Chủ nhật 15/03/2026 00:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích trong Bộ luật Lao động năm 2019

Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2019 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Lao động năm 2019) gồm 17 chương, 220 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021 với nhiều nội dung thay đổi liên quan đến cả người lao động và người sử dụng lao động.

Trong đó, các quy định về thẩm quyền và trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích gắn liền với đình công đã có những thay đổi với cơ chế linh hoạt hơn, tạo thuận lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động. Cụ thể:

Thứ nhất, giải quyết tranh chấp lao động thể về lợi ích tại Hội đồng trọng tài lao động không còn là thủ tục bắt buộc

Đối với tranh chấp lao động tập thể (gồm tranh chấp lao động tập thể về quyền và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích), thì Bộ luật Lao động năm 2012 và Bộ luật Lao động năm 2019 đều quy định giải quyết thông qua hoà giải viên lao động là thủ tục đầu tiên và bắt buộc. Trường hợp hoà giải viên lao động hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc một trong các bên không thực hiện thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp tiếp theo tuỳ theo loại tranh chấp lao động tập thể. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: Đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền là yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Toà án giải quyết (khoản 2 Điều 192); đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết hoặc tiến hành thủ tục đình công (khoản 3 Điều 196). Đây là một trong những điểm mới và là sự thay đổi căn bản trong trình tự giải quyết tranh chấp lao đông tập thể về lợi ích. Bộ luật Lao động năm 2012 quy định sau khi hoà giải viên lao động giải quyết tranh chấp lao động về lợi ích mà các bên không đạt được mục đích, các bên không được thực hiện thủ tục đình công mà tranh chấp phải được Hội đồng trọng tài lao động giải quyết. Tập thể lao động chỉ được tiến hành thủ tục để đình công khi Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hoà giải không thành hoặc lập biên bản hoà giải thành mà một trong các bên không thực hiện thoả thuận. Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép người lao động lựa chọn thực hiện thủ tục để đình công mà không bắt buộc phải thông qua Hội đồng trọng tài lao động. Đình công được xem là “vũ khí” được pháp luật trao cho bên yếu thế - người lao động để cân bằng trong quan hệ lao động, thúc đẩy quá trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. Khi hoà giải giữa người lao động và người sử dụng lao động không đạt được sự thống nhất, thì việc tiếp tục hoà giải ở một cơ quan khác là không cần thiết, gây tốn thời gian và công sức của các bên. Người lao động có thể lưạ chọn đình công như là một trong các công cụ hữu hiệu để thúc đẩy quá trình thương lượng với người sử dụng lao động. Hội đồng trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích khi có sự đồng thuận của các bên tranh chấp. Nếu một trong các bên không đồng ý đưa vụ tranh chấp ra Hội đồng trọng tài lao động, thì thẩm quyền của cơ quan này không phát sinh.

Thứ hai, thời hạn giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích của Hội đồng trọng tài

Bộ luật Lao động năm 2012 quy định thời hạn để Hội đồng trọng tài giải quyết là 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu. Tuy nhiên, với thời hạn này, thì Bộ luật Lao động năm 2019 quy định chỉ là thời hạn để Hội đồng trọng tài lao động thành lập ban trọng tài lao động (khoản 2 Điều 197). Theo đó, ban trọng tài lao động thành lập có số lượng tối thiểu là một trọng tài (trong trường hợp các bên tranh chấp lựa chọn cùng một trọng tài viên) (điểm c khoản 4 Điều 185); tối đa là ba trọng tài viên, làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số. Tuy nhiên, Bộ luật Lao động năm 2019 chưa quy định chi tiết về việc thành lập và hoạt động của ban trọng tài lao động như cách thức bên tranh chấp chọn trọng tài viên, nhiệm vụ, quyền hạn của trọng tài viên…. Do đó, Chính phủ cần ban hành nghị định quy định chi tiết về vấn đề này. Ban trọng tài lao động có thời hạn 30 ngày để giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. Như vậy, khi các bên tranh chấp đồng thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp, nếu hết thời hạn 07 ngày mà ban trọng tài lao động chưa được thành lập hoặc quá 30 ngày kể từ ngày thành lập ban trọng tài lao động mà ban này không ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp hoặc người sử dụng lao động không thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp của ban trọng tài lao động thì bên tranh chấp có quyền tiến hành thủ tục đình công (khoản 4 Điều 197). Tuy nhiên, Bộ luật Lao động năm 2019 chưa quy định cụ thể thời gian để người sử dụng lao động thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp của ban trọng tài lao động để làm căn cứ xác định thời hạn người lao động có thể thực hiện thủ tục đình công. Điều này vốn đã được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 206 Bộ luật Lao động năm 2012 là 05 ngày kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành.

Thứ ba, chủ thể lãnh đạo đình công

Theo Điều 201 Bộ luật Lao động năm 2012, thì ở những nơi có tổ chức công đoàn cơ sở, đình công phải do tổ chức công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo đình công; ở những nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do tổ chức công đoàn cấp trên tổ chức và lãnh đạo đình công theo đề nghị của người lao động. Điều 198 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công. Tổ chức đại diện người lao động bao gồm công đoàn và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thì đây lần đầu tiên Bộ luật Lao động quy định thêm một tổ chức có chức năng bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động bên cạnh hệ thống công đoàn. Theo đó, người lao động có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp bên cạnh quyền thành lập, gia nhập công đoàn thuộc hệ thống Công đoàn Việt Nam theo Luật Công đoàn. Đây được xem là bước tiến bộ đáng kể đáp ứng các tiêu chuẩn lao động quốc tế cốt lõi được quy định trong các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), có sự cải thiện rõ rệt về các quy định liên quan đến chống lao động cưỡng bức, bảo vệ quyền của người lao động cũng như nội luật hoá và thực thi cam kết quốc tế trong các hiệp định thương mại Việt Nam tham gia trong thời gian gần đây. Chính sự thay đổi này đã làm cho chủ thể tổ chức và lãnh đạo đình công cũng có sự thay đổi, góp phần hạn chế các cuộc đình công bất hợp pháp vốn đã tồn tại lâu nay do có sự vi phạm về chủ thể tổ chức và lãnh đạo đình công. Tuy nhiên, sự mở rộng chủ thể tổ chức và lãnh đạo đình công như hiện nay cũng tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp giữa các tổ chức này trong quá trình hoạt động nói chung cũng như trong vấn đề tổ chức, lãnh đạo, định hướng các cuộc đình công trong khuôn khổ luật định.

Thứ tư, các trường hợp đình công bất hợp pháp

Nhằm hạn chế tối đa thiệt hại do đình công bất hợp pháp gây ra cho người lao động, người sử dụng lao động và cho cả nền kinh tế, pháp luật lao động luôn quy định ranh giới rõ ràng giữa đình công hợp pháp và đình công bất hợp pháp. Điều 215 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định 05 trường hợp đình công bất hợp pháp là: (i) Đình công không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích; (ii) Đình công vượt ra ngoài phạm vi doanh nghiệp; (iii) Vi phạm quy định về thời điểm đình công; (iv) Đình công tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định; (v) Đình công khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công. Điều 204 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định 06 trường hợp đình công bất hợp pháp: (i) Đình công không thuộc trường hợp người lao động có quyền đình công; (ii) Đình công không do tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công; (iii) Vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành đình công; (iv) Khi tranh chấp lao động tập thể đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết; (v) Tiến hành đình công trong trường hợp không được đình công; (vi) Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công của cơ quan có thẩm quyền.

Như vậy, theo Bộ luật Lao động năm 2019 khi đình công không thuộc trường hợp người lao động có quyền đình công thì đó là đình công bất hợp pháp. Điều 199 Bộ luật này quy định người lao động chỉ có quyền đình công đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích khi các bên tranh chấp đã đưa ra hoà giải viên lao động giải quyết mà tranh chấp vẫn còn hoặc khi các bên đã thống nhất đưa vụ tranh chấp ra Hội đồng trọng tài mà tranh chấp vẫn chưa được giải quyết thoả đáng. Như vậy, đình công chỉ có thể phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, điều này đã được thừa nhận trong Bộ luật Lao động năm 2012. Nếu đình công hình thành không phải từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích sẽ thuộc trường hợp đình công bất hợp pháp. Điều 199 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định trường hợp người lao động có quyền đình công khi các bên đưa vụ tranh chấp ra hoà giải viên lao động nhưng hoà giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải (05 ngày kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan có thẩm quyền). Tuy nhiên, trong trường hợp khi hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành mà một trong hai bên tranh chấp không thực hiện thoả thuận trong biên bản hoà giải thành thì người lao động có quyền thực hiện thủ tục để đình công lại không được quy định ở Điều 199. Trong khi đó, tại khoản 3 Điều 196 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định trường hợp này người lao động có quyền tiến hành thủ tục để đình công. Như vậy, Điều 199 và khoản 3 Điều 188 chưa có sự đồng nhất trong việc quy định quyền đình công của người lao động.

Mặc dù, Bộ luật Lao động năm 2012 có quy định cụ thể tổ chức có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công, nhưng khi quy định về hợp đình công bất hợp pháp lại không có trường hợp đình công vi phạm chủ thể tổ chức và lãnh đạo đình công. Trong khi đó, thực tế các vụ đình công không do công đoàn tổ chức và lãnh đạo diễn ra khá phổ biến. Khắc phục hạn chế này, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định đình công không do tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công thuộc trường hợp đình công bất hợp pháp.

Điều 222 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định đình công không đúng trình tự, thủ tục (lấy ý kiến của tập thể lao động, ra quyết định và thông báo đình công) không thuộc trường hợp đình công bất hợp pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền ra quyết định tuyên bố đình công vi phạm trình tự thủ tục và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chủ trì giải quyết. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định nếu người lao động vi phạm trình tự thủ tục đình công thuộc trường hợp đình công bất hợp pháp. Về mặt lý luận, đình công là quyền của người lao động, nhưng đình công thường gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, xã hội, an ninh trật tư... Pháp luật lao động đa số ghi nhận quyền này của người lao động nhưng quyền này thường được quy định là “vũ khí cuối cùng” của người lao động thông qua quy định về trình tự thủ tục tiến hành đình công. Ngay khi xảy ra tranh chấp, các bên buộc phải đưa vụ tranh chấp ra cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nếu tranh chấp vẫn tồn tại thì các bên có thể thực hiện trình tự, thủ tục để đình công.

Đình công là hậu quả của quá trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể không thành, vì vậy người lao động chỉ được phép đình công khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp nhưng tranh chấp không được giải quyết hiệu quả. Đình công sẽ bất hợp pháp khi rơi các trường hợp vi phạm điều kiện này. Bộ luật Lao động năm 2012 quy định tập thể lao động được chỉ phép đình công sau khi đã trải qua hai bước hòa giải là của hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động trước khi được phép đình công nhằm đảm bảo đình công là “vũ khí cuối cùng” của tập thể lao động khi đã trải qua các giải pháp ôn hòa nhưng tranh chấp vẫn không được giải quyết thỏa đáng. Pháp luật Việt Nam quy định chặt chẽ về thời điểm có quyền đình công, tất cả các cuộc đình công tự phát sẽ bị coi là bất hợp pháp. Tuy nhiên, thực tế trong thời gian qua các cuộc đình công ở Việt Nam hầu hết là đình công bất hợp pháp do vi phạm quy định về điều kiện này. Việc quy định chặt chẽ về thời điểm có quyền đình công làm cho tập thể lao động khó có thể đáp ứng được điều kiện này nên đã khiến cho quy định của pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống và đình công bất hợp pháp ngày càng trở nên phổ biến. Bộ luật Lao động năm 2019 đã rút gọn thủ tục giải quyết tranh chấp lao động, chỉ bắt buộc giải quyết tại hoà giải viên lao động, nếu tranh chấp giải quyết không thành các bên có thể tiến hành thủ tục đình công.

Như vậy, Bộ luật Lao động năm 2019 có nhiều điểm mới về thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp tập thể về lợi ích so với Bộ luật Lao động năm 2012. Những điểm mới này đã tạo tính linh hoạt, đơn giản hoá và tạo thuận lợi hơn cho các bên trong giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích - loại tranh chấp luôn tiềm ẩn nguy cơ hình thành đình công. Hi vọng rằng, với những thay đổi trong Bộ luật Lao động năm 2019, tranh chấp lao động tập thể về lợi ích sẽ được giải quyết hiệu quả, hạn chế nguy cơ hình thành đình công, nhất là đình công bất hợp pháp.

ThS. Trương Thị Thanh Trúc
Đại học Thủ Dầu Một

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: