Thứ sáu 15/05/2026 17:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thi hành quy định về bảo vệ Hiến pháp trong Hiến pháp năm 2013

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả bàn luận về các quy định bảo vệ Hiến pháp trong Hiến pháp năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thi hành quy định về bảo vệ Hiến pháp.

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả bàn luận về các quy định bảo vệ Hiến pháp trong Hiến pháp năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thi hành quy định về bảo vệ Hiến pháp.

Abstract: In this paper, the author discusses provisions of Constitution protection in the Constitution of 2013 and existing legal documents, and from that point, assesses the real situation and suggests some solutions for further improvement of the implementing provisions of the Constitution protection.

1. Nội dung bảo vệ Hiến pháp và quy định về bảo vệ Hiến pháp trong Hiến pháp năm 2013

1.1. Nội dung về bảo vệ Hiến pháp

Với vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của quốc gia, Hiến pháp cần được bảo vệ chống lại mọi hành vi vi phạm. Bảo vệ Hiến pháp chính là bảo vệ chủ quyền của Nhân dân, bảo vệ nền tảng pháp lý của Nhà nước và những giá trị trường tồn, cao quý nhất trong xã hội.

Bảo vệ Hiến pháp là tổng hợp các hoạt động được tiến hành bởi các cơ quan, cá nhân mà Hiến pháp quy định nhiệm vụ, quyền hạn nhằm bảo đảm sự tôn trọng và thi hành Hiến pháp, ngăn ngừa và xử lý mọi hành vi vi phạm Hiến pháp. Nội dung bảo vệ Hiến pháp bao gồm:

Thứ nhất, giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc gia nhập

Đây là hoạt động xem xét tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, tính hợp hiến của hành vi không ban hành văn bản theo thẩm quyền. Trên cơ sở đó, cơ quan có thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp sẽ loại trừ, vô hiệu hóa văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không phù hợp hoặc trái với Hiến pháp hoặc ra quyết định đề nghị cơ quan nhất định phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền mà Hiến pháp đã quy định.

Thứ hai, giám sát việc tuân theo Hiến pháp của các cơ quan, cá nhân được Hiến pháp trao quyền

Các thiết chế bảo vệ Hiến pháp xem xét tính hợp hiến trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, cá nhân được Hiến pháp trao quyền; xử lý tất cả những hành vi vi phạm Hiến pháp một cách nghiêm minh, kịp thời. Thông qua đó đảm bảo các cơ quan, cá nhân được Hiến pháp trao quyền tôn trọng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước theo quy định của Hiến pháp.

Thứ ba, giải thích Hiến pháp

Hiến pháp chứa đựng những nguyên tắc và khung pháp lý rất rộng, trừu tượng, ổn định trong thời gian dài, cần phải được bảo vệ và phát huy thông qua việc giải thích chính thức. GS.TS. Trần Ngọc Đường cho rằng: “Bảo vệ và phát huy các giá trị của Hiến pháp bằng hoạt động giải thích Hiến pháp có ý nghĩa chính trị - pháp lý cực kỳ quan trọng. Trước hết, thông qua giải thích chính thức, nội dung và ý nghĩa của các quy định của Hiến pháp được hiểu một cách thống nhất, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể. Theo đó, Hiến pháp phát huy được vai trò của mình là nhân tố đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của một chế độ chính trị - xã hội, là nền tảng pháp lý của một nhà nước dân chủ, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”[1].

1.2. Quy định về bảo vệ Hiến pháp trong Hiến pháp năm 2013

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Lời nói đầu của Hiến pháp năm 2013 viết: “Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là sự khẳng định rõ ràng rằng: Ở Việt Nam, Nhân dân là chủ thể quyền lực tối cao. Hiến pháp - văn bản chính trị xác định phạm vi quyền lực mà Nhân dân trao cho Nhà nước, đồng thời là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà nước, do Nhân dân xây dựng nên. Lời nói đầu này cũng thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động xây dựng với hoạt động thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu tốt đẹp, cao cả mà Nhân dân luôn mong muốn hướng tới, đó là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Cũng là lần đầu tiên, Hiến pháp có điều khoản quy định trực tiếp về bảo vệ Hiến pháp. Khoản 2 Điều 119 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp”. Trên cơ sở điều khoản này, mỗi cơ quan nhà nước trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Điều khoản này cũng chính thức quy định trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp của toàn thể Nhân dân đã được nêu trong Lời nói đầu. Đồng thời, quy định “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định” đã tạo căn cứ hiến định cho việc Quốc hội ban hành một đạo luật riêng về bảo vệ Hiến pháp. Đây là tiền đề quan trọng cho việc thiết lập cơ sở pháp lý đầy đủ, rõ ràng về mục đích, nguyên tắc, nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, quy trình, thủ tục... bảo vệ Hiến pháp của các chủ thể.

Hiến pháp năm 2013 quy định về hoạt động bảo vệ Hiến pháp của các chủ thể như sau:

Quốc hội “thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp... của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử Quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập” (khoản 2 Điều 70); Quốc hội “bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp...” (khoản 10 Điều 70).

Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Giải thích Hiến pháp (khoản 2 Điều 74); “giám sát việc thi hành Hiến pháp... của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập” (khoản 3 Điều 74); “đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp... và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất” (khoản 4 Điều 74); “bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp” (khoản 7 Điều 74).

Thủ tướng Chính phủ: “Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp...; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp..., đồng thời đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ” (khoản 4 Điều 98).

2. Thực trạng thi hành các quy định về bảo vệ Hiến pháp trong Hiến pháp năm 2013

2.1. Kết quả thể chế hóa các quy định về bảo vệ Hiến pháp trong Hiến pháp năm 2013

Thi hành các quy định về bảo vệ Hiến pháp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Quốc hội đã ban hành các văn bản: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2015, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014...

(i) Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có các quy định nhằm bảo vệ Hiến pháp đó là: Quy định việc bảo đảm tính hợp hiến là một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (khoản 1 Điều 5); quy định chủ thể phải bảo đảm về tính hợp hiến của dự thảo văn bản và nội dung được phân công (điểm c khoản 2 và khoản 4 Điều 54); quy định về chủ thể, nội dung, thời hạn thẩm định tính hợp hiến đối với các loại văn bản quy phạm pháp luật (các khoản 1, 2, 3 Điều 39; điểm b khoản 3 Điều 58; điểm c khoản 3 Điều 88; điểm a khoản 3 Điều 92; điểm c khoản 3 Điều 98); quy định chủ thể, nội dung, thời hạn thẩm tra tính hợp hiến đối với các loại văn bản quy phạm pháp luật (khoản 1 Điều 63, Điều 65, khoản 6 Điều 74, điểm d khoản 3 Điều 124, Điều 136); quy định các trường hợp, nguyên tắc giải thích Hiến pháp, thẩm quyền đề nghị, thủ tục giải thích Hiến pháp (khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 159); quy định về giám sát tính hợp hiến (khoản 1 Điều 163, các khoản 2, 3 Điều 164); quy định về kiểm tra tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật (các khoản 1, 2 Điều 165).

(ii) Luật Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về giám sát nhằm bảo vệ Hiến pháp của các chủ thể sau:

- Quốc hội giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp; giám sát tối cao hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;

- Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Hiến pháp; giám sát hoạt động của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước;

- Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình;

- Thường trực Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Hội đồng nhân dân cấp dưới; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp; giúp Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của Hội đồng nhân dân.

(iii) Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015

Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 khẳng định và đặt lên hàng đầu nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong tổ chức thi hành Hiến pháp, trước hết là nhiệm vụ, quyền hạn “ban hành kịp thời và đầy đủ các văn bản pháp luật để thi hành Hiến pháp... và để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao”, đồng thời Chính phủ phải “bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và của chính quyền địa phương; kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1 Điều 6). Bên cạnh đó, với tư cách là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn “quyết định các biện pháp để tổ chức thi hành Hiến pháp...” (khoản 2 Điều 6); lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Hiến pháp...; bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực và các nguồn lực khác để thi hành Hiến pháp... Tổng hợp, đánh giá tình hình thi hành Hiến pháp, pháp luật và báo cáo với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước theo quy định của pháp luật.

(iv) Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014

Khoản 7 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: “Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp...”.

2.2. Hạn chế của việc thể thế hóa quy định về bảo vệ Hiến pháp trong Hiến pháp năm 2013

Một số hạn chế có thể kể đến là: Chưa ban hành Luật về cơ chế bảo vệ Hiến pháp; chưa có quy định giám sát tính hợp hiến đối với luật, nghị quyết của Quốc hội; quy định về nội dung bảo vệ Hiến pháp còn hạn hẹp, chưa toàn diện, chủ yếu tập trung vào giám sát tính hợp hiến các văn bản quy phạm pháp luật; quy trình, thủ tục và phương thức giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật và hành vi của cơ quan, cá nhân Hiến pháp trao quyền chưa cụ thể.

3. Giải pháp tiếp tục thi hành quy định về bảo vệ Hiến pháp năm 2013

Để tiếp tục thi hành quy định về bảo vệ Hiến pháp ở nước ta hiện nay cần quán triệt quan điểm về hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được ghi nhận tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII: “...Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật”[2]. Quá trình này cần được tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình thích hợp, vừa bảo đảm tính liên tục của cơ chế bảo vệ Hiến pháp, vừa tiếp thu kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam. Cụ thể:

Một là, đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội để thực hiện có hiệu quả giám sát việc thi hành Hiến pháp và giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật

(i) Tiếp tục điều chỉnh cơ cấu đại biểu Quốc hội theo hướng tăng đại biểu Quốc hội chuyên trách nhằm chuyên nghiệp hóa hoạt động của Quốc hội. Tăng số lượng thành viên chuyên trách trong Hội đồng, Ủy ban của Quốc hội. Áp dụng quy định về việc thành lập Ủy ban lâm thời, bảo đảm hoạt động của các tiểu ban, các tổ công tác để giúp Quốc hội giám sát thi hành Hiến pháp.

(ii) Xác định trách nhiệm pháp lý đối với những cơ quan, cá nhân không thực hiện đầy đủ, kịp thời nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động thẩm tra của các ủy ban của Quốc hội.

(iii) Bổ sung nhân sự phục vụ cho Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội. Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin cho hoạt động giúp việc Hội đồng và các ủy ban của Quốc hội.

(iv) Về hình thức xem xét tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật: Khi xem xét tính hợp hiến của văn bản, vấn đề mấu chốt là việc so sánh đối chiếu nội dung, hình thức, thẩm quyền ban hành văn bản với các quy định của Hiến pháp, do vậy, cần phải có “chuẩn mực” rõ ràng, đầy đủ cho các chủ thể tiến hành xem xét văn bản so sánh, đối chiếu, phân tích để đưa ra những nhận định và kết luận chính xác, khách quan.

Hai là, triển khai thực hiện thẩm quyền giải thích Hiến pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Việc giải thích Hiến pháp phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây: (i) Đúng với tinh thần, mục đích, yêu cầu, quan điểm chỉ đạo ban hành Hiến pháp; (ii) Phù hợp với nội dung, ngôn ngữ của Hiến pháp; (iii) Không được sửa đổi, bổ sung hoặc đặt ra quy định mới.

Về trình tự, thủ tục giải thích Hiến pháp: Tùy theo tính chất, nội dung của vấn đề cần được giải thích, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp; Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra về sự phù hợp của dự thảo đó với tinh thần và nội dung của Hiến pháp; Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp.

Ba là, quy định chi tiết và tổ chức thực hiện các quy định về bảo vệ Hiến pháp của Chính phủ

Để Chính phủ thực hiện tốt việc kiểm tra tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, cần quy định rõ thời hạn tự kiểm tra và kiểm tra tính hợp hiến của văn bản theo thẩm quyền. Xác định các hình thức xử lý văn bản trái Hiến pháp cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013. Theo đó, hình thức đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản được áp dụng trong trường hợp nội dung trái Hiến pháp chưa được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ kịp thời và nếu tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Về thời hạn xử lý văn bản trái Hiến pháp, cần quy định cụ thể trong thời hạn tối đa không quá 02 ngày làm việc, kể từ khi xác định rõ ràng văn bản có dấu hiệu trái Hiến pháp phải được đình chỉ thi hành ngay (trừ trường hợp nếu tiếp tục thi hành thì có thể sẽ gây hậu quả nghiêm trọng thì phải thực hiện việc đình chỉ thi hành ngay); trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày bị đình chỉ thi hành, phải xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản trái Hiến pháp đó theo quy định.

Bốn là, triển khai thực hiện quy định về trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân

Cần bổ sung vào khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 như sau: “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa…”.

Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án chú trọng việc phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Đối với Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, cần bổ sung quy định: “Trong quá trình thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức”.

Năm là, nghiên cứu xây dựng Luật về bảo vệ Hiến pháp

Khoản 2 Điều 119 Hiến pháp năm 2013 quy định: “…Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”. Thể chế hóa quy định trên, Luật về bảo vệ Hiến pháp quy định tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên trách bảo vệ Hiến pháp là Ủy ban Giám sát Hiến pháp.

Ủy ban Giám sát Hiến pháp là cơ quan có chức năng giám sát việc thi hành Hiến pháp của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Hội đồng Bầu cử Quốc gia.

Ủy ban Giám sát Hiến pháp là một ủy ban đặc biệt của Quốc hội. Với chức năng bảo vệ Hiến pháp nên về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ủy ban này cần có những quy định đặc thù so với các cơ quan chuyên môn khác của Quốc hội. Tác giả cho rằng, Ủy ban Giám sát Hiến pháp phải có địa vị pháp lý gần giống như Kiểm toán nhà nước, được bảo đảm độc lập nhất định so với Quốc hội và các cơ quan khác của Quốc hội.

Ủy ban Giám sát Hiến pháp cần được chia ra thành các tiểu ban để chuyên môn hóa và phân công công việc. Các hoạt động kiểm tra, giám sát, xem xét hành vi vi phạm Hiến pháp được thực hiện bởi các tiểu ban chuyên trách. Trên cơ sở báo cáo của các tiểu ban, Ủy ban họp toàn thể để xem xét thảo luận và biểu quyết để đưa ra quyết định cuối cùng. Các báo cáo của Ủy ban được thông qua khi đạt tỷ lệ biểu quyết theo đa số và sau đó được trình Quốc hội. Chủ tịch Ủy ban không tham gia biểu quyết nhưng có tiếng nói quyết định cuối cùng trong trường hợp số phiếu đồng ý và không đồng ý ngang nhau.

PGS.TS. Tào Thị Quyên

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh







[1]. Trần Ngọc Đường (2007), Bàn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan bảo vệ hiến pháp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 107.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 175.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: