Chủ nhật 01/03/2026 09:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thúc đẩy giáo dục quyền con người tại các cơ sở đào tạo đại học ngành luật trong xu hướng hội nhập quốc tế - Thực trạng và giải pháp

Bài viết phân tích những bất cập, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy giảng dạy quyền con người một cách hiệu quả theo Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

1. Đặt vấn đề

Định hướng thúc đẩy giáo dục quyền con người tại các cơ sở đào tạo đại học nói chung và ngành luật nói riêng là một xu hướng quốc tế hóa trong đào tạo hiện nay. Trước bối cảnh hội nhập quốc tế về giáo dục, việc nghiên cứu và giảng dạy môn quyền con người tại các cơ sở đào tạo đại học ngành luật cần được thiết kế cả về nội dung lẫn hình thức theo cách tiếp cận liên ngành. Tuy nhiên, thực trạng thúc đẩy giáo dục về quyền con người trong các cơ sở đào tạo đại học ngành luật vẫn còn gặp một số khó khăn nhất định như: Chưa có giáo trình chung, thống nhất cho việc giáo dục quyền con người theo từng nhóm đối tượng riêng biệt; thời lượng cho môn học còn ít nên phương pháp tiếp cận vấn đề còn nặng tính lý thuyết... Trên cơ sở phân tích tầm quan trọng của việc thúc đẩy giáo dục quyền con người tại các cơ sở đào tạo đại học ngành luật, bài viết chỉ ra những hạn chế trong việc đào tạo môn quyền con người, cũng như đề xuất các giải pháp đẩy mạnh giáo dục cho sinh viên về quyền con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

2. Thực trạng thúc đẩy giáo dục về quyền con người tại các cơ sở đào tạo đại học ngành luật hiện nay và giải pháp hoàn thiện

Hiện nay, ở Việt Nam, có nhiều cơ sở đào tạo cử nhân luật. Trong đó, tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Khoa Luật (nay là Trường Đại học Luật), Đại học Quốc gia Hà Nội[1]; Khoa Luật, Trường Đại học Nam Cần Thơ; Trường Đại học An Giang... đã có một môn học riêng về quyền con người. Ở một số cơ sở đào tạo khác, môn học này lại được truyền tải thông qua phương thức lồng ghép ở một số môn học như: Luật Hiến pháp; Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo; Luật Tố tụng hành chính… Bên cạnh những thuận lợi trong công tác thúc đẩy giáo dục về quyền con người tại các cơ sở đào tạo đại học ngành luật, vẫn còn tồn tại những hạn chế cần được quan tâm, tháo gỡ. Cụ thể như:

2.1. Về vấn đề biên soạn giáo trình, sách và tài liệu phục vụ cho môn học

Với tư cách là thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam luôn chú trọng thực hiện những cam kết đã đề ra. Dù có nhiều thuận lợi, song việc đào tạo môn học về quyền con người vẫn chưa có giáo trình chung, thống nhất giữa các cơ sở đào tạo; chưa biên soạn đầy đủ tài liệu giáo dục theo từng nhóm đối tượng cụ thể, chuyên biệt. Bởi suy cho cùng, mục tiêu giáo dục về quyền con người ở cấp độ đại học tại các trường chuyên ngành luật hướng đến đào tạo các chuyên gia trên mỗi lĩnh vực pháp luật, theo đó mỗi ngành luật sẽ có những đặc thù chuyên biệt[2]. Ở các cơ sở đào tạo đại học ngành luật tại Việt Nam có những chuyên ngành khác nhau như: Luật Hành chính, Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Kinh tế… Với mỗi ngành, cơ sở đào tạo đại học ngành luật sẽ thiết kế khung chương trình với những môn học đặc trưng gắn liền với ngành. Có thể thấy, nếu vận dụng đưa môn học quyền con người đào tạo cho sinh viên ngành luật, cần xây dựng các tài liệu chuyên biệt cho từng nhóm đối tượng giáo dục cụ thể, trên cơ sở tính hệ thống, tính liên thông của tài liệu và bảo đảm gắn kết cả nội dung giáo dục quyền con người, quyền công dân với ngành đào tạo. Theo đó, trong giáo dục đại học cần thiết phải Việt hóa các tài liệu giáo dục quyền con người theo nhóm đối tượng như: (i) Hệ thống giáo trình, tài liệu giáo dục quyền con người, quyền công dân cho sinh viên trường luật; (ii) Hệ thống giáo trình, tài liệu giáo dục quyền con người, quyền công dân cho sinh viên các trường quân đội; (iii) Hệ thống giáo trình, tài liệu cho sinh viên các trường công an, đại học an ninh, đại học cảnh sát; (iv) Hệ thống giáo trình, tài liệu cho sinh viên các học viện tư pháp, Tòa án; (v) Hệ thống giáo trình, tài liệu cho các nhóm ngành kỹ thuật…

Để môn học quyền con người phù hợp với đặc tính ngành nghề đào tạo tại các trường quân đội, khi triển khai Quyết định số 1309/QĐ-TTg ngày 05/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, các trường quân đội đã biên soạn các tài liệu chuyên biệt dùng trong nhà trường. Với đặc tính này, mỗi đối tượng sẽ có những tài liệu riêng như: Quyển “Những vấn đề cơ bản về quyền con người” dùng cho đào tạo hạ sỹ quan chỉ huy và nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong nhà trường quân đội; quyển “Những vấn đề cơ bản về quyền con người” sẽ áp dụng đào tạo với đối tượng đào tạo sỹ quan cấp phân đội, trình độ đại học trong nhà trường; Giáo trình “Lý luận và pháp luật về quyền con người” dùng cho đối tượng đào tạo và hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị trong quân đội[3]. Điều này là cần thiết, bởi lẽ, quyền con người là một phạm trù rộng lớn. Do đó, khi tiến hành biên soạn tài liệu, cần tập trung vào quyền gắn liền với ngành nghề, tránh việc dàn trải, bởi đây là môn học không được thiết kế thời lượng tín chỉ quá nhiều, việc xác định đúng mục tiêu nhóm quyền cần đào tạo với nhóm ngành nghề là cần thiết trong xu hướng hội nhập.

2.2. Xây dựng chương trình thống nhất đào tạo về quyền con người

Hiện nay, cả nước có khoảng 93 cơ sở đào tạo luật. Trong đó, Khoa Luật (nay là Trường Đại học Luật), Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở đã sớm xây dựng các môn học về quyền con người như: “Lý luận về quyền con người”, “Bảo vệ quyền con người trong Tư pháp hình sự”, “Quyền con người trong Luật Quốc tế”. Đáng chú ý, hầu hết các trường đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân đã lồng ghép nội dung quyền con người vào chương trình đào tạo ở nhiều môn học khác nhau, phù hợp với đối tượng sinh viên và nội dung giáo dục, đào tạo của nhà trường[4].

Vấn đề cần đặt ra, nếu môn học về quyền con người được đưa vào chương trình đào tạo của 93 cơ sở đào tạo luật tại Việt Nam, thì môn học này sẽ được thiết kế ở chương trình học kỳ nào, thống nhất tên gọi môn học là gì và thời lượng tín chỉ là bao nhiêu? Khi so sánh kinh nghiệm đào tạo môn học quyền con người tại các quốc gia như Đức hay Pháp, đây là môn học nhập môn, làm nền tảng cho các đạo luật chuyên ngành khác. Thông qua môn học quyền con người, sinh viên sẽ có sự đối sánh các quyền được quy định trong Hiến pháp, công ước…, cùng các đạo luật chuyên ngành, qua đó, rèn luyện khả năng tư duy của mỗi sinh viên. Tuy nhiên, khi thiết kế chương trình đào tạo, một số cơ sở đã đặt môn học về quyền con người ở khung chương trình tại học kỳ 04, học kỳ 07…, điều này thiết nghĩ chưa thực sự phù hợp.

Bên cạnh đó, khi xây dựng chương trình đào tạo về quyền con người, cần có sự thống nhất tên gọi môn học về quyền con người tại các cơ sở đào tạo. Mặc dù, tên môn học sẽ không thể lột tả hết được cốt lõi của vấn đề, nhưng ở một góc độ nào đó, điều này thể hiện tầm quan trọng của môn học trong bối cảnh hội nhập. Thực tế, cần nhận thức môn học về quyền con người đóng vai trò quan trọng, chủ đạo trong chương trình đào tạo, phù hợp với quan điểm của Đảng, Nhà nước và phù hợp với công tác kiểm định chất lượng giáo dục tại các cơ sở đào tạo. Việc triển khai lồng ghép nội dung quyền con người tại một số cơ sở đào tạo ngành luật đang triển khai hiện nay chỉ nên xem là phương pháp tình thế, khi cơ sở chưa có đủ nhân lực chuyên sâu về mảng này, cũng như chưa đủ tư liệu phục vụ cho giảng dạy… Về lâu dài, quyền con người nên được thiết kế là môn học, một học phần riêng biệt trong chương trình đào tạo. Khi đó, không nên xây dựng môn học quyền con người với một đạo luật riêng biệt nào đó (ví dụ, quyền con người trong lĩnh vực môi trường…), bởi có thể dẫn đến việc sinh viên chưa bao quát tổng thể vấn đề và với tư cách là người chia sẻ, giảng viên rất có thể sẽ tập trung làm rõ các quy định pháp luật về Luật Môi trường nhiều hơn khi hướng dẫn tầm quan trọng liên quan đến quyền con người[5].

Đơn cử, tại Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân…, các nội dung về quyền con người đã được lồng ghép vào các môn học như: Nhà nước và Pháp luật đại cương, Luật Quốc tế, Pháp luật đại cương…, mặc dù kiến thức về quyền con người là rất cần thiết, tuy nhiên, mức độ tiếp cận về quyền con người tại các cơ sở này khi tiến hành khảo sát vẫn còn những hạn chế nhất định. Khi tiến hành khảo sát với quy mô 244 sinh viên trên tổng số 2.000 sinh viên tại Học viện An ninh nhân dân liên quan đến vấn đề môn học quyền con người, kết quả cho thấy, chỉ có 39% sinh viên được tiếp cận quyền con người thông qua lồng ghép trong các môn học pháp luật được thiết kế trong chương trình đào tạo, 32% được tiếp cận qua các phương tiện thông tin đại chúng, 40% tiếp cận qua môn học chính trị và pháp luật. Đáng lưu ý, khi tiến hành khảo sát các quyền con người đã được công nhận tại Việt Nam, kết quả cho thấy, có 67% sinh viên cho rằng pháp luật không công nhận quyền biểu tình, 33% số phiếu cho rằng, nước ta chưa công nhận quyền hội họp, 19% cho rằng, Việt Nam vẫn chưa công nhận quyền tự do ngôn luận. Khi tiến hành khảo sát mức độ am hiểu quyền con người của bản thân, 19% tự đánh giá khả năng am hiểu tốt, 29% trung bình, 18% đánh giá yếu, 11% không tự đánh giá[6]. Có thể thấy, để môn học quyền con người thể hiện đúng tầm quan trọng, đòi hỏi rất nhiều yếu tố, trong đó, một trong những yếu tố quan trọng là đưa môn học về quyền con người thuộc môn học nhập môn, được hướng dẫn trước khi tiến hành giảng dạy các môn pháp luật chuyên ngành; ngoài ra, cần xúc tiến thiết kế đây là môn học độc lập thay vì chỉ được lồng ghép vào chương trình đào tạo ở nhiều môn học khác nhau.

2.3. Xác định hình thức, phương pháp đào tạo phù hợp với từng đối tượng

Việc đưa môn học về quyền con người vào chương trình đào tạo với sinh viên ngành luật được nhận định là khó khăn tại các cơ sở đào tạo đại học, bởi phần lớn đội ngũ giảng viên ở cơ sở đào tạo đại học ngành luật chưa thực sự được đào tạo bài bản, chuyên sâu về quyền con người. Việc tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về giáo dục quyền con người chỉ mới dừng lại ở giới hạn cơ bản, chưa thực sự được chú trọng và tổ chức triển khai bài bản, thường xuyên[7].

Để giải quyết yêu cầu cấp bách, cần thiết phải có kế hoạch đào tạo ngắn hạn và dài hạn đội ngũ chuyên trách giảng dạy quyền con người. Bên cạnh đó, cần triển khai thiết kế bài giảng theo hướng hiện đại; lồng ghép nhiều ví dụ minh họa thực tế cho bài học; tránh kiểu truyền thụ kiến thức một chiều, thiên về lý thuyết, gây tâm lý tẻ nhạt cho người học. Vì vậy, giảng viên nên chủ động sử dụng phương pháp phân tích tình huống bảo vệ quyền con người trên thực tế sẽ tránh được sự nhàm chán cho môn học.

Về mặt pháp lý, hiện nay, nội dung của quyền con người nằm tản mát trong nhiều văn bản. Vì vậy, giảng viên cần định hướng cho sinh viên tư duy tổng hợp, tích hợp việc phân tích, nghiên cứu các văn bản pháp lý trong và ngoài nước, tránh việc cùng một lúc truyền thụ cho sinh viên một khối lượng lớn kiến thức lý thuyết[8]. Theo đó, cần thường xuyên cho sinh viên trao đổi, thảo luận về quyền con người trên lớp thông qua việc làm bài tập lớn theo nhóm, hoặc người học sẽ hóa thân vào vai luật sư tư vấn, diễn thuyết vấn đề cần nghiên cứu... Với vai trò là người định hướng, giảng viên cần tích hợp giữa giảng dạy, cũng như định hướng cho sinh viên có tinh thần chủ động nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, khi tiến hành kiểm tra năng lực, có thể đánh giá thông qua bài nghiên cứu theo chủ đề đã thảo luận, hay phân tích các tình huống có liên quan đến quyền con người theo pháp luật quốc tế…

Châu Âu là nơi đầu tiên tuyên bố về quyền con người, quyền công dân, đồng thời cũng là chiếc nôi đầu tiên đưa môn học quyền con người vào chương trình đào tạo. Một trong những kinh nghiệm giáo dục quyền con người là thông qua các hoạt động thực tiễn như tổ chức những buổi triển lãm về quyền con người trong khuôn khổ nhà trường hoặc tại các điểm công cộng ở địa phương, hình thức này giúp cho sinh viên có được thói quen trình bày tư liệu và thể hiện chính kiến của mình thông qua hình ảnh, tư liệu trong các buổi triển lãm[9]. Theo đó, phương thức giáo dục quyền con người sau nhiều năm đã được đúc kết, phát triển trên cơ sở kinh nghiệm kết nối các thành tố cơ bản và có thể hiệu chỉnh theo từng đối tượng, nhóm đối tượng khác nhau. Các kỹ thuật hướng đến thu hút sự tham gia của người học đối với môn quyền con người bao gồm: Thuyết trình và thảo luận, thảo luận chuyên gia (pane discussion), làm việc trong nhóm (working group), nghiên cứu tình huống (case studies), giải quyết tình huống/sử dụng trí tuệ tập thể (problem - solving/brainstorming), mô phỏng/đóng vai (simulation/role-playing), khảo sát (field trip), bài tập thực hành (practical exercise - including drafting), thảo luận bàn tròn (round - table discussion), phương tiện dạy học (visual aid), địa điểm tiến hành đào tạo[10]. Thiết nghĩ, đây sẽ là cơ sở, kinh nghiệm quan trọng có thể được áp dụng tại nước ta khi triển khai đưa môn học quyền con người tại các cơ sở đào tạo trong thời gian tới.

Giáo dục về quyền con người xét dưới góc độ lý luận và thực tiễn phụ thuộc nhiều vào mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương pháp giảng dạy được xác định trong từng giai đoạn phát triển và chính sách của mỗi quốc gia. “Có thể xác định mục tiêu tổng quát giáo dục quyền con người bao gồm: Tăng cường sự tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản; phát triển toàn diện cá nhân con người và ý thức tôn trọng con người; thúc đẩy sự hiểu biết, tôn trọng, bình đẳng giới và sự đoàn kết giữa các quốc gia, người bản địa và các nhóm chủng tộc, quốc gia, dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ; nâng cao năng lực của mọi người trong xã hội tự do dân chủ”[11]… Tại Việt Nam, khi tiến hành đưa môn học quyền con người vào giảng dạy vẫn còn những vấn đề cần sự thống nhất giữa các cơ sở đào tạo. Đó có thể là thống nhất sử dụng giáo trình đặc thù với môn học, thống nhất về thời lượng cũng như bố trí thời điểm giáo dục môn học, phương pháp tiếp cận vấn đề… Bởi đặc thù môn học còn khá mới mẻ, đòi hỏi cần có sự vận dụng, tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia phát triển trong việc đào tạo pháp luật về quyền con người, hướng đến mục tiêu cơ bản là đến năm 2025, 100% các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân có đào tạo liên quan đến quyền con người.

ThS. Trần Lê Đăng Phương

Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

[1]. Giáo dục quyền con người cho sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế, http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/dao-tao-boi-duong/item/2901-giao-duc-quyen-con-nguoi-cho-sinh-vien-trong-boi-canh-hoi-nhap-quoc-te.html, truy cập ngày 17/7/2022.

[2]. Võ Khánh Minh, Các giải pháp đổi mới giáo dục quyền con người ở nước ta hiện nay, https://tapchitoaan.vn/cac-giai-phap-doi-moi-giao-duc-quyen-con-nguoi-o-nuoc-ta-hien-nay5488.html, truy cập ngày 17/9/2022.

[3]. Nguyễn Văn Thái, Thực trạng và giải pháp giáo dục quyền con người trong các nhà trường quân đội hiện nay, http://qcn.ciks.vn/Content/thuc-trang-va-giai-phap-giao-duc-quyen-con-nguoi-trong-cac-nha-truong-quan-doi-hien-nay-485621, truy cập ngày 17/9/2022.

[4]. Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Hội thảo khoa học “Nội dung, phương pháp giáo dục quyền con người trong giáo dục đại học ở Việt Nam”, https://hcma.vn/vanban/Pages/van-ban-quan-ly.aspx?ItemId=31782&CateID=0, truy cập ngày 16/9/2022.

[5]. Nguyễn Văn Mạnh & Nguyễn Thị Báo, Giáo dục quyền con người tại các cơ sở đào tạo không chuyên ngành luật- Vấn đề giải đáp, Tạp chí Khoa giáo, số 7/2007.

[6]. Phùng Thế Vắc & Đinh Thị Mai, Nghiên cứu giảng dạy quyền con người, quyền công dân ở học viện an ninh, Giáo dục quyền con người những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Khoa học xã hội, năm 2011, tr. 87.

[7]. Lê Thị Châu, Giảng dạy về quyền con người: thực tiễn tại Khoa Luật, Trường Đại học Duy Tân, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, Số 1 (22), 2022, tr. 91.

[8]. Sherlawa., W, Hudebine., H, The United Nations Convention on the rights of persons with disabilities: Opportunities and tensions within the social inclusion and participation of persons with disabilities, ALTER European Journal of Disiability Reasearch 9 (2015) 9 - 21.

[9]. Brander, P., Keen, E. Lemineur, & M.-L. (Eds.) (2002). Compass. A manual on Human Rights education with young people. Strasbourg: Council of Europe Publishing.

[10]. Bùi Nguyên Khánh, Phương pháp giáo dục quyền con người - Kinh nghiệm từ các chương trình giáo dục quyền con người của Liên Hợp quốc, Nxb. Khoa học xã hội, năm 2011, tr. 67.

[11]. Võ Khánh Minh, Các giải pháp đổi mới giáo dục quyền con người ở nước ta hiện nay, https://tapchitoaan.vn/cac-giai-phap-doi-moi-giao-duc-quyen-con-nguoi-o-nuoc-ta-hien-nay5488.html, truy cập ngày 15/9/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.
Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện và mô hình dưỡng lão chuyên nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Sự kết hợp giữa y học cổ truyền với phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi được xem là hướng đi chiến lược, phù hợp với định hướng lớn của Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.

Theo dõi chúng tôi trên: