Thứ bảy 02/05/2026 16:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng nhiều thách thức mới. Bên cạnh đó, dịch bệnh Covid-19, thiên tai và chiến tranh diễn biến ngày càng phức tạp ở nhiều quốc gia trên thế giới khiến quá trình thực hiện các hợp đồng thương mại cần có sự điều chỉnh kịp thời. Bài viết này phân tích pháp luật Việt Nam hiện hành về các dấu hiệu nhận diện sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh khi thực hiện hợp đồng thương mại, những ứng xử hợp pháp mà các bên có thể tiến hành để duy trì hợp đồng và tránh trường hợp phải chịu trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng.


1. Sự cần thiết quy định về thực hiện hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Hợp đồng thương mại (HĐTM) có thể hiểu là hợp đồng được xác lập trong quá trình các bên thực hiện hoạt động thương mại. Cũng giống như các loại hợp đồng khác, HĐTM phải do các bên thỏa thuận và làm phát sinh hậu quả pháp lý là xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên. Bên cạnh những đặc điểm chung của hợp đồng, HĐTM cũng có những đặc điểm riêng biệt như: (i) Chủ thể tham gia HĐTM chủ yếu là thương nhân; (ii) HĐTM được thực hiện phải gắn liền với hoạt động thương mại - hoạt động mang tính nghề nghiệp của thương nhân; (iii) Đối tượng của HĐTM thường là dịch vụ, hàng hóa.

Ngay từ thời cổ đại, từ khi Hòa ước được ký giữa vua Ai Cập Ramđec II và vua Hattusin III vào năm 1278 trước Công nguyên, con người đã biết đến việc tôn trọng nguyên tắc về tính ràng buộc của hợp đồng. Một khi các bên đã giao kết, xác lập hợp đồng, thì phải tôn trọng và thực hiện đúng những điều khoản đã thỏa thuận. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên không được lấy lý do về sự khác biệt về vị trí địa lý, truyền thống, phong tục tập quán vùng miền hay tôn giáo... để làm căn cứ cho việc “giải thoát” mình khỏi các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Hợp đồng được xem là “luật” của các bên chủ thể tham gia. Ngày nay, nguyên tắc này đã được pháp điển hóa và ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia và các chủ thể của pháp luật quốc tế, trong đó có Việt Nam[1]. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nguyên tắc về tính ràng buộc của hợp đồng không nên được hiểu và áp dụng một cách quá cứng nhắc, vì có thể dẫn đến sự bất hợp lý hoặc không bình đẳng cho một bên trong hợp đồng. Do vậy, việc tồn tại những ngoại lệ cho những nguyên tắc cần thiết. Quy định về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản được ghi nhận là một trong những ngoại lệ của nguyên tắc này. Theo đó, sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh phải là biến đổi mang tính khách quan mà vào thời điểm giao kết hợp đồng các bên không dự tính được trước. Sự thay đổi này phải dẫn đến sự chuyển biến một cách cơ bản những nghĩa vụ mà các bên đang phải thực hiện theo nội dung của hợp đồng[2].

Điều chỉnh HĐTM khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản nhằm đảm bảo được tính công bằng, bình đẳng giữa các bên chủ thể tham gia, hoạt động này được nhận diện bởi các đặc trưng như: (i) Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản nhằm để cứu vãn hợp đồng, hay nói cách khác là để duy trì hiệu lực của HĐTM; (ii) Mục đích của việc điều chỉnh HĐTM khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản nhằm bảo đảm công bằng giữa các bên; (iii) Việc điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản nhằm hướng dẫn, chỉ dẫn các chủ thể nhận biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi gặp hoàn cảnh thay đổi cơ bản; (iv) Vai trò của việc điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là cơ sở pháp lý cho cơ quan bảo vệ pháp luật giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, phù hợp với hoàn cảnh bị thay đổi.

2. Pháp luật Việt Nam hiện hành về thực hiện hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Bộ luật Dân sự năm 2015 lần đầu tiên quy định việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại Điều 420 với các vấn đề chủ yếu như sau:

Thứ nhất, điều kiện để điều chỉnh hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Theo khoản 1 Điều 420, hoàn cảnh thực hiện hợp đồng nói chung và HĐTM nói riêng được coi là thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện:

(i) Sự thay đổi hoàn cảnh thực hiện HĐTM do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng. Đây được xem là một trong những điều kiện tiên quyết để xác định liệu rằng hoàn cảnh có sự thay đổi cơ bản hay không. Bên cạnh đó, cần xem xét những yếu tố tồn tại trong bối cảnh mà các bên thực hiện HĐTM đã không còn giống như tại thời điểm các bên tiến hành giao kết. Sự thay đổi này xảy ra không là do hành động của bất kỳ bên chủ thể nào của HĐTM và thời điểm của sự thay đổi là sau khi các bên đã giao kết HĐTM.

(ii) Tại thời điểm giao kết HĐTM, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh. Sự thay đổi không xảy ra tại thời điểm mà các bên giao kết hợp đồng, nhưng trong trường hợp thực tế có tồn tại các dấu hiệu cho thấy, sẽ xuất hiện sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản và những dấu hiện ấy có thể được nhận thấy bởi người có trình độ nhận thức thông thường hay không là yếu tố để một bên chủ thể cho rằng, sự thay đổi của hoàn cảnh là “không thể lường trước được”. Quy định này tại Điều 420 là rất quan trọng, ghi nhận sự khách quan của hoàn cảnh thay đổi cơ bản (nằm ngoài ý chí của các bên chủ thể trong hợp đồng). Nếu các bên có thể nhận thức được sự thay đổi về hoàn cảnh từ trước và thậm chí là tại thời điểm giao kết hợp đồng, mà các bên vẫn thỏa thuận giao kết những nội dung như lúc không có sự thay đổi về hoàn cảnh, thì các bên không được hưởng những quyền lợi chính đáng như chấm dứt hoặc thay đổi nội dung của hợp đồng.

(iii) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức, nếu như các bên biết trước thì HĐTM đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác. Yếu tố này được đánh giá phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của các bên giao kết HĐTM. Việc đưa ra một tiêu chí nhất định khác để xác định khi nào hoàn cảnh được coi là “thay đổi lớn” là không dễ dàng. Theo quy định này, sự thay đổi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng làm cho các bên không thể thực hiện được những điều khoản đã ký kết. Mức độ ảnh hưởng của hoàn cảnh có thể khiến cho hợp đồng không thể giao kết hoặc giao kết nhưng với nội dung khác nhau. Dấu hiệu này nhằm hướng tới xác định mức độ ảnh hưởng của sự thay đổi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng đối với các bên trong hợp đồng. Ví dụ như dịch bệnh hoành hành, những hợp đồng vận chuyển hàng không giữa Việt Nam và các quốc gia không thể tiến hành, hay dịch bệnh hoành hành nhưng lượng nông sản không thể xuất khẩu được do thu nhập của người tiêu dùng bị suy giảm nghiêm trọng… Để hợp đồng luôn ràng buộc các bên về mặt pháp lý, giảm thiểu vi phạm HĐTM, cũng như ổn định trật tự giao dịch thì về vấn đề này cần phải được quy định chặt chẽ và rõ ràng.

(iv) Việc tiếp tục thực hiện HĐTM mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Dựa trên mức độ ảnh hưởng của sự thay đổi hoàn cảnh thực hiện, nếu như các bên vẫn tiếp tục thực hiện HĐTM mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng thì có thể sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Khi đứng trước nguy cơ bị thiệt hại, bên chủ thể chịu tác động của hoàn cảnh thường có xu hướng không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện sai nội dung cam kết trước đó nhằm giảm thiểu thiệt hại. Vô hình trung hành xử này dẫn họ đến tình cảnh vi phạm hợp đồng và nếu không được bên chủ thể còn lại cảm thông, chia sẻ thì những chủ thể này sẽ phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm HĐTM. Tuy vậy, để có thể đáp ứng điều kiện này, đòi hỏi phải có sự suy đoán về thiệt hại nghiệm trọng có thể xảy ra khi tiếp tục thực hiện nội dung ban đầu của HĐTM. Cách làm thường thấy khi xem xét ảnh hưởng của sự thay đổi cơ bản là xem xét sự tác động của những thay đổi đến tình trạng kinh tế của các bên và đánh giá mức nghiêm trọng của sự thay đổi này, tuy nhiên, đây không phải là thước đo duy nhất.

(v) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của HĐTM mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích. Sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh nằm ngoài tầm kiểm soát của bên bị thiệt hại, do vậy, một bên chủ thể của hợp đồng vẫn có khả năng phải gánh chịu những hậu quả bất lợi cho dù bên đó đã nỗ lực phòng tránh. Bên có lợi ích bị ảnh hưởng cần chứng minh được rằng họ đã thực hiện mọi nỗ lực nhằm vượt qua những bất lợi gây ra bởi sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh, từ đó cho thấy tinh thần tuân thủ nghiêm túc những gì các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cũng như việc cân nhắc đến lợi ích hợp pháp và chính đáng của bên còn lại. Ví dụ: Các hãng hàng không giá rẻ trên thế giới, trong đó có Việt Nam phải cắt giảm nhân công, cắt giảm các chuyến bay đến các vùng có dịch để phòng tránh dịch bệnh nhưng vẫn không thể tránh khỏi tình trạng phá sản nếu khách hàng buộc họ phải tiếp tục thực hiện hợp đồng vận chuyển hoặc yêu cầu chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do không thể thực hiện được hợp đồng như cam kết trước đó.

Thứ hai, trình tự, thủ tục điều chỉnh hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Khoản 2 Điều 420 quy định: “Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý”. Như vậy, pháp luật chỉ ghi nhận khi xảy ra hoàn cảnh thay đổi cơ bản, theo tinh thần của nguyên tắc thiện chí, các bên phải cùng hợp tác, chia sẻ rủi ro, khó khăn trong việc thực hiện HĐTM. Bên bị ảnh hưởng do hoàn cảnh thay đổi có quyền yêu cầu bên đối tác đàm phán điều chỉnh nội dung hợp đồng đã giao kết và bên đối tác cần phải tham gia đàm phán dựa trên tinh thần thiện chí cùng hợp tác thực hiện hợp đồng. Mặc dù luật quy định đây là quyền của bên có lợi ích bị ảnh hưởng, mà không trực tiếp quy định nghĩa vụ của bên còn lại bắt buộc phải đàm phán lại trong trường hợp xảy ra hoàn cảnh thay đổi, nhưng cần phải hiểu bên được yêu cầu đàm phán buộc phải có nghĩa vụ đàm phán lại hợp đồng một cách thiện chí ngay cả trong trường hợp bên đó có thể không mong muốn điều chỉnh lại hợp đồng vì sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh trở nên có lợi hơn cho họ. Bên tiếp nhận đề nghị cần xử lý lời đề xuất theo phương thức linh hoạt, tránh những hành vi không phù hợp với nguyên tắc thiện chí, ví dụ như trì hoãn việc phản hồi lại lời đề xuất trong thời gian dài mà không nêu rõ lý do hoặc cố ý gây khó khăn, trở ngại cho quá trình điều chỉnh hợp đồng và tổn hại cho chủ thể chịu ảnh hưởng. Tuy nhiên, quy định pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn còn một số nội dung chưa thực sự cụ thể. Ví dụ, nếu trong thời gian được xác định là hợp lý để yêu cầu đàm phán lại mà bên có quyền lại không thực hiện trong “thời hạn hợp lý” thì hậu quả được xác định như thế nào? Xác định “thời hạn hợp lý” có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền yêu cầu của bên bị ảnh hưởng do hoàn cảnh bị thay đổi, nhằm ổn định các giao kết và tránh lạm dụng trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ. Nếu quá thời hạn hợp lý mà không có phản hồi của bên được yêu cầu đàm phán lại thì trách nhiệm của chủ thể này là gì? Hoặc khi xảy ra sự thay đổi hoàn cảnh, bên chịu tác động không có phản hồi kịp thời cho chủ thể còn lại biết dẫn đến rất lâu sau đó mới yêu cầu thì quyền yêu cầu đàm phán, điều chỉnh lại HĐTM còn phù hợp không?

Thứ ba, chủ thể điều chỉnh hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, các bên tham gia giao kết hợp đồng hoặc Tòa án là chủ thể được quyền điều chỉnh nội dung HĐTM. Theo đó, các chủ thể tiến hành điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trước tiên phải là các bên tham gia giao kết hợp đồng. Các bên tham gia giao kết hợp đồng cần thỏa thuận trên tinh thần hợp tác và thiện chí để tìm ra cách thức điều chỉnh hợp đồng trong hoàn cảnh đột nhiên trở nên bất lợi. Việc các bên không thể đạt được thỏa thuận về việc điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là bình thường và có khả năng xảy ra trong thực tế. Vì vậy, vai trò của Tòa án trong việc điều chỉnh hợp đồng là không thể thiếu. Sự can thiệp của Tòa án không xâm phạm đến tính tự do ý chí của các bên, mà chỉ nhằm thiết lập điều khoản mới mà Tòa án cho là phù hợp với mong muốn của mỗi bên cũng như phù hợp với pháp luật, giúp “cứu vãn” hợp đồng mà các bên đã giao kết. Tuy nhiên, quy định trên mới chỉ đề cập đến chủ thể giải quyết tranh chấp là Tòa án, mà không đề cập đến thẩm quyền của Trọng tài.

Thứ tư, hậu quả pháp lý của điều chỉnh hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Theo khoản 3 Điều 420, có hai trường hợp được dự liệu:

(i) Sửa đổi, bổ sung nội dung mới cho HĐTM. Khi các bên đàm phán lại và thỏa thuận thống nhất được phương án điều chỉnh hợp đồng, nội dung mới của hợp đồng sẽ được thiết lập và có giá trị ràng buộc pháp lý đối với các bên. Khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản, thì bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng, nhằm thay đổi nội dung hợp đồng đã được ký kết để bảo đảm lợi ích của các bên. Tuy nhiên, việc đàm phán này phải được thực hiện trong một thời hạn hợp lý kể từ thời điểm có sự thay đổi cơ bản hoàn cảnh thực hiện hợp đồng. Trong thời hạn nhất định, nếu bên có lợi ích bị ảnh hưởng không thực hiện quyền yêu cầu này thì coi như họ không có nhu cầu thay đổi nội dung của hợp đồng.

(ii) HĐTM buộc phải chấm dứt hiệu lực. Nếu sau khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, các bên thể hiện ý chí không tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc không thể đàm phán điều chỉnh hợp đồng thì có thể thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Việc điều chỉnh nội dung HĐTM hoặc chấm dứt hiệu lực hợp đồng có thể được thực hiện bởi Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi[3]. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Quy định của khoản 3 Điều 420 cho thấy, hướng giải quyết là sửa đổi hợp đồng của Tòa án bị hạn chế áp dụng hơn so với hướng giải quyết chấm dứt hợp đồng. Bởi lẽ: (i) Cách thiết kế các điểm tại khoản 3 Điều 420 được hiểu chấm dứt hợp đồng được ưu tiên giải quyết trước sửa đổi hợp đồng[4]; (ii) Quyền sửa đổi hợp đồng lại bị giới hạn vì “Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng”. Quy định này có thể tránh được các trường hợp Tòa án lạm dụng để can thiệp quá mức vào thỏa thuận giữa các bên. Khi Tòa ra quyết định sửa đổi hợp đồng, thì việc sửa đổi các điều khoản cụ thể cần phải được đặt trong chừng mực nhất định đảm bảo cho cho hợp đồng thay đổi hoàn toàn về mặt bản chất, áp đặt cho các bên một hợp đồng hoàn toàn mới về mặt bản chất so với hợp đồng ban đầu. Khoản 4 Điều 420 lại có quy định tương đối rõ ràng kể cả trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt HĐTM, cũng như trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết trong HĐTM. Đây là một quy định chặt chẽ và cần thiết nhằm tránh được sự trì hoãn của một trong các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Điều 420 còn dự liệu “trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, thể hiện sự tôn trọng ý chí trong việc lựa chọn giải pháp tình thế của các bên chủ thể trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc chưa có kết quả.

3. Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện

Trong bối cảnh hội nhập của Việt Nam và diễn biến dịch bệnh Covid-19 ngày càng phức tạp, việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật về thực hiện HĐTM là thực sự cần thiết góp phần tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tham gia thị trường của các thương nhân Việt Nam. Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 được xem là sự thay đổi tích cực trong quy định về hợp đồng. Tuy nhiên, những quy định ban đầu tại Điều 420 cũng đặt ra nhiều vấn đề pháp lý và thực tiễn cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện:

Thứ nhất, cần chi tiết hóa, cụ thể hóa điều kiện để xác định sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh tại điểm c khoản 1 Điều 420 theo hướng định lượng tối thiểu sự thay đổi này làm thay đổi bao nhiều phần trăm nghĩa vụ phát sinh từ HĐTM hay giảm sút bao nhiêu phần trăm doanh thu, làm tăng bao nhiêu chi phí thực hiện hợp đồng không? Đây chính là điều kiện trọng tâm để xác định sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh thực hiện HĐTM.

Thứ hai, cần quy định cụ thể và mở rộng thẩm quyền của các cơ quan tài phán đối với trường hợp các bên không thể thỏa thuận về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý. Bên cạnh Tòa án, pháp luật cần bổ sung vai trò của Trọng tài thương mại trong việc sửa đổi nội dung hợp đồng khi các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý. Bởi lẽ, trên thực tế, có rất nhiều trường hợp các bên ký kết những HĐTM có thỏa thuận lựa chọn Trọng tài thương mại là chủ thể giúp các bên tiến hành giải quyết tranh chấp. Theo Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, mà một bên khởi kiện tại Tòa án, thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được. Như vậy, trong HĐTM, nếu các bên có thỏa thuận trọng tài, thì Trọng tài thương mại cần phải được ghi nhận có thẩm quyền giải quyết việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay không? Theo đó, khoản 3 Điều 420 nên được bổ sung theo hướng: “Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài thương mại…”.

Thứ ba, nên thay đổi tên gọi của Điều 420, cụ thể, từ “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” thành “Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” cho phù hợp với thông lệ quốc tế và đảm bảo được tính chính xác và lôgic với bản chất của sự kiện “hoàn cảnh thay đổi”. Nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng trong hoàn cảnh và điều kiện mới, thì trước hết phải có sự điều chỉnh hợp đồng, thậm chí hợp đồng còn bị chấm dứt. Không nên quan niệm vì được quy định tại mục thực hiện hợp đồng nên phải dùng từ thực hiện.

Thứ tư, về hậu quả pháp lý của việc sửa đổi HĐTM, cần được hướng dẫn cụ thể hơn nữa nhằm xác định các nghĩa vụ và trách nhiệm trước, trong và sau khi sửa đổi hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Theo tác giả, việc sửa đổi hợp đồng phải đảm bảo tối thiểu một số yêu cầu như: Việc sửa đổi hợp đồng phải tuân thủ các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng; các điều khoản mới sửa đổi có hiệu lực thay thế cho các điều khoản cũ đã bị sửa đổi; việc sửa đổi hợp đồng không làm thay đổi việc chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp cũng như thời hiệu khởi kiện... Đồng thời, khắc phục một số khiếm khuyết như đã phân tích và luận giải trong bài viết.

ThS. Đinh Văn Cường

NCS Trường Đại học Luật Hà Nội



[1]. Xem Điều 26 của Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế (Công ước nền tảng trong việc quy định cách thức, quy trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế giữa các quốc gia) có quy định: “Mọi điều ước quốc tế đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được thi hành một cách thiện chí”.

[2]. Xem Rodrigo Momberg Uribe, “The effect of a change of circumstances on the binding force of contracts - Comparative perspectives”, 2011, p. 55-57.

[3]. Xem PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ - PGS. TS. Trần Thị Huệ, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước CHXHCN Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 633 - 634.

[4]. Xem kết cấu khoản 3 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: