sản xuất như giai đoạn trước.

Áp thuế phân bón góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước

Nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế nêu trên, thu hẹp đối tượng không chịu thuế, bảo đảm bình đẳng trong đối xử về thuế giữa ngành sản xuất phân bón với các ngành sản xuất khác trong nước, Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 đã sửa đổi quy định hiện hành theo hướng đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế với mức thuế suất 5%. Áp dụng quy định này, doanh nghiệp sản xuất phân bón sẽ được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Điều này làm giảm áp lực cho doanh nghiệp khi đầu tư, tạo thêm nguồn lực, động lực để ổn định, mở rộng sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, quy định này còn tạo điều kiện để doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. Bởi lẽ, giá sản phẩm phân bón nhập khẩu sẽ tăng lên do phải chịu thuế giá trị gia tăng 5%, trong khi đó, vì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào nên giá thành sản xuất phân bón trong nước sẽ được giảm xuống, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Đồng thời, quy định đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế với thuế suất 5% được đánh giá sẽ hỗ trợ phục hồi sản xuất phân bón trong nước, về dài hạn, sẽ góp phần xây dựng nền công nghiệp sản xuất phân bón trong nước phát triển bền vững, ổn định nguồn cung, không phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu, làm cơ sở cho việc hạ giá thành mặt hàng này, qua đó kích thích sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững.

Băn khoăn tác động ảnh hưởng tới nông dân

Phân bón là loại vật tư nông nghiệp quan trọng số một trong sản xuất nông nghiệp của nước ta, chiếm tỷ trọng cao nhất trong giá thành của trồng trọt, trong khi ngành trồng trọt hiện nay đang chiếm từ 64% đến 68% tổng giá trị sản xuất của toàn ngành nông nghiệp. Điều này cho thấy sự tác động rất lớn của chính sách liên quan đến phân bón, trong đó có chính sách thuế đối với sự phát triển nông nghiệp của đất nước. Chính vì vậy, chính sách này cần phải được phân tích, đánh giá thấu đáo, kỹ lưỡng.

Bên cạnh những đánh giá tác động tích cực khi quy định phân bón thuộc đối tượng chịu thuế 5%, cũng có quan điểm còn “băn khoăn”, “lo ngại” điều này sẽ làm giá thành phân bón tăng cao gây ảnh hưởng bất lợi cho nông dân. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng để bảo đảm lợi ích cho cả doanh nghiệp (được khấu trừ thuế) và người dân (không phải chịu mức giá có thuế) thì nên đưa phân bón thuộc đối tượng chịu thuế nhưng với mức thuế suất là 0%. Để làm rõ vấn đề này cần được nhìn nhận, xem xét qua một số đánh giá tác động như sau:

Thứ nhất, về giá thành mặt hàng phân bón:

Khi chịu thuế giá trị gia tăng với mức 5%, người nông dân sẽ mua sản phẩm phân bón với giá thành bao gồm cả thuế 5%. Tuy nhiên, doanh nghiệp sản xuất phân bón sẽ được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào (thông thường là 10%), khi đó, giá thành sản xuất sẽ được giảm xuống, lợi nhuận tăng lên và đây là cơ sở để doanh nghiệp giảm giá sản phẩm hàng hóa, thực hiện khuyến mãi, hậu mãi. Về lâu dài, khi sản xuất phân bón trong nước phát triển, nguồn cung sẽ tăng lên cũng là yếu tố tác động trở lại làm giảm giá thành của sản phẩm. Do đó, nếu chỉ xét trên phương diện thuế thì không thể khẳng định khi áp thuế giá trị gia tăng 5%, giá sản phẩm sẽ tăng cao so với việc không phải chịu thuế, thậm chí giá còn có thể được giảm xuống. Đồng thời, nếu có tăng thì cũng chủ yếu là tăng giá phân bón nhập khẩu nhưng khi đó thì doanh nghiệp trong nước lại được lợi và người nông dân cũng sẽ được hưởng lợi nếu lựa chọn dùng hàng Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến nghi ngại dù được khấu trừ thuế nhưng điều gì có thể bảo đảm doanh nghiệp sẽ giảm giá thành sản phẩm hàng hóa? Có thể thấy, thị trường phân bón vốn đang cạnh tranh rất khốc liệt nên khi có điều kiện giảm giá bán thì doanh nghiệp sẽ phải hạ giá để đẩy mạnh việc bán hàng, tiêu thụ sản phẩm. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trên thị trường mang tính cạnh tranh. Điều này đã được chứng minh trong suốt thời gian qua khi Nhà nước giảm thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8%, các doanh nghiệp đều giảm giá tương ứng với khoản giảm 2% thuế đó, vì nếu không giảm giá sẽ không bán được hàng[1].

Thứ hai, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng 5% đối với mặt hàng phân bón là mức phù hợp, không nên áp dụng mức 0%, bởi lẽ, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đã đánh giá tác động giữa 02 phương án là áp dụng mức thuế 0% và 5% với phân bón cho thấy: với kịch bản thuế suất 0%, theo dự báo, ngân sách nhà nước sẽ giảm thu 1.500 tỷ đồng, còn nếu áp thuế 5%, Nhà nước tăng thu 4.200 tỷ đồng[2]. Điều này có thể thấy, khi áp dụng với mức thuế suất 0%, ngân sách nhà nước bị thiệt hại khá lớn. Khi đó, ngân sách nhà nước phải chi để thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào cho doanh nghiệp sản xuất trong nước, trong khi đó lại không có nguồn thu thuế giá trị gia tăng từ cả phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu.

Từ những phân tích, đánh giá như vậy có thể thấy, quy định áp dụng thuế đối với mặt hàng phân bón 5% là phương án phù hợp có lợi không chỉ cho Nhà nước, cho doanh nghiệp mà còn có lợi cho cả người nông dân. Hy vọng rằng, các quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 nói chung và quy định về áp thuế phân bón 5% nói riêng sẽ thực sự phát huy hiệu quả tích cực trong thực tiễn.

Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, trừ trường hợp quy định về mức doanh thu của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh thuộc đối tượng không chịu thuế tại khoản 25 Điều 5 và Điều 17 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

Uyên Nhi


[1] Tham khảo nguồn: https://tapchitoaan.vn/vi-sao-khi-ap-thue-gtgt-5-lai-tao-dieu-kien-giam-gia-phan-bon12453.html?gidzl=YDXgVOa76Lk8mcfxYHmONOF3RNYV61SAcCLXUPeP5mtDbsGYcqb40vsJCo6MIKLNbfKq8pCowq8NYmiGNm.

[2] Theo ý kiến phát biểu của ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguồn: https://nhandan.vn/ap-muc-thue-vat-0-hay-5-doi-voi-phan-bon-can-phai-can-nhac-that-ky-post819436.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: