Chủ nhật 03/05/2026 01:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thách thức an ninh phi truyền thống và giải pháp đảm bảo an ninh quốc gia hiện nay

Trong bối cảnh hiện nay, do mặt trái của sự phát triển cùng với xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, vấn đề an ninh quốc gia không chỉ giới hạn trong việc ngăn chặn, ứng phó với các nguy cơ chiến tranh mà còn bao hàm nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống. Các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng mang tính đa dạng và phức tạp hơn, không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà còn mang tính xuyên quốc gia, đòi hỏi phải có sự nỗ lực chung của nhiều quốc gia để ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.


Bài viết “Thách thức an ninh phi truyền thống và giải pháp đảm bảo an ninh quốc gia hiện nay” tác giả Đào Xuân Công đã đi sâu phân tích thách thức an ninh phi truyền thống trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh. Tiếp đến, tác giả đưa ra 05 giải pháp nhằm bảo vệ an ninh quốc gia trong thời gian tới


An ninh quốc gia là bảo vệ lợi ích quốc gia và loại bỏ các mối đe dọa tới lợi ích đó. An ninh quốc gia bao hàm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Tùy thuộc vào bối cảnh, thời điểm khác nhau mà những thách thức an ninh phi truyền thống nổi lên đe dọa tới an ninh quốc gia. Trong bối cảnh hiện nay, do mặt trái của sự phát triển cùng với xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, vấn đề an ninh quốc gia không chỉ giới hạn trong việc ngăn chặn, ứng phó với các nguy cơ chiến tranh mà còn bao hàm nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, ô nhiễm, suy thoái môi trường, cạn kiệt nguồn nước, sử dụng các vũ khí sinh thái, khủng bố, dịch bệnh, di cư tự do, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao… Các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng mang tính đa dạng và phức tạp hơn, không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà còn mang tính xuyên quốc gia, đòi hỏi phải có sự nỗ lực chung của nhiều quốc gia để ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.

1. Thách thức an ninh phi truyền thống

An ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia là vấn đề tối hệ trọng của mọi quốc gia. Các nước trên thế giới đều có chiến lược, chủ trương, quyết sách tổ chức và bố trí lực lượng, xây dựng hệ thống biện pháp bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia. Trong chiến lược an ninh quốc gia, hầu hết các nước đều coi trọng cả phòng ngừa và tiến công, gắn kết phòng ngừa và tiến công, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng và biện pháp đấu tranh bảo vệ an ninh đất nước, đặc biệt là ở các vùng chiến lược quan trọng. Đối với Việt Nam, bảo vệ an ninh quốc gia là bảo vệ thể chế chính trị, an ninh lãnh thổ, an ninh xã hội - dân cư, an ninh kinh tế, thông tin - truyền thông, môi trường, đấu tranh chống các loại tội phạm có tổ chức, tội phạm công nghệ cao, chống khủng bố... Các thế lực thù địch và bọn tội phạm đang gia tăng các hoạt động chống phá ta trên nhiều lĩnh vực, ở trong nước và cả ở bên ngoài.

Những chỉ số về mức độ đe dọa an ninh, an toàn trên thế giới và nhiều khu vực, quốc gia dường như đang gia tăng bởi những tác động đa chiều của suy thoái, khủng hoảng của kinh tế thế giới, những chính sách tăng cường tìm kiếm lợi ích, tranh giành ảnh hưởng, chi phối các không gian, khu vực địa - chính trị chiến lược của các nước lớn và nhiều vấn đề khác có tính thời đại. Bất ổn chính trị - xã hội dẫn đến xu hướng gia tăng bạo lực, xung đột, thay đổi thiết chế lãnh đạo ở nhiều nước châu Phi, Trung Đông với sự can dự của các thế lực bên ngoài rất phức tạp; xung đột sắc tộc, tôn giáo và tranh chấp biên giới, lãnh thổ tiếp tục diễn ra ở nhiều khu vực; các hoạt động khủng bố quốc tế, tội phạm công nghệ cao, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, nguy cơ các thảm họa hạt nhân, suy thoái môi trường sống… tiếp tục diễn biến phức tạp và chưa được kiểm soát một cách hiệu quả... Bối cảnh an ninh thế giới nêu trên cho thấy, các quốc gia, trong đó có Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức an ninh, cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là cơ hội thuận lợi để chúng ta thực hiện đi tắt, đón đầu, tiến thẳng vào lĩnh vực công nghệ mới, tranh thủ thành tựu khoa học và công nghệ, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và thu hẹp khoảng cách phát triển. Tuy nhiên, chúng ta đang và sẽ phải đối mặt với những hiểm họa từ thiên tai, sự cố, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, dịch bệnh cùng với những vấn đề toàn cầu như: Buôn lậu, buôn bán người, vận chuyển trái phép vũ khí, ma túy, cướp biển, khủng bố quốc tế, ô nhiễm môi trường, tội phạm kinh tế quốc tế, nhất là tội phạm công nghệ cao… Những thách thức này đã tác động, đe dọa nghiêm trọng, trực tiếp đến quốc phòng, an ninh của đất nước, nhất là vấn đề an toàn thông tin, an ninh mạng, kinh tế, chính trị, văn hóa... với tính chất ngày càng gay gắt, phức tạp, lâu dài; quy mô, phạm vi ngày càng toàn diện, rộng lớn, xuyên quốc gia, khu vực và toàn cầu, đòi hỏi mọi cá nhân, tổ chức trong nước và các quốc gia, tổ chức quốc tế phải hợp tác, chung tay để ngăn chặn, ứng phó. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, bên cạnh thời cơ, thuận lợi, chúng ta cũng đang phải đối mặt với không ít thách thức, trong đó có thách thức từ an ninh phi truyền thống trên các lĩnh vực.

Về lĩnh vực kinh tế, tác động xấu từ những hiểm họa của an ninh phi truyền thống làm cho nền kinh tế nước ta suy thoái, kém phát triển, gây ra những hệ lụy nguy hiểm, khó lường. Trong đó, biến đổi khí hậu làm cho nhiệt độ tăng, nước biển dâng… là nguyên nhân, “thủ phạm” gây nên các trận bão, lũ lớn, phá hoại mùa màng và các công trình giao thông, công trình xã hội, cơ sở sản xuất, làm ô nhiễm môi trường, dịch bệnh. Tác động của an ninh phi truyền thống trong lĩnh vực kinh tế để lại hậu quả rất nặng nề, nó làm cho giá cả các mặt hàng của đất nước ngày một leo thang, nhân dân lao động phải đối mặt với nạn thất nghiệp, đói nghèo, tham nhũng, tội phạm, dịch bệnh tràn lan, môi trường ô nhiễm... Nhà nước phải chi phí lớn về ngân sách để khắc phục.

Về lĩnh vực chính trị, tác động của an ninh phi truyền thống làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền các cấp, nhất là trong việc thực hiện các chủ trương, quyết sách về phát triển kinh tế - xã hội, gây tâm lý nhân dân hoang mang, hoài nghi, thiếu niềm tin đối với chế độ.

Về văn hóa - xã hội, xu thế mở cửa hội nhập ngày càng sâu, rộng hiện nay là điều kiện cho các luồng tư tưởng, văn hóa khác nhau của nước ngoài du nhập vào nước ta. Vì thế, chúng ta phải chịu tác động không nhỏ từ văn hóa, đạo đức, lối sống độc hại, không lành mạnh du nhập từ nước ngoài; thậm chí làm lệch chuẩn về tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống của giới trẻ và biến dạng bản sắc văn hóa truyền thống nghìn năm văn hiến của dân tộc Việt Nam.

Về lĩnh vực quốc phòng - an ninh, những tác động từ các hiểm họa của an ninh phi truyền thống đã ảnh hưởng lớn đến nguồn lực tăng cường quốc phòng - an ninh, trực tiếp là xây dựng lực lượng, thế trận, các công trình phòng thủ và các mặt bảo đảm cho hoạt động của lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, bảo vệ Tổ quốc trong thời bình, hoạt động tác chiến khi đất nước có chiến tranh, xung đột. Mặt khác, trong điều kiện bùng phát của công nghệ thông tin, truyền thông, đang xuất hiện một loại tội phạm mới rất nguy hiểm, đe dọa trực tiếp tới quốc phòng - an ninh quốc gia, đó là: Tội phạm an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao. Các đối tượng này tìm cách đánh cắp các thông tin mật về an ninh quốc gia, về quân sự, quốc phòng, đối ngoại của đất nước, gây tổn hại nghiêm trọng đến quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế của ta đối với các quốc gia, khu vực. Thậm chí, tội phạm an ninh mạng có thể sử dụng những loại vi-rút độc hại để phá hủy, làm tê liệt hệ thống máy tính, trung tâm chỉ huy, điều hành, gây ảnh hưởng lớn đến công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu trong hệ thống máy tính nối mạng ở các cơ quan, đơn vị trọng yếu. Đặc biệt, một số quốc gia phát triển còn sử dụng lực lượng “tình báo mạng”, ngoài việc xâm nhập đánh cắp thông tin còn có thể tiến hành tác chiến mạng, tác chiến điện tử khi cần thiết.

2. Một số giải pháp bảo vệ an ninh quốc gia trong thời gian tới

Các yếu tố vừa phân tích ở trên sẽ tác động nghiêm trọng đến an ninh quốc gia Việt Nam, đồng thời sẽ đe doạ đến ổn định chính trị, an ninh quốc gia nếu không có đối sách, giải pháp kịp thời. Để làm tốt công tác bảo vệ an ninh quốc gia trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, nâng cao ý thức, trách nhiệm cho mọi tầng lớp nhân dân về bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu phát triển của Cách mạng công nghiệp 4.0. Quán triệt, giáo dục sâu rộng mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cho toàn xã hội, tập trung vào địa bàn trọng điểm, chiến lược về quốc phòng, an ninh, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo. Tổ chức nghiên cứu, đề xuất, triển khai các giải pháp ứng phó với mối đe dọa an ninh phi truyền thống từ tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 để làm cơ sở giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cả hệ thống chính trị.

Hai là, chủ động phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Tập trung nâng cao hiệu quả công tác nắm tình hình, kịp thời xác định và chủ động có biện pháp phòng ngừa, tấn công đẩy lùi và ngăn chặn “từ xa” các mối đe dọa an ninh quốc gia, không để bị động bất ngờ. Đấu tranh vô hiệu hóa cơ sở trong nước của các tổ chức phản động lưu vong. Chủ động phòng ngừa, loại trừ các điều kiện mà tổ chức, cá nhân khủng bố có thể lợi dụng để phát triển lực lượng và hoạt động tại Việt Nam. Tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp thực hiện nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các sai phạm; giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp xảy ra trên địa bàn cơ sở. Đấu tranh hiệu quả với các hoạt động chống phá của các phần tử cơ hội, chống đối chính trị. Rà soát, bổ sung hoàn thiện và triển khai thực hiện hiệu quả các đề án, phương án về công tác an ninh. Nắm vững và phối hợp thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc của Đảng. Củng cố thế trận an ninh nhân dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở các vùng chiến lược, vùng tôn giáo, biên giới, vùng sâu, vùng xa.

Ba là, tăng cường công tác đảm bảo an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh chính trị nội bộ.

Tham mưu với Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo các ban, ngành thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác tổ chức cán bộ, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, phòng chống địch xâm nhập, cài cắm nội gián, tác động chuyển hóa từ bên trong. Tập trung đấu tranh, loại bỏ những biểu hiện tha hóa về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống… gắn với đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao tinh thần cảnh giác, tăng sức đề kháng về tư tưởng chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tập trung thực hiện các giải pháp đảm bảo an ninh kinh tế góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tái cơ cấu nền kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, thông tin mà trọng tâm là quản lý hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản và Internet, mạng xã hội. Tăng cường công tác bảo vệ an ninh thông tin, trọng tâm là tham mưu, đề xuất ban hành, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng tiêu chuẩn, quy chế về an toàn, an ninh mạng thông tin quốc gia.

Bốn là, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng đòi hỏi của tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội hiện nay và trong thời gian tới.

Trước mắt cần tập trung xây dựng và hoàn thiện các luật, pháp lệnh quan trọng, cấp bách là cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia gồm: Luật Công an nhân dân, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Căn cước công dân, Luật Biểu tình, Luật Bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Luật Truy nã tội phạm, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Luật Phòng chống tội phạm có tổ chức, Pháp lệnh Cảnh sát cơ động. Chủ động nghiên cứu đề xuất luật hóa một số biện pháp nghiệp vụ của lực lượng công an đối với việc kiểm soát thông tin, liên lạc của bọn tội phạm qua đường bưu chính, viễn thông, Internet, mạng xã hội. Tham mưu và phối hợp xây dựng các văn bản luật làm cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý các báo, trang tin điện tử, blog và các hình thức liên kết với tư nhân trong hoạt động báo chí, xuất bản. Rà soát để đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan đến thực hiện chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo giữa lực lượng Công an nhân dân với các ngành khác.

Năm là, xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng các cơ quan tư pháp vững mạnh.

Tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, nhất là Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cuộc vận động “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa, vì nhân dân phục vụ”, gắn với phong trào học tập, thực hiện 06 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân.

Củng cố, xây dựng tổ chức Đảng, cấp ủy các cấp trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo mọi mặt công tác. Đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức quần chúng trong Công an nhân dân. Tăng cường cải cách hành chính trong nội bộ lực lượng Công an nhân dân. Xây dựng lực lượng báo chí, tuyên truyền trong Ngành Công an nhân dân trở thành công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước trên mặt trận tư tưởng, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chấn chỉnh việc chấp hành pháp luật trong công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý các loại tội phạm, làm tốt công tác đào tạo, bổ nhiệm các chức danh tư pháp trong Công an nhân dân.

Sáu là, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, góp phần tăng cường tiềm lực bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Chú trọng hợp tác với các nước ASEAN trong đào tạo, huấn luyện, diễn tập, khắc phục hậu quả thảm họa, thiên tai, hỗ trợ nhân đạo; đối phó với biến đổi khí hậu, thảm họa thiên nhiên bằng các chương trình, kế hoạch cụ thể, phù hợp… góp phần giảm thiểu tác động của các thách thức an ninh phi truyền thống từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ đối ngoại, phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo an ninh, quốc phòng; hoạch định mới các chủ trương, chính sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chủ động mở rộng, tăng cường các hoạt động đối ngoại của lực lượng Công an trên cơ sở đường lối độc lâp, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa. Củng cố và phát triển quan hệ với các nước láng giềng, các nước trong khu vực phục vụ bảo vệ an ninh quốc gia và lợi ích của dân tộc. Tham mưu cho Đảng, Nhà nước xử lý tốt mối quan hệ đan xen với các nước lớn, các lợi ích chiến lược, các tình huống nhạy cảm, không để xảy ra đối đầu, xung đột vũ trang theo hướng: Giữ vững nguyên tắc nhưng luôn tỉnh táo, sáng suốt, linh hoạt, mềm dẻo trong việc giải quyết các quan hệ quốc tế, đặc biệt với nước lớn để bảo vệ lợi ích quốc gia.

ThS. Đào Xuân Công

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: