Thứ bảy 27/06/2026 14:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thúc đẩy giáo dục quyền con người tại các cơ sở đào tạo đại học ngành luật trong xu hướng hội nhập quốc tế - Thực trạng và giải pháp

Bài viết phân tích những bất cập, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy giảng dạy quyền con người một cách hiệu quả theo Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

1. Đặt vấn đề

Định hướng thúc đẩy giáo dục quyền con người tại các cơ sở đào tạo đại học nói chung và ngành luật nói riêng là một xu hướng quốc tế hóa trong đào tạo hiện nay. Trước bối cảnh hội nhập quốc tế về giáo dục, việc nghiên cứu và giảng dạy môn quyền con người tại các cơ sở đào tạo đại học ngành luật cần được thiết kế cả về nội dung lẫn hình thức theo cách tiếp cận liên ngành. Tuy nhiên, thực trạng thúc đẩy giáo dục về quyền con người trong các cơ sở đào tạo đại học ngành luật vẫn còn gặp một số khó khăn nhất định như: Chưa có giáo trình chung, thống nhất cho việc giáo dục quyền con người theo từng nhóm đối tượng riêng biệt; thời lượng cho môn học còn ít nên phương pháp tiếp cận vấn đề còn nặng tính lý thuyết... Trên cơ sở phân tích tầm quan trọng của việc thúc đẩy giáo dục quyền con người tại các cơ sở đào tạo đại học ngành luật, bài viết chỉ ra những hạn chế trong việc đào tạo môn quyền con người, cũng như đề xuất các giải pháp đẩy mạnh giáo dục cho sinh viên về quyền con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

2. Thực trạng thúc đẩy giáo dục về quyền con người tại các cơ sở đào tạo đại học ngành luật hiện nay và giải pháp hoàn thiện

Hiện nay, ở Việt Nam, có nhiều cơ sở đào tạo cử nhân luật. Trong đó, tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Khoa Luật (nay là Trường Đại học Luật), Đại học Quốc gia Hà Nội[1]; Khoa Luật, Trường Đại học Nam Cần Thơ; Trường Đại học An Giang... đã có một môn học riêng về quyền con người. Ở một số cơ sở đào tạo khác, môn học này lại được truyền tải thông qua phương thức lồng ghép ở một số môn học như: Luật Hiến pháp; Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo; Luật Tố tụng hành chính… Bên cạnh những thuận lợi trong công tác thúc đẩy giáo dục về quyền con người tại các cơ sở đào tạo đại học ngành luật, vẫn còn tồn tại những hạn chế cần được quan tâm, tháo gỡ. Cụ thể như:

2.1. Về vấn đề biên soạn giáo trình, sách và tài liệu phục vụ cho môn học

Với tư cách là thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam luôn chú trọng thực hiện những cam kết đã đề ra. Dù có nhiều thuận lợi, song việc đào tạo môn học về quyền con người vẫn chưa có giáo trình chung, thống nhất giữa các cơ sở đào tạo; chưa biên soạn đầy đủ tài liệu giáo dục theo từng nhóm đối tượng cụ thể, chuyên biệt. Bởi suy cho cùng, mục tiêu giáo dục về quyền con người ở cấp độ đại học tại các trường chuyên ngành luật hướng đến đào tạo các chuyên gia trên mỗi lĩnh vực pháp luật, theo đó mỗi ngành luật sẽ có những đặc thù chuyên biệt[2]. Ở các cơ sở đào tạo đại học ngành luật tại Việt Nam có những chuyên ngành khác nhau như: Luật Hành chính, Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Kinh tế… Với mỗi ngành, cơ sở đào tạo đại học ngành luật sẽ thiết kế khung chương trình với những môn học đặc trưng gắn liền với ngành. Có thể thấy, nếu vận dụng đưa môn học quyền con người đào tạo cho sinh viên ngành luật, cần xây dựng các tài liệu chuyên biệt cho từng nhóm đối tượng giáo dục cụ thể, trên cơ sở tính hệ thống, tính liên thông của tài liệu và bảo đảm gắn kết cả nội dung giáo dục quyền con người, quyền công dân với ngành đào tạo. Theo đó, trong giáo dục đại học cần thiết phải Việt hóa các tài liệu giáo dục quyền con người theo nhóm đối tượng như: (i) Hệ thống giáo trình, tài liệu giáo dục quyền con người, quyền công dân cho sinh viên trường luật; (ii) Hệ thống giáo trình, tài liệu giáo dục quyền con người, quyền công dân cho sinh viên các trường quân đội; (iii) Hệ thống giáo trình, tài liệu cho sinh viên các trường công an, đại học an ninh, đại học cảnh sát; (iv) Hệ thống giáo trình, tài liệu cho sinh viên các học viện tư pháp, Tòa án; (v) Hệ thống giáo trình, tài liệu cho các nhóm ngành kỹ thuật…

Để môn học quyền con người phù hợp với đặc tính ngành nghề đào tạo tại các trường quân đội, khi triển khai Quyết định số 1309/QĐ-TTg ngày 05/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, các trường quân đội đã biên soạn các tài liệu chuyên biệt dùng trong nhà trường. Với đặc tính này, mỗi đối tượng sẽ có những tài liệu riêng như: Quyển “Những vấn đề cơ bản về quyền con người” dùng cho đào tạo hạ sỹ quan chỉ huy và nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong nhà trường quân đội; quyển “Những vấn đề cơ bản về quyền con người” sẽ áp dụng đào tạo với đối tượng đào tạo sỹ quan cấp phân đội, trình độ đại học trong nhà trường; Giáo trình “Lý luận và pháp luật về quyền con người” dùng cho đối tượng đào tạo và hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị trong quân đội[3]. Điều này là cần thiết, bởi lẽ, quyền con người là một phạm trù rộng lớn. Do đó, khi tiến hành biên soạn tài liệu, cần tập trung vào quyền gắn liền với ngành nghề, tránh việc dàn trải, bởi đây là môn học không được thiết kế thời lượng tín chỉ quá nhiều, việc xác định đúng mục tiêu nhóm quyền cần đào tạo với nhóm ngành nghề là cần thiết trong xu hướng hội nhập.

2.2. Xây dựng chương trình thống nhất đào tạo về quyền con người

Hiện nay, cả nước có khoảng 93 cơ sở đào tạo luật. Trong đó, Khoa Luật (nay là Trường Đại học Luật), Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở đã sớm xây dựng các môn học về quyền con người như: “Lý luận về quyền con người”, “Bảo vệ quyền con người trong Tư pháp hình sự”, “Quyền con người trong Luật Quốc tế”. Đáng chú ý, hầu hết các trường đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân đã lồng ghép nội dung quyền con người vào chương trình đào tạo ở nhiều môn học khác nhau, phù hợp với đối tượng sinh viên và nội dung giáo dục, đào tạo của nhà trường[4].

Vấn đề cần đặt ra, nếu môn học về quyền con người được đưa vào chương trình đào tạo của 93 cơ sở đào tạo luật tại Việt Nam, thì môn học này sẽ được thiết kế ở chương trình học kỳ nào, thống nhất tên gọi môn học là gì và thời lượng tín chỉ là bao nhiêu? Khi so sánh kinh nghiệm đào tạo môn học quyền con người tại các quốc gia như Đức hay Pháp, đây là môn học nhập môn, làm nền tảng cho các đạo luật chuyên ngành khác. Thông qua môn học quyền con người, sinh viên sẽ có sự đối sánh các quyền được quy định trong Hiến pháp, công ước…, cùng các đạo luật chuyên ngành, qua đó, rèn luyện khả năng tư duy của mỗi sinh viên. Tuy nhiên, khi thiết kế chương trình đào tạo, một số cơ sở đã đặt môn học về quyền con người ở khung chương trình tại học kỳ 04, học kỳ 07…, điều này thiết nghĩ chưa thực sự phù hợp.

Bên cạnh đó, khi xây dựng chương trình đào tạo về quyền con người, cần có sự thống nhất tên gọi môn học về quyền con người tại các cơ sở đào tạo. Mặc dù, tên môn học sẽ không thể lột tả hết được cốt lõi của vấn đề, nhưng ở một góc độ nào đó, điều này thể hiện tầm quan trọng của môn học trong bối cảnh hội nhập. Thực tế, cần nhận thức môn học về quyền con người đóng vai trò quan trọng, chủ đạo trong chương trình đào tạo, phù hợp với quan điểm của Đảng, Nhà nước và phù hợp với công tác kiểm định chất lượng giáo dục tại các cơ sở đào tạo. Việc triển khai lồng ghép nội dung quyền con người tại một số cơ sở đào tạo ngành luật đang triển khai hiện nay chỉ nên xem là phương pháp tình thế, khi cơ sở chưa có đủ nhân lực chuyên sâu về mảng này, cũng như chưa đủ tư liệu phục vụ cho giảng dạy… Về lâu dài, quyền con người nên được thiết kế là môn học, một học phần riêng biệt trong chương trình đào tạo. Khi đó, không nên xây dựng môn học quyền con người với một đạo luật riêng biệt nào đó (ví dụ, quyền con người trong lĩnh vực môi trường…), bởi có thể dẫn đến việc sinh viên chưa bao quát tổng thể vấn đề và với tư cách là người chia sẻ, giảng viên rất có thể sẽ tập trung làm rõ các quy định pháp luật về Luật Môi trường nhiều hơn khi hướng dẫn tầm quan trọng liên quan đến quyền con người[5].

Đơn cử, tại Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân…, các nội dung về quyền con người đã được lồng ghép vào các môn học như: Nhà nước và Pháp luật đại cương, Luật Quốc tế, Pháp luật đại cương…, mặc dù kiến thức về quyền con người là rất cần thiết, tuy nhiên, mức độ tiếp cận về quyền con người tại các cơ sở này khi tiến hành khảo sát vẫn còn những hạn chế nhất định. Khi tiến hành khảo sát với quy mô 244 sinh viên trên tổng số 2.000 sinh viên tại Học viện An ninh nhân dân liên quan đến vấn đề môn học quyền con người, kết quả cho thấy, chỉ có 39% sinh viên được tiếp cận quyền con người thông qua lồng ghép trong các môn học pháp luật được thiết kế trong chương trình đào tạo, 32% được tiếp cận qua các phương tiện thông tin đại chúng, 40% tiếp cận qua môn học chính trị và pháp luật. Đáng lưu ý, khi tiến hành khảo sát các quyền con người đã được công nhận tại Việt Nam, kết quả cho thấy, có 67% sinh viên cho rằng pháp luật không công nhận quyền biểu tình, 33% số phiếu cho rằng, nước ta chưa công nhận quyền hội họp, 19% cho rằng, Việt Nam vẫn chưa công nhận quyền tự do ngôn luận. Khi tiến hành khảo sát mức độ am hiểu quyền con người của bản thân, 19% tự đánh giá khả năng am hiểu tốt, 29% trung bình, 18% đánh giá yếu, 11% không tự đánh giá[6]. Có thể thấy, để môn học quyền con người thể hiện đúng tầm quan trọng, đòi hỏi rất nhiều yếu tố, trong đó, một trong những yếu tố quan trọng là đưa môn học về quyền con người thuộc môn học nhập môn, được hướng dẫn trước khi tiến hành giảng dạy các môn pháp luật chuyên ngành; ngoài ra, cần xúc tiến thiết kế đây là môn học độc lập thay vì chỉ được lồng ghép vào chương trình đào tạo ở nhiều môn học khác nhau.

2.3. Xác định hình thức, phương pháp đào tạo phù hợp với từng đối tượng

Việc đưa môn học về quyền con người vào chương trình đào tạo với sinh viên ngành luật được nhận định là khó khăn tại các cơ sở đào tạo đại học, bởi phần lớn đội ngũ giảng viên ở cơ sở đào tạo đại học ngành luật chưa thực sự được đào tạo bài bản, chuyên sâu về quyền con người. Việc tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về giáo dục quyền con người chỉ mới dừng lại ở giới hạn cơ bản, chưa thực sự được chú trọng và tổ chức triển khai bài bản, thường xuyên[7].

Để giải quyết yêu cầu cấp bách, cần thiết phải có kế hoạch đào tạo ngắn hạn và dài hạn đội ngũ chuyên trách giảng dạy quyền con người. Bên cạnh đó, cần triển khai thiết kế bài giảng theo hướng hiện đại; lồng ghép nhiều ví dụ minh họa thực tế cho bài học; tránh kiểu truyền thụ kiến thức một chiều, thiên về lý thuyết, gây tâm lý tẻ nhạt cho người học. Vì vậy, giảng viên nên chủ động sử dụng phương pháp phân tích tình huống bảo vệ quyền con người trên thực tế sẽ tránh được sự nhàm chán cho môn học.

Về mặt pháp lý, hiện nay, nội dung của quyền con người nằm tản mát trong nhiều văn bản. Vì vậy, giảng viên cần định hướng cho sinh viên tư duy tổng hợp, tích hợp việc phân tích, nghiên cứu các văn bản pháp lý trong và ngoài nước, tránh việc cùng một lúc truyền thụ cho sinh viên một khối lượng lớn kiến thức lý thuyết[8]. Theo đó, cần thường xuyên cho sinh viên trao đổi, thảo luận về quyền con người trên lớp thông qua việc làm bài tập lớn theo nhóm, hoặc người học sẽ hóa thân vào vai luật sư tư vấn, diễn thuyết vấn đề cần nghiên cứu... Với vai trò là người định hướng, giảng viên cần tích hợp giữa giảng dạy, cũng như định hướng cho sinh viên có tinh thần chủ động nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, khi tiến hành kiểm tra năng lực, có thể đánh giá thông qua bài nghiên cứu theo chủ đề đã thảo luận, hay phân tích các tình huống có liên quan đến quyền con người theo pháp luật quốc tế…

Châu Âu là nơi đầu tiên tuyên bố về quyền con người, quyền công dân, đồng thời cũng là chiếc nôi đầu tiên đưa môn học quyền con người vào chương trình đào tạo. Một trong những kinh nghiệm giáo dục quyền con người là thông qua các hoạt động thực tiễn như tổ chức những buổi triển lãm về quyền con người trong khuôn khổ nhà trường hoặc tại các điểm công cộng ở địa phương, hình thức này giúp cho sinh viên có được thói quen trình bày tư liệu và thể hiện chính kiến của mình thông qua hình ảnh, tư liệu trong các buổi triển lãm[9]. Theo đó, phương thức giáo dục quyền con người sau nhiều năm đã được đúc kết, phát triển trên cơ sở kinh nghiệm kết nối các thành tố cơ bản và có thể hiệu chỉnh theo từng đối tượng, nhóm đối tượng khác nhau. Các kỹ thuật hướng đến thu hút sự tham gia của người học đối với môn quyền con người bao gồm: Thuyết trình và thảo luận, thảo luận chuyên gia (pane discussion), làm việc trong nhóm (working group), nghiên cứu tình huống (case studies), giải quyết tình huống/sử dụng trí tuệ tập thể (problem - solving/brainstorming), mô phỏng/đóng vai (simulation/role-playing), khảo sát (field trip), bài tập thực hành (practical exercise - including drafting), thảo luận bàn tròn (round - table discussion), phương tiện dạy học (visual aid), địa điểm tiến hành đào tạo[10]. Thiết nghĩ, đây sẽ là cơ sở, kinh nghiệm quan trọng có thể được áp dụng tại nước ta khi triển khai đưa môn học quyền con người tại các cơ sở đào tạo trong thời gian tới.

Giáo dục về quyền con người xét dưới góc độ lý luận và thực tiễn phụ thuộc nhiều vào mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương pháp giảng dạy được xác định trong từng giai đoạn phát triển và chính sách của mỗi quốc gia. “Có thể xác định mục tiêu tổng quát giáo dục quyền con người bao gồm: Tăng cường sự tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản; phát triển toàn diện cá nhân con người và ý thức tôn trọng con người; thúc đẩy sự hiểu biết, tôn trọng, bình đẳng giới và sự đoàn kết giữa các quốc gia, người bản địa và các nhóm chủng tộc, quốc gia, dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ; nâng cao năng lực của mọi người trong xã hội tự do dân chủ”[11]… Tại Việt Nam, khi tiến hành đưa môn học quyền con người vào giảng dạy vẫn còn những vấn đề cần sự thống nhất giữa các cơ sở đào tạo. Đó có thể là thống nhất sử dụng giáo trình đặc thù với môn học, thống nhất về thời lượng cũng như bố trí thời điểm giáo dục môn học, phương pháp tiếp cận vấn đề… Bởi đặc thù môn học còn khá mới mẻ, đòi hỏi cần có sự vận dụng, tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia phát triển trong việc đào tạo pháp luật về quyền con người, hướng đến mục tiêu cơ bản là đến năm 2025, 100% các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân có đào tạo liên quan đến quyền con người.

ThS. Trần Lê Đăng Phương

Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

[1]. Giáo dục quyền con người cho sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế, http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/dao-tao-boi-duong/item/2901-giao-duc-quyen-con-nguoi-cho-sinh-vien-trong-boi-canh-hoi-nhap-quoc-te.html, truy cập ngày 17/7/2022.

[2]. Võ Khánh Minh, Các giải pháp đổi mới giáo dục quyền con người ở nước ta hiện nay, https://tapchitoaan.vn/cac-giai-phap-doi-moi-giao-duc-quyen-con-nguoi-o-nuoc-ta-hien-nay5488.html, truy cập ngày 17/9/2022.

[3]. Nguyễn Văn Thái, Thực trạng và giải pháp giáo dục quyền con người trong các nhà trường quân đội hiện nay, http://qcn.ciks.vn/Content/thuc-trang-va-giai-phap-giao-duc-quyen-con-nguoi-trong-cac-nha-truong-quan-doi-hien-nay-485621, truy cập ngày 17/9/2022.

[4]. Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Hội thảo khoa học “Nội dung, phương pháp giáo dục quyền con người trong giáo dục đại học ở Việt Nam”, https://hcma.vn/vanban/Pages/van-ban-quan-ly.aspx?ItemId=31782&CateID=0, truy cập ngày 16/9/2022.

[5]. Nguyễn Văn Mạnh & Nguyễn Thị Báo, Giáo dục quyền con người tại các cơ sở đào tạo không chuyên ngành luật- Vấn đề giải đáp, Tạp chí Khoa giáo, số 7/2007.

[6]. Phùng Thế Vắc & Đinh Thị Mai, Nghiên cứu giảng dạy quyền con người, quyền công dân ở học viện an ninh, Giáo dục quyền con người những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Khoa học xã hội, năm 2011, tr. 87.

[7]. Lê Thị Châu, Giảng dạy về quyền con người: thực tiễn tại Khoa Luật, Trường Đại học Duy Tân, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, Số 1 (22), 2022, tr. 91.

[8]. Sherlawa., W, Hudebine., H, The United Nations Convention on the rights of persons with disabilities: Opportunities and tensions within the social inclusion and participation of persons with disabilities, ALTER European Journal of Disiability Reasearch 9 (2015) 9 - 21.

[9]. Brander, P., Keen, E. Lemineur, & M.-L. (Eds.) (2002). Compass. A manual on Human Rights education with young people. Strasbourg: Council of Europe Publishing.

[10]. Bùi Nguyên Khánh, Phương pháp giáo dục quyền con người - Kinh nghiệm từ các chương trình giáo dục quyền con người của Liên Hợp quốc, Nxb. Khoa học xã hội, năm 2011, tr. 67.

[11]. Võ Khánh Minh, Các giải pháp đổi mới giáo dục quyền con người ở nước ta hiện nay, https://tapchitoaan.vn/cac-giai-phap-doi-moi-giao-duc-quyen-con-nguoi-o-nuoc-ta-hien-nay5488.html, truy cập ngày 15/9/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: