Chủ nhật 08/02/2026 06:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đối với nguồn không khí tại khu công nghiệp ở Thanh Hóa hiện nay

Hiện nay, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy dấu hiệu của sự ô nhiễm môi trường ở khắp mọi nơi. Khái niệm mới “khủng hoảng môi trường” thường xuyên được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông đại chúng, là các suy thoái về chất lượng môi trường sống trên quy mô toàn cầu, đe dọa cuộc sống của loài người trên trái đất, trong đó, một trong những biểu hiện của khủng hoảng môi trường là ô nhiễm không khí (bụi, SO2, CO2...) vượt tiêu chuẩn cho phép tại các đô thị, khu công nghiệp.

Ở Việt Nam, tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát thải khí tác động xấu đến môi trường phải có trách nhiệm giảm thiểu và xử lý theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở tìm hiểu về thực trạng nguồn không khí của tỉnh Thanh Hóa, cụ thể là 02 khu công nghiệp lớn của tỉnh: Khu công nghiệp Bỉm Sơn và Khu kinh tế Nghi Sơn, tác giả bài viết đã đánh giá việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở những nơi này, phân tích rõ nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan dẫn đến những hạn chế, đồng thời, đề ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường trong thời gian tới.

Thanh Hóa là tỉnh có vị trí chiến lược quân sự, kinh tế quan trọng của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước, có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời và nhiều tiềm năng phong phú. Với các giải pháp đồng bộ, toàn diện, những năm gần đây, Thanh Hóa đã và đang là một điểm sáng trong phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, song song với sự phát triển về kinh tế, xã hội và đô thị hóa hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường do bụi, khí thải đang ngày càng phức tạp, khó quản lý. Các nguồn phát sinh khí thải chủ yếu trên địa bàn tỉnh gồm công nghiệp, giao thông, xây dựng và dân sinh, nông nghiệp và làng nghề, chôn lấp và xử lý chất thải... Đây là một thách thức không nhỏ đối với các cơ quan chức năng, các nhà quản lý tại tỉnh Thanh Hóa.

Tìm hiểu về thực trạng nguồn không khí ở 02 khu công nghiệp lớn của tỉnh là Khu công nghiệp Bỉm Sơn và Khu kinh tế Nghi Sơn cho thấy:

(i) Khu công nghiệp Bỉm Sơn là khu công nghiệp đa ngành. Mỗi ngành sản xuất phát sinh các chất gây ô nhiễm không khí đặc trưng theo từng loại hình công nghệ; do đang dần hoàn thiện cơ sở hạ tầng, môi trường không khí chủ yếu là bụi đất, cát lơ lửng trong khu vực dự án. Tuy nhiên, các dự án trong khu công nghiệp có lượng phát thải khí thải công nghiệp không lớn và được xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn cho phép trước khi thải ra môi trường. Theo kết quả phân tích thông số và nồng độ một số chất gây ô nhiễm trong môi trường không khí xung quanh, môi trường không khí tại khu A, khu công nghiệp Bỉm Sơn, tất cả các chỉ tiêu môi trường đều nằm trong giới hạn cho phép QCVN 05: 2013/BTNMT (quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh) và QCVN 26:2010/BTNMT (quy chuẩn quốc gia về tiếng ồn). Tại khu B, tất cả các chỉ tiêu môi trường đều nằm trong giới hạn cho phép QCVN 05: 2013/BTNMT và QCVN 26: 2010/BTNMT[1].

(ii) Khu kinh tế Nghi Sơn: Hiện nay, tại khu kinh tế Nghi Sơn có các dự án thuộc đối tượng phát thải khí thải lớn phải lắp đặt quan trắc online theo quy định tại Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường gồm nhà máy Xi măng Nghi Sơn, Xi măng Công Thanh, nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1, nhà máy Lọc Hóa dầu Nghi Sơn đang trong giai đoạn vận hành thử nghiệm các công trình bảo vệ môi trường. Lưu lượng khí thải phát sinh tại các dự án tương đối lớn, dao động từ 8.340 ÷ 2.300.000 m3 khí/giờ. Tất cả các dự án đều bị đầy đủ hệ thống thiết bị xử lý bụi, khí thải theo đúng quy định và đang hoàn thiện việc đầu tư lắp đặt hệ thống quan trắc online theo quy định. Tuy nhiên, việc kết nối kết quả quan trắc khí thải, nước thải tự động liên tục vẫn chưa được kết nối với Sở Tài nguyên và Môi trường do chưa xây dựng và lắp đặt trang thiết bị tiếp nhận. Theo kết quả quan trắc môi trường không khí tại ống khói của các nhà máy, các chỉ tiêu phân phân tích đều đạt theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, đó là QCVN 19: 2009/BTNMT (quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ) hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của ngành. Qua tìm hiểu đồ thị biến thiên các thành phần ô nhiễm trong khí thải tại nhà máy điển hình cho các hoạt động sản xuất tại Khu kinh tế Nghi Sơn bao gồm nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1, Nhà máy xi măng Nghi Sơn, Nhà máy chế biến hải sản xuất khẩu Long Hải, Nhà máy sản xuất giày ANNORA[2], kết quả biểu diễn trên đồ thị cho thấy, các dự án nghiêm túc vận hành hệ thống xử lý khí thải, nồng độ các chất ô nhiễm đặc trưng vẫn nằm trong ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn QCVN 19: 2009/BTNMT.

Như vậy, trong những năm qua việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở một số khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng ghi nhận. Các doanh nghiệp đã quan tâm nhiều hơn đến nhiệm vụ bảo vệ môi trường và các tác động về mặt xã hội từ các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhận thức về môi trường của các doanh nghiệp được nâng cao, ý thức bảo vệ môi trường đang dần trở thành thói quen, nhiệm vụ thường xuyên của các doanh nghiệp. Bước đầu các khu công nghiệp đã hạn chế được một phần mức độ gia tăng ô nhiễm, chú trọng khắc phục suy thoái, phục hồi môi trường. Điều kiện vệ sinh môi trường trong các khu công nghiệp đang từng bước được cải thiện, người dân sống quanh khu công nghiệp có điều kiện môi trường ngày càng tốt hơn. Các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tích cực đầu tư sản xuất, đổi mới trang thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và từng bước đầu tư hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường...

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đối với nguồn không khí trong một số khu công nghiệp ở Thanh Hóa hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện do những nguyên nhân chủ quan và khách quan như: (i) Việc triển khai những quy định của pháp luật về lĩnh vực bảo vệ môi trường còn chưa thường xuyên, chỉ đạo tập trung cao khi có kế hoạch chỉ đạo sơ kết, tổng kết và thời gian sau đó thì ít kiểm tra đôn đốc, nhắc nhở. (ii) Pháp luật bảo vệ môi trường thường xuyên thay đổi, song các doanh nghiệp ít tìm hiểu, thiếu chủ động mà hầu như khi có sự đôn đốc nhắc nhở của các cơ quan chức năng mới thực hiện. (iii) Việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của các chủ thể thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường; cấp uỷ Đảng, chính quyền; đội ngũ cán bộ, công chức đã nhận thức tương đối đầy đủ về việc bảo vệ môi trường và quán triệt nội dung bảo vệ môi trường, nhưng chưa thực sự có “tâm huyết” đến cùng trong thực hiện Luật Bảo vệ môi trường. (iv) Việc thông tin đến được với các doanh nghiệp hầu như chỉ một chiều, khi các doanh nghiệp thắc mắc thì cán bộ, công chức mới giải đáp. (v) Cán bộ, công chức làm công tác quản lý môi trường chưa thực sự chủ động đến với doanh nghiệp, chưa thực sự coi doanh nghiệp như “khách hàng” của mình để có tinh thần thái độ phục vụ tốt nhất.

Để thực hiện tốt pháp luật bảo vệ môi trường đối với nguồn không khí ở các khu công nghiệp, tỉnh Thanh Hóa cần nghiên cứu, thực hiện tốt các giải pháp như:

Một là, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý và nâng cao năng lực công tác cho cán bộ quản lý môi trường trong các khu công nghiệp

Hiện nay, cán bộ Phòng Quản lý môi trường thuộc Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa đều có trình độ từ đại học trở lên và được đào tạo về chuyên ngành môi trường hoặc có liên quan đến vấn đề môi trường. Về cơ bản đã đáp ứng được yêu về công tác quản lý môi trường trong các khu công nghiệp, tuy nhiên với số lượng ít so với yêu cầu thực tế đặt ra. Để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường thì trong thời gian tới Ban Quản lý các khu công nghiệp cần xem xét, tăng cường đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu đặt ra trong công tác quản lý việc thực hiện pháp luật môi trường trong các khu công nghiệp.

Hai là, tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong các khu công nghiệp

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc quản lý môi trường trong các khu công nghiệp cần tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật. Việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp của các doanh nghiệp phần lớn còn chưa chấp hành nghiêm túc, vẫn còn tình trạng cố tình lợi dụng kẽ hở của pháp luật để thực hiện hành vi mong muốn của mình gây ô nhiễm môi trường. Hoạt động kiểm tra cần phải tiến hành thường xuyên, liên tục để các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường hoàn thiện những quy định pháp luật, kịp thời sửa chữa, bổ sung và đưa ra những biện pháp, cách thức quản lý về môi trường phù hợp, đồng thời, có thể phát hiện ra những yếu kém, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đối với nguồn không khí trong các khu công nghiệp từ đó có những biện pháp nhằm bảo đảm sự tôn trọng và thực hiện pháp luật của các chủ thể thực hiện pháp luật.

Ba là, nâng cao nhận thức của các chủ thể thực hiện pháp luật về vai trò, tầm quan trọng của pháp luật bảo vệ môi trường đối với nguồn không khí trong các khu công nghiệp

Hiện nay, mặc dù ý thức bảo vệ môi trường của các chủ thể đã được nâng lên nhưng việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường chưa thực sự đầy đủ, nghiêm túc. Do đó, phải tiếp tục nâng cao ý thức về vị trí, vai trò, ý nghĩa thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tới các cấp ủy đảng, chính quyền, các doanh nghiệp, các tổ chức và cơ quan nhà nước các cấp về bảo vệ môi trường. Bởi lẽ, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội; làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục để các chủ thể có được tương đối đầy đủ thông tin về môi trường, pháp luật về môi trường từ đó chủ động trong việc phòng ngừa ô nhiễm và xử lý ô nhiễm trong quá trình sản xuất.

Bốn là, tăng cường sự hợp tác quốc tế về thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đối với nguồn không khí trong các khu công nghiệp

Cần có chính sách phù hợp hơn nữa để tranh thủ sự giúp đỡ về kỹ thuật chuyên môn công nghệ và trình độ quản lý về môi trường của các nước, các tổ chức quốc tế. Có thể gửi cán bộ, công chức đi đào tạo ở các nước về chuyên ngành môi trường, pháp luật môi trường để có những chuyên gia về môi trường phục vụ cho công tác quản lý môi trường trong các khu công nghiệp ở địa phương được tốt hơn. Bên cạnh đó, cần tăng cường việc huy động nguồn lực tài chính cho công tác bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp, bởi lẽ ngân sách chi cho hoạt động bảo vệ môi trường trong quản lý nhà nước còn hạn chế. Cần đẩy mạnh phát triển kinh tế để tăng nguồn ngân sách cho bảo vệ môi trường theo nguyên tắc phát triển kinh tế - xã hội đến đâu phải gắn liền với bảo vệ môi trường đến đó, thể hiện trong các khoản thu hợp lý cho bảo vệ môi trường từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp.

Phạm Thị Hoài Thu

Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa





[1]. Phân tích dựa trên các số liệu của Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ môi trường - Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa, Báo cáo Quan trắc chất lượng môi trường các đợt năm 2018.

[2]. Nguồn: Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ môi trường - Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa, Báo cáo Quan trắc chất lượng môi trường các đợt năm 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: