Thứ ba 06/10/2026 07:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tham nhũng vặt - Nhận diện và xử lý

Thời gian gần đây bên cạnh những vụ đại án, trọng án về tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng đến nền kinh tế, đến uy tín, hình ảnh quốc gia, xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng, chính quyền, thì những vụ tham nhũng “nhỏ, vặt” cũng gây nhiều nhức nhối, bức xúc trong nhân dân.

1. Thực trạng tham nhũng vặt

Đối với tham nhũng vặt, mặc dù xuất hiện nhiều trên thực tế nhưng chưa có một con số thống kê cụ thể về tổng trị giá tài sản qua những vụ, việc tham nhũng vặt. Tham nhũng vặt mới dừng lại ở những cảm nhận, phản ánh của người dân qua các phương tiện truyền thông, qua các buổi tiếp xúc cử tri, qua những hình ảnh vi phạm của cán bộ, công chức được người dân ghi lại. Tổng giá trị tài sản của hành vi tham nhũng này khó để đo đếm chính xác nhưng ước lượng là rất lớn, gây những hệ lụy xấu cho nền hành chính, ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin và nền đạo đức công vụ.

Trong các lĩnh vực, ngành nghề dễ nảy sinh tham nhũng vặt có thể kể tới lĩnh vực tài nguyên, môi trường, giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai, chuyển nhượng, chuyển đổi quyền sử dụng đất của người dân. Theo kết quả khảo sát của một tổ chức nước ngoài, 85% người dân và 30% doanh nghiệp kêu phải mất phí ngoài luồng khi làm các thủ tục liên quan đến đất đai. Còn trong thực tế 65% vụ việc tranh chấp, phản ánh, tố cáo các sai phạm là liên quan đến đất đai. Kết quả khảo sát tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc - các tỉnh, thành phố có nhiều khiếu kiện về đất đai cho thấy, 84% số hộ chuyển nhượng giấy chứng nhận nói hồ sơ của họ có sự trục trặc, 46% số hộ xin cấp giấy chứng nhận đi nhờ dịch vụ trung gian vì sợ phức tạp. 72,1% người dân ở Hà Nội, 74% người dân ở TP. Hồ Chí Minh, 68,3% người dân ở Vĩnh Phúc cho rằng có người thân thụ lý hồ sơ sẽ nhanh hơn nhiều[1]. Còn theo kết quả điều tra, khảo sát Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) cho thấy tình trạng gây nhũng nhiễu trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có xu hướng gia tăng ở các địa phương. Theo đó, có khoảng 44% số người làm thủ tục cấp sổ đỏ phải “bôi trơn” mới làm xong thủ tục[2]. Số tiền người dân bỏ ra chi phí cho việc “bôi trơn” không ngừng tăng lên, phản ánh những nhũng nhiễu của nhiều cơ quan, cán bộ khi giải quyết công việc, sự vụ. Theo Báo cáo PAPI, trong 07 năm qua, người Việt đang ngày càng dễ dàng chi một khoản tiền lớn để “bôi trơn” khi sử dụng các dịch vụ thiết yếu. Ở giai đoạn 2011 - 2012, số tiền trung bình khiến người dân có thể trình báo chuyện hối lộ với cơ quan chức năng là khoảng 05 triệu đồng. Chỉ sau vài năm, con số này tăng gấp 05 lần: 27,5 triệu đồng[3].

Bên cạnh lĩnh vực đất đai thì tình trạng tham nhũng vặt cũng xảy ra đối với Ngành Y tế. Trong bối cảnh nhiều cơ sở y tế quá tải, bệnh tình người dân có những diễn biến phức tạp thì tình trạng người nhà bệnh nhân “lo lót” cho bác sĩ, y tá để được thuận tiện trong khám, chữa và điều trị bệnh trở nên phổ biến. Mặc dù trong những năm qua Ngành Y tế đưa ra nhiều biện pháp để phòng ngừa, ngăn cấm tình trạng đưa phong bì, nhận hối lộ trong môi trường y tế nhưng hiện tượng này không thuyên giảm mà có xu hướng phổ biến, công khai. Theo kết quả PAPI năm 2017, khoảng 36% người được hỏi khẳng định phải chi thêm tiền để được quan tâm khi đi khám, chữa bệnh. Tỷ lệ người dân bị vòi vĩnh sẵn sàng tố giác hành vi này rất thấp, chỉ khoảng 3%. Họ sợ bị trù úm, cô lập và lo ngại không đem lại kết quả gì[4].

Đối với lực lượng cảnh sát giao thông, trật tự, một ngành đối diện với nhiều nguy hiểm, khó khăn, thử thách nhưng cũng đầy cám dỗ. Nhiều cảnh sát giao thông trong quá trình thực thi nhiệm vụ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để “làm luật”, nhận mãi lộ của người tham gia giao thông, vận chuyển hàng hóa trên nhiều cung đường khi có hành vi vi phạm. Nhiều vụ việc đã được người dân ghi lại, phản ánh đến các cơ quan chức năng để xử lý. Hiện tượng mãi lộ, nhận tiền phạt trực tiếp, không ghi biên bản của một số cảnh sát giao thông gây bức xúc dư luận. Theo báo cáo khảo sát xã hội học “tham nhũng dưới góc nhìn của người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức” do Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam công bố, đã đưa ra kết quả “cảnh sát giao thông là ngành có nạn tham nhũng phổ biến nhất”[5].

Còn đối với Ngành Hải quan, một ngành liên quan trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh tế, thương mại, thường xuyên làm việc, giải quyết sự vụ của các doanh nghiệp, công ty, nhà đầu tư trong việc xuất nhập khẩu các mặt hàng cũng từng để xảy ra những vụ việc tham nhũng vặt được các cơ quan thông tấn, báo chí phản ảnh thời gian qua. Theo thông tin của Ngành Hải quan, năm 2017, số công chức viên chức bị xử lý kỷ luật trong Ngành Hải quan là 69 người; trong 05 tháng đầu năm 2018, Ngành Hải quan có 33 trường hợp bị kỷ luật[6]. Còn theo thông tin từ Hội thảo công bố kết quả khảo sát mức độ hài lòng của doanh nghiệp về việc thực hiện thủ tục hành chính trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2018 do Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức tại Hà Nội, cho biết qua cuộc khảo sát 3.061 doanh nghiệp, trong đó 46% từ khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, 33% thuộc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và 17% từ các doanh nghiệp nhà nước, kết quả cho thấy các doanh nghiệp đánh giá chi phí, trong đó có chi phí ngoài quy định (thường được gọi là phí bôi trơn) luôn là gánh nặng của doanh nghiệp Việt Nam. Qua kết quả khảo sát của VCCI cho thấy, 52% doanh nghiệp cho biết không bị phân biệt đối xử nếu không chi trả chi phí ngoài quy định; 34% doanh nghiệp không biết có bị phân biệt đối xử hay không; chỉ có 15% doanh nghiệp cho rằng sẽ bị phân biệt đối xử nếu không trả chi phí ngoài quy định (năm 2015 là 31%). Trong số các doanh nghiệp nhận thấy bị phân biệt đối xử, hình thức phổ biến nhất là kéo dài thời gian làm thủ tục (93%). 69% phản hồi cho rằng doanh nghiệp có thể bị gây khó khăn trong lần làm thủ tục sau. Các hình thức phân biệt khác bao gồm yêu cầu giấy tờ, chứng từ không theo quy định (48%) và thái độ không văn minh lịch sự (41%). Về mức độ thực hiện kỷ cương của cán bộ, công chức hải quan, phần lớn ý kiến đánh giá mức độ thực hiện kỷ cương và tác phong làm việc của công chức ở mức bình thường, dao động từ 51% đến 56% ở cả năm tiêu chí[7].

Sở dĩ tham nhũng vặt có đất sống và trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội hiện nay bởi có nhiều nguyên nhân, từ “kẽ hở” của luật pháp; từ cơ chế, chính sách thiếu đồng bộ, chặt chẽ; cơ chế kiểm soát quyền lực và sự giám sát của các cơ quan chức năng chưa đủ mạnh; đạo đức công vụ của cán bộ, công chức không được thực thi đầy đủ; tâm lý và nhu cầu muốn giải quyết công việc của người dân (muốn được nhanh, được ưu tiên, quan tâm)… khiến cho “chân dết” của tham nhũng vặt lan nhanh đến nhiều cơ quan, đơn vị, để lại những hậu quả nghiêm trọng, cần những cơ chế và biện pháp đủ mạnh để ngăn chặn, đẩy lùi, tạo ra môi trường công sở kỷ cương, liêm chính, tận tụy, góp phần tạo ra mô hình Nhà nước kiến tạo ở nước ta hiện nay.

2. Một số giải pháp phòng, chống tham nhũng vặt

Để công tác phòng, chống tham nhũng nói chung cũng như tham nhũng vặt nói riêng cần sự vào cuộc một cách quyết liệt, đồng bộ của các cấp, các ngành từ xây dựng cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý, thi hành pháp luật đến những biện pháp xử lý nghiêm minh, mang tính răn đe. Nhưng trước hết cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ cơ bản như:

Thứ nhất, cần quán triệt sâu sắc tinh thần chỉ đạo của Đảng về công tác phòng, chống tham nhũng được thể hiện qua các nghị quyết chuyên đề như: Nghị quyết số 14/NQ-TW ngày 15/5/1996 của Bộ Chính trị khóa VII về lãnh đạo cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng; Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 21/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/5/2012 tại Hội nghị lần thứ 05 Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XI về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 03 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí... trong đó, cần thống nhất quan điểm: Đấu tranh chống tham nhũng là một bộ phận cấu thành quan trọng của toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân, góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, xây dựng Đảng và kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, tích cực và có trọng tâm, trọng điểm.

Thứ hai, tuyên truyền, phổ biến và giáo dục ý thức tuân thủ Hiến pháp và pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và toàn thể nhân dân, trong đó đặc biệt quan tâm đến những đạo luật như: Bộ luật Hình sự; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Tố cáo; Luật Tiếp cận thông tin; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; Luật Đấu giá tài sản; Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; Luật Quản lý nợ công; Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước... nhằm cảnh báo, phòng ngừa, răn đe những hành vi có ý định tham nhũng vặt và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung những điều, khoản quy định trong luật, nghị định, thông tư về việc nhận diện, xử lý tham nhũng vặt, tạo sự thống nhất trong nhận thức, hành động để có biện pháp phòng ngừa, xử lý.

Phát huy vai trò giám sát của các cơ quan chức năng trong việc kiểm soát quyền lực của cán bộ, công chức có quyền khi thực thi công vụ, bởi quyền lực sẽ sinh ra tham nhũng. Cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ với những tiêu chuẩn quy định rõ ràng nhằm phát huy năng lực, sở trường của cán bộ cũng như khắc phục những hiện tượng nhũng nhiễu nảy sinh.

Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Chú trọng đến việc nâng cao đạo đức công vụ cho cán bộ công chức, viên chức theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 04 Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 04 Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các đề án, chiến lược của Chính phủ về xây dựng văn hóa công sở, văn hóa công vụ, nâng cao tinh thần, thái độ, trách nhiệm tận tụy, liêm chính, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, đất nước của người cán bộ trong thời kỳ mới.

Thứ tư, quan tâm, chăm lo và nâng cao đời sống của cán bộ công chức, viên chức với những cơ chế, chính sách đãi ngộ phù hợp với vị trí, năng lực việc làm. Đổi mới chính sách về tiền lương, tạo môi trường làm việc khoa học để cán bộ yên tâm công tác, đảm bảo cuộc sống sinh hoạt và nhu cầu hàng ngày để cán bộ không dám, không thể tham nhũng. Không ngừng bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ thi hành công vụ.

Thứ năm, cải cách mạnh mẽ nền hành chính công vụ, thực hiện tốt mô hình Chính phủ điện tử, Chính phủ hành động với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin, tiến tới số hóa trong lĩnh vực hành chính, dịch vụ công, cắt giảm những thủ tục phiền hà, những văn bản chồng chéo, loại bỏ những quy định đã trở nên bất cập, lạc hậu; bổ sung những quy định mới với tầm nhìn dài hạn, dự tính được những tình huống có thể nảy sinh, tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để nền hành chính vận hành một cách khách quan, công bằng, chính xác, minh bạch. Sự hình thành Chính phủ điện tử, thành phố, đô thị thông minh, minh bạch hóa thông tin, hồ sơ, thủ tục giấy tờ, sẽ hạn chế đến mức tối đa những hành vi tham nhũng vặt. Cùng với việc minh bạch hóa quá trình tiếp nhận và xử lý dịch vụ công thì việc thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản của cán bộ, công chức cũng cần được giám sát, quản lý chặt chẽ. Hạn chế việc sử dụng tiền mặt, hướng đến việc chi trả, thanh toán, giao dịch thông qua hệ thống ngân hàng nhằm kiểm soát tốt nguồn thu của cán bộ, công chức.

Thứ sáu, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hướng về nhân dân để phục vụ vì quyền lợi và hạnh phúc của nhân dân, lắng nghe tâm tư nguyện vọng và những phản hồi, góp ý của người dân để điều chỉnh nhằm đáp ứng tốt yêu cầu, đòi hỏi mà thực tiễn cuộc sống đặt ra. Bên cạnh đó, người dân phải không ngừng nâng cao hiểu biết về kiến thức pháp luật, về quyền và trách nhiệm của cá nhân; thực hiện nếp sống văn minh và ứng xử có văn hóa khi đến giao dịch nơi công sở; tránh tâm lý đám đông, tránh bị xúi giục, kích động. Cùng hỗ trợ, hợp tác tích cực với cơ quan công quyền để giải quyết tốt công việc của cá nhân, gia đình và xã hội.

TS. Nguyễn Huy Phòng

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


[1] Nguồn: http://www.nhandan.org.vn/kinhte/item/13457002-.html.

[2] Nguồn: http://enternews.vn/bo-truong-tran-hong-ha-dep-nan-boi-tron-cap-so-do-97665.html.

[3] Nguồn: http://dangcongsan.vn/tieu-diem/giai-phap-nao-xoa-bo-nan-nhung-nhieu-boi-tron-502782.html.

[4] http://thanhtra.com.vn/tin-tuc-chong-tham-nhung/trong-nuoc/hi-hoa-khi-nguoi-viet-chai-ly-voi-tham-nhung_t114c1080n134641.

[5] https://dantri.com.vn/xa-hoi/canh-sat-giao-thong-nganh-nhieu-tham-nhung-nhat-1353808386.htm.

[6] http://vneconomy.vn/33-can-bo-hai-quan-bi-ky-luat-trong-5-thang-dau-nam-2018060910404987.htm.

[7] http://cafef.vn/chi-phi-boi-tron-van-la-ganh-nang-cua-nguoi-kinh-doanh-20190108154149747.chn.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: