Thứ sáu 13/03/2026 05:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tập quán - Một loại nguồn bất thành văn được áp dụng để giải quyết vụ việc dân sự

Trong bài viết này, tác giả đã đi sâu phân tích những nhận thức chung về tập quán từ khái niệm cho đến phân loại, đưa ra thực tế áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự bao gồm: (i) Áp dụng tập quán nghề tại địa phương nơi xảy ra tranh chấp để giải quyết; (ii) Áp dụng tập quán đạo đức xã hội để giải quyết. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong việc áp dụng tập quán, như: (i) Về định danh tập quán; (ii) Về chứng minh tập quán và cơ chế chứng minh tập quán; (iii) Về thứ tự ưu tiên áp dụng tập quán so với các loại nguồn khác.

Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao định nghĩa: “Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng”. Theo khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tập quán được xác định theo những trường hợp cụ thể với những điều kiện nhất định: “Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ rang để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự”.

1. Nhận thức chung về tập quán

Khái niệm về tập quán nói chung và tập quán pháp nói riêng đã được nhiều tác giả đề cập với các góc độ khác nhau: “Tập quán là thói quen được hình thành đã lâu trong đời sống, được mọi người tuân theo”[1]. Tập quán là những quy tắc xử sự được hình thành một cách tự phát lâu ngày thành thói quen trong đời sống xã hội hoặc giao lưu quốc tế, đang tồn tại và được các chủ thể thừa nhận như là quy tắc xử sự chung. “Tập quán và thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng”[2].

Dưới góc độ pháp lý, tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống, xã hội, trong sản xuất và trong sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng có tập quán đó thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng[3]. Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao định nghĩa: “Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng”. Theo khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tập quán được xác định theo những trường hợp cụ thể với những điều kiện nhất định: “Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự”.

Về phần mình, tác giả cho rằng, khi nói về tập quán, bao giờ cũng được hiểu theo nghĩa chung, đó là những cách hành xử được hình thành một cách tự phát và tồn tại lâu dài nên đã thành thói quen trong đời sống xã hội hoặc giao lưu quốc tế, đang tồn tại và được các chủ thể thừa nhận như là quy tắc xử sự chung. Mặt khác, khi nhìn nhận tập quán theo góc độ pháp lý thì đó là tập quán pháp. Tập quán pháp là tập quán (theo nghĩa chung) đã được Nhà nước thừa nhận và áp dụng khi nó đã đáp ứng được các đòi hỏi của pháp luật. Trong lĩnh vực pháp lý, khi nói tới tập quán, người ta thường liên hệ tới một loại nguồn của pháp luật hay tập quán pháp mà ở đó bao gồm các quy tắc ứng xử được thiết lập trong các hoàn cảnh xã hội cụ thể[4].

Đời sống xã hội là một bức tranh đa dạng, nhiều màu sắc, trên một đất nước có nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống. Mỗi một vùng, miền, địa phương, tộc người có truyền thống văn hóa riêng, vì thế cũng có thể hình thành nên các phong tục tập quán của riêng họ. Vì vậy, tập quán được coi là nguồn áp dụng của pháp luật dân sự tương đối đa dạng, tuy nhiên, cần định danh tập quán theo các loại sau đây:

Tập quán địa phương: Là tập quán của cộng đồng dân cư tại một địa phương, một vùng miền nhất định. Đây là tập quán được hình thành theo thói quen sinh hoạt trong một cộng đồng dân cư xác định theo phạm vi địa giới mà thói quen đó được thừa nhận và tuân theo. Phạm vi địa giới có thể là một vùng (thuộc nhiều tỉnh khác nhau nhưng có cùng các đặc điểm về địa lý tự nhiên, xã hội như vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng Bắc bộ, vùng Tây Nguyên…); có thể là một miền (gồm nhiều tỉnh khác nhau nhưng có chung các đặc điểm về địa lý tự nhiên như miền núi Tây bắc, miền đồng bằng Nam bộ, miền đồng bằng Bắc bộ hoặc là miền Bắc, miền Trung, miền Nam). Vì vậy, tập quán địa phương còn có thể phải xác định rõ hơn là tập quán vùng hay tập quán miền.

Tập quán dân tộc: Là tập quán của cộng đồng người trong cùng một dân tộc thiểu số. Đây là tập quán được hình thành theo thói quen tâm lý của những người cùng một dân tộc và được coi như nét văn hóa, điểm nhấn về bản sắc của cộng đồng dân tộc đó, thói quen tâm lý có thể hình thành từ điều kiện thực tế về cuộc sống của dân tộc đó trong một vùng miền nhất định nhưng có thể vượt khỏi phạm vi vùng miền đó. Nói cách khác, những người cùng một dân tộc có cùng một tập quán mặc dù có thể họ sống ở các vùng, thậm chí miền khác nhau.

Tập quán nghề: Là tập quán được hình thành từ quá trình lao động của một cộng đồng người cùng hoạt động trong một ngành nghề nhất định. Mỗi một ngành nghề hoạt động trong một lĩnh vực, môi trường, điều kiện khác nhau và vì vậy đều có tính chất, đặc điểm riêng biệt. Theo đó, các thói quen nghề nghiệp được hình thành và được các thành viên trong cộng đồng nghề nghiệp tôn trọng và tuân theo. Tuy nhiên, thói quen nghề nghiệp ở mỗi một địa phương có thể sẽ khác nhau. Chẳng hạn như thói quen trong nghề đánh cá biển là tập quán nghề nghiệp nhưng có thể sẽ khác nhau giữa những ngư dân vùng biển phía Bắc với ngư dân vùng biển phía Nam. Vì vậy, khi xác định tập quán nghề cần phải gắn với địa phương nơi thói quen đó được hình thành.

2. Áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự

Thứ nhất, vụ áp dụng tập quán nghề tại địa phương nơi xảy ra tranh chấp để giải quyết

Nói đến việc áp dụng tập quán nghề tại địa phương vào xét xử án dân sự không thể không nhắc đến vụ án “Cây chà 19 tiếng” bởi vụ án này được coi là điển hình cho việc áp dụng tập quán nghề tại địa phương trong thực tiễn xét xử tại nước ta. Đây là vụ án tranh chấp cây chà và quyền khai thác điểm đánh bắt hải sản xa bờ giữa bà Chiêm Thị Mỹ Loan (chủ tầu đánh bắt hải sản) là nguyên đơn với ông La Văn Thanh (là bị đơn). Nội dung vụ án được tóm tắt như sau: “Bà Chiêm Thị Mỹ Loan đã thuê ông Trang Văn Hường (tức Huệ) làm tài công một tầu đánh bắt hải sản. Ông Hường đã lập một “cây chà” bằng các vật liệu như dừa, đá, sọt tre và dây nhựa để thu hút cá và các hải sản khác đến trú ngụ, tạo thuận lợi cho việc đánh bắt hải sản và đã khai thác đánh bắt hải sản tại khu vực này từ năm 1992. Cây chà cách bờ biển huyện Long Hải 19 tiếng đồng hồ nên gọi là “cây chà 19 tiếng”. Sau khi ông Hường nghỉ, ông Trần Văn Hùng được thuê làm tài công. Đến năm 1999, bà Loan phát hiện ra ông Hùng đã cho ông La Văn Thanh cây chà này và kiện đòi ông Thanh trả lại cây chà, cũng như đòi lại quyền khai thác địa điểm đã đặt cây chà.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện trên, Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn. Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ lời khai bị đơn thừa nhận cây chà vốn là của nguyên đơn nên xử chấp nhận yêu cầu, buộc bị đơn trả lại cây chà cho nguyên đơn. Sau khi xét xử phúc thẩm, cơ quan thi hành án địa phương có công văn phản ánh khó khăn trong thi hành bản án, đặc biệt là đơn của 30 ngư dân huyện Long Đất cho biết, theo tập quán địa phương, người chủ cây chà nếu bỏ không khai thác trong 03 tháng, thì đương nhiên người khác có quyền khai thác.

Trong Quyết định giám đốc thẩm số 93/GĐT-DS ngày 27/5/2002, Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định đây là một yêu cầu về quyền tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và nhận xét: “Bà Loan đòi ông Thanh trả lại cây chà nhưng không chứng minh được việc ông Thanh đang chiếm giữ tài sản thuộc sở hữu của bà Loan. Ông Hùng là người đã đặt chà và khai thác cây chà xác định khi ông nhượng địa điểm đánh bắt cho ông Thanh thì cây chà không còn. Chính bà Loan thừa nhận chi phí làm chà đã được trừ vào chi phí mỗi chuyến đi biển. Do vậy, dù cây chà còn tồn tại khi ông Thanh tiếp nhận điểm đánh bắt thì cũng không thuộc sở hữu của bà Loan. Về quyền ưu tiên khai thác điểm đánh bắt hải sản: Đây là vùng biển xa bờ, pháp luật chưa quy định về quyền ưu tiên khai thác nên quyền ưu tiên phải được xác định theo tập quán. Theo xác minh của chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn (Ban Hải sản thị trấn Long Hải), thì tài công là người có quyền chọn và cho người khác điểm đánh bắt; địa điểm đã bị bỏ hơn 03 tháng không khai thác thì người khác có quyền khai thác”. Vì vậy, Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã xác định trong Quyết định giám đốc thẩm rằng, ông Thanh khai thác hải sản tại địa điểm có cây chà tranh chấp là phù hợp với tập quán, không trái pháp luật, không vi phạm quyền lợi của bà Loan để hủy bản án phúc thẩm, trả hồ sơ để xét xử lại theo hướng bác yêu cầu của nguyên đơn.

Thứ hai, vụ áp dụng tập quán đạo đức xã hội để giải quyết

Vụ tranh chấp tài sản giữa cụ Trần Thị Xăng và cụ Nguyễn Văn Hiển, do bà Nguyễn Thị Ngăn đại diện (là nguyên đơn) với chị Phan Thị Cẩm Vân (là bị đơn). Theo đơn khởi kiện ngày 30/3/2010 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày: Do cụ Xăng và cụ Hiển già yếu, không còn sức lao động, nên chị Phan Thị Cẩm Vân là cháu ngoại của hai cụ về sống chung nhà, chị Vân hứa sẽ chăm sóc phụng dưỡng hai cụ đến khi qua đời. Vì vậy, hai cụ làm hợp đồng tặng cho chị Vân toàn bộ diện tích đất 297m2 thuộc thửa 574, tờ bản đồ số 16 thị trấn Hậu Nghĩa cùng với nhà cửa gắn liền trên đất vào năm 2007. Thế nhưng, sau khi nhận được đất và nhà, thì chị Vân ngược đãi, thậm chí đánh đuổi hai cụ ra khỏi nhà, không nuôi dưỡng hai cụ như lời hứa ban đầu. Hiện tại cụ Hiển, cụ Xăng không có nơi nương tựa, nên hai cụ yêu cầu chị Vân trả lại quyền sử dụng đất và nhà cất trên đất cho hai cụ.

Bị đơn chị Phan Thị Cẩm Vân trình bày: Do chị sống chung nhà với ông bà ngoại là cụ Xăng và cụ Hiển nên vào năm 2007, cụ Hiển, cụ Xăng có cho chị diện tích đất và tài sản trên đất như hai cụ trình bày. Việc hai cụ cho chị nhà đất có làm hợp đồng tặng cho theo quy định của pháp luật. Từ trước khi cho đất cũng như sau khi cho đất, hai cụ cùng sống chung với gia đình vợ chồng chị. Nay do những lời xúi giục, tác động của người khác thì hai cụ đòi lấy lại đất với lý do chị ngược đãi ông bà là hoàn toàn sai sự thật. Do đó, chị không đồng ý trả lại đất và nhà mà cụ Hiển, cụ Xăng đã cho chị.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2010/DS-ST ngày 26/8/2010, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã bác yêu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị Xăng và cụ Nguyễn Văn Hiển do bà Nguyễn Thị Ngăn đại diện đòi chị Phan Thị Cẩm Vân trả lại quyền sử dụng đất 297m2 và tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa 574, tờ bản đồ 16 tọa lạc tại Ô 6, khu B, thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An do chị Vân đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 315/2010/DS-PT ngày 01/12/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị Xăng và cụ Nguyễn Văn Hiển do bà Nguyễn Thị Ngăn đại diện đòi chị Phan Thị Cẩm Vân trả lại quyền sử dụng đất 297m2 và tài sản gắn liền trên đất. Buộc chị Phan Thị Cẩm Vân và anh Nguyễn Thanh Dũng trả lại cho cụ Trần Thị Xăng và cụ Nguyễn Văn Hiển 297m2 đất và căn nhà, tài sản gắn liền trên đất.

Quyết định giám đốc thẩm số 12/2012/DS-GĐT của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã nhận định: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thì nhà đất đang tranh chấp nguyên là của vợ chồng cụ Nguyễn Văn Hiển, Trần Thị Xăng. Ngày 10/5/2007, cụ Xăng, cụ Hiển lập hợp đồng tặng cho cháu ngoại là chị Phan Thị Cẩm Vân nhà và đất nói trên. Chị Vân đã làm thủ tục chuyển dịch tài sản từ cụ Xăng, cụ Hiển sang chị Vân và ngày 18/6/2007 chị Vân được Ủy ban nhân dân huyện Đức Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 574, tờ bản đồ số 16 diện tích 297m2.

Theo quy định tại Điều 467 và các điều từ 722 đến 726 Bộ luật Dân sự năm 2005, thì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Xăng, cụ Hiển với chị Vân là hợp đồng hợp pháp và các bên đã thực hiện xong, chị Vân có quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu của cụ Hiển, cụ Xăng đòi chị Vân trả lại nhà đất đã tặng cho chị Vân là có căn cứ, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu đòi tài sản của cụ Hiển, cụ Xăng là không có căn cứ. Tuy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 10/5/2007 không có quy định về điều kiện của bên tặng cho đối với bên được tặng cho, nhưng thực tế thì cụ Hiển, cụ Xăng ngoài nhà đất đã tặng cho chị Vân thì không còn nhà đất nào khác, nên lời khai của cụ Hiển, cụ Xăng về điều kiện hai cụ đặt ra khi cho chị Vân nhà đất là chị Vân phải có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng, hiếu kính với cụ Xăng, cụ Hiển là có cơ sở và cũng phù hợp với tập quán đạo đức xã hội.

Mặt khác, cụ Xăng, cụ Hiển và vợ chồng, con cái chị Vân vẫn chung một hộ tịch và do cụ Xăng là chủ hộ, nên theo quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 3 Luật Người cao tuổi năm 2009, khoản 2 Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì hai cụ có quyền được đảm bảo về chỗ ở, có quyền quyết định sống chung với con, cháu hoặc sống riêng theo ý muốn; cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà ngoại. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận xét rằng, chị Vân vẫn tha thiết mong ông bà sống vui vẻ với chị, chị vẫn làm tròn trách nhiệm của người cháu đối với ông bà ngoại cho đến khi ông bà qua đời mà không ràng buộc pháp lý bằng quyết định của bản án đối với chị Vân - người được hưởng lợi về tài sản do được ông bà ngoại là cụ Xăng, cụ Hiển như tự nguyện của chị Vân là không đúng, vì sự tự nguyện này của chị Vân vừa là trách nhiệm pháp lý theo luật định, vừa là trách nhiệm theo đạo lý.

Vì vậy, Hội đồng giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét thấy cần phải hủy cả bản án dân sự sơ thẩm và bản án dân sự phúc thẩm để xét xử sơ thẩm lại vụ án để đảm bảo quyền lợi cho cụ Xăng, cụ Hiển. Nếu hai cụ yêu cầu được sống riêng, thì cần buộc chị Vân phải dành cho hai cụ một diện tích nhà đất hợp lý để hai cụ sống độc lập tại nhà đất nói trên cho đến khi hai cụ qua đời (quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phần dành cho hai cụ vẫn thuộc của chị Vân).

Theo đó, quyết định giám đốc thẩm đã hủy Bản án dân sự phúc thẩm 315/2010/DS-PT ngày 01/12/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 95/DS-ST ngày 26/8/2010 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

3. Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong việc áp dụng tập quán

Một là, về định danh tập quán

Sự sống động và đa dạng của quan hệ dân sự cùng với nhiều sắc thái dân tộc và vùng miền khác nhau đã hình thành một hệ thống đa dạng các tập quán. Việc lựa chọn tập quán phù hợp để áp dụng và định danh cụ thể tập quán đó là cần thiết. Chẳng hạn, trong trường hợp việc tranh chấp giữa hai ngư dân sống ở hai địa phương khác nhau và mỗi người đều có tập quán nghề, đồng thời tại địa phương xảy ra tranh chấp cũng có tập quán thì phải chọn tập quán nghề tại địa phương nơi xảy ra tranh chấp để giải quyết.

Trong vụ án “Cây chà 19 tiếng” thì tập quán (nếu có) “người chủ cây chà nếu bỏ không khai thác trong 03 tháng thì đương nhiên người khác có quyền khai thác” là tập quán nghề hay tập quán địa phương? Tác giả cho rằng, tập quán này không phải là tập quán địa phương bởi đó chỉ là thói quen của những người cùng hoạt động về nghề biển mà không phải là thói quen của cộng đồng người tại địa phương đó. Trước hết, đây là thói quen của những người cùng làm nghề biển nên tập quán trên được xác định là tập quán nghề. Tuy nhiên, chỉ những người hoạt động về nghề biển tại địa phương đó mới thừa nhận và tuân thủ thói quen này nên tập quán nói trên cần được định danh là “tập quán nghề tại địa phương”.

Vụ tranh chấp tài sản giữa cụ Trần Thị Xăng và cụ Nguyễn Văn Hiển, do bà Nguyễn Thị Ngăn đại diện (là nguyên đơn) với chị Phan Thị Cẩm Vân (là bị đơn) được Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao nhận định và giải quyết bằng Quyết định giám đốc thẩm số 12/2012/DS-GĐT là việc áp dụng tập quán hay lẽ công bằng? Mặc dù trong Quyết định giám đốc thẩm số 12/2012/DS-GĐT có nhận định “thực tế thì ngoài nhà đất đã tặng cho chị Vân, thì cụ Hiển, cụ Xăng không còn nhà đất nào khác, nên lời khai của hai cụ về điều kiện đặt ra khi cho chị Vân nhà đất là phải có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng, hiếu kính với hai cụ là có cơ sở và cũng phù hợp với tập quán đạo đức xã hội”. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, vụ án này được áp dụng lẽ công bằng và đạo đức xã hội để giải quyết mà không phải là áp dụng tập quán. Vì vậy, nếu Tòa án cho rằng có loại tập quán đạo đức xã hội, thì cần định danh nó để có đủ cơ sở, điều kiện áp dụng cho những trường hợp khác. Theo đó, cần có văn bản pháp luật để định danh cụ thể về các tập quán như: (i) Tập quán địa phương; (ii) Tập quán dân tộc; Tập quán nghề; (iii) Tập quán nghề tại địa phương; (iv) Tập quán đạo đức xã hội.

Hai là, về chứng minh tập quán và cơ chế chứng minh tập quán

Việc viện dẫn tập quán là quyền của các bên đương sự, nhưng người viện dẫn tập quán phải có nghĩa vụ chứng minh sự tồn tại của tập quán, đồng thời việc thẩm tra của Tòa án là hết sức cần thiết. Thông thường, bên viện dẫn tập quán phải chứng minh sự tồn tại của nó bằng việc dẫn ra các bằng chứng cho việc trong thực thế đã có người thực hiện theo thói quen đó dù ít nhất chỉ một lần. Khi bàn về vấn đề chứng minh sự tồn tại của tập quán, trong bài viết của mình đã đăng trên một tạp chí luật, Ch. Pamboukis cho rằng, việc chứng minh là đủ khi làm rõ được trước đó trong cùng hoàn cảnh các bên ứng xử theo cùng một cách[5]. Thực tiễn giải quyết vụ án nói trên cho thấy, khi áp dụng tập quán, Tòa án chỉ căn cứ vào sự viện dẫn tập quán (xác nhận của cơ quan có thẩm quyền cũng chỉ là sự viện dẫn) mà chưa có sự chứng minh tập quán nên phán quyết của Tòa án làm cho đương sự chưa thực sự “tâm phục, khẩu phục”. Vì vậy, cần phải có một cơ chế chứng minh tập quán, trong đó xác định người nào viện dẫn tập quán, người đó phải chứng minh sự tồn tại của tập quán trong thực tế.

Ba là, về thứ tự ưu tiên áp dụng tập quán so với các loại nguồn khác

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về thứ tự áp dụng các loại nguồn của luật dân sự, thì áp dụng tập quán đứng ở vị trí thứ hai (sau áp dụng trực tiếp Bộ luật Dân sự). Theo đó, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán[6]. Như vậy, tư tưởng của các nhà lập pháp Việt Nam coi tập quán đóng vai trò thứ hai trong các loại nguồn của luật dân sự[7].

Thực tiễn trên thế giới, trong nhiều trường hợp tập quán được ưu tiên áp dụng vượt lên trên cả luật thành văn. Chẳng hạn như, thực tiễn áp dụng Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 cho thấy, trong một số trường hợp tập quán và thói quen thương mại được ưu tiên áp dụng hơn các quy định của Công ước quốc tế[8] hoặc ở một số địa phương của Tây Ban Nha không áp dụng Bộ luật Dân sự để giải quyết những vấn đề mà địa phương đó đã có tập quán.

Bản thân các phong tục, tập quán là những nét văn hóa riêng mang đậm tính truyền thống của các dân tộc. Việc duy trì và phát triển các phong tục, tập quán một phần là bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, một phần là dung hòa tình cảm, gắn kết và tăng cường sự đoàn kết giữa người dân với nhau trong cộng đồng. Áp dụng tập quán để giải quyết các vụ việc dân sự là một trong các phương pháp bảo tồn và duy trì chúng. Tập quán tốt đẹp sẽ đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng tình đoàn kết nội bộ, giải quyết các tranh chấp bằng con đường hoà giải, giải quyết linh hoạt, kịp thời, có tình, có lý các mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư, phù hợp cho việc thực hiện pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật[9].

PGS.TS. Phạm Văn Tuyết
Đại học Luật Hà Nội



[1]. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1996, tr. 1014.

[2]. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý, 2006, Từ điển Luật học, Nxb. Bách Khoa - Tư Pháp, Hà Nội, 2006, tr. 693.

[3]. Bách khoa toàn thư mở, Wikipedia.org, truy cập ngày 16/10/2020.

[4]. Ngô Huy Cương, Tập quán pháp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử, truy cập ngày 17/10/2020.

[5]. Ch. Pamboukis, “The concept and function of usages in the United Nation Convention on the International Sale of Goods”, Journal of Law and Commerce, Vol. 25:107. Nguồn: Ngô Huy Cương, Tập quán pháp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử, truy cập ngày 19/10/2020.

[6]. Xem khoản 2 Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7]. Có quan điểm cho rằng “thỏa thuận” cũng được coi là nguồn của luật dân sự. Tuy nhiên, người viết bài này cho rằng, Tòa án phải căn cứ vào quy định của luật hoặc các nguồn khác để ra phán quyết công nhận hay không công nhận thỏa thuận đó. Vì vậy, “thỏa thuận” không được coi là nguồn của pháp luật.

[8]. Ch. Pamboukis, “The concept and function of usages in the United Nation Convention on the International Sale of Goods”, Journal of Law and Commerce, Vol. 25:107, p. 109. Nguồn: Ngô Huy Cương, Tập quán pháp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử, truy cập ngày 19/10/2020.

[9]. Ngô Đức Thịnh, 2014, Luật tục trong đời sống các tộc người ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội. tr. 246.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: