Thứ tư 18/03/2026 17:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại Điều 260 Bộ luật Hình sự

Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015)

Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015), so với Bộ luật Hình sự năm 1999[1] có sự thay đổi về tên tội danh theo hướng mở rộng chủ thể của tội phạm không chỉ áp dụng đối với người điều khiển phương tiện giao thông mà áp dụng đối với tất cả các chủ thể tham gia giao thông đường bộ bao gồm cả chủ thể không điều khiển phương tiện như người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ. Việc sửa đổi này hoàn toàn phù hợp Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và giải quyết triệt để các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đối với các trường hợp người không điều phương tiện tham gia giao thông thực hiện hành vi phạm.

1. Cấu thành tội phạm của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1.1. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này cũng phải đáp ứng đủ các điều kiện về chủ thể tội phạm nói chung đó là có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) và đạt độ tuổi chịu TNHS theo luật định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự người đủ 16 tuổi trở lên không ở trong tình trạng không có năng lực TNHS [2] tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác về tính mạng, sức khỏe và tài sản thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đều chủ thể của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Bộ luật Hình sự không đưa ra khái niệm thế nào là người gia giao thông đường bộ. Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 22 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Người tham gia giao thông bao gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ”.

Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải là chủ thể của tội phạm này trong mọi trường hợp những đối tượng này thực hiện hành vi phạm không bị truy cứu TNHS.

1.2. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là trật tự an toàn giao thông đường bộ do nhà nước quy định. Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định thế nào là trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tuy nhiên, căn cứ vào Luật Giao thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn pháp luật của cơ quan có thẩm quyền có thể xác định được trật tự an toàn giao thông đường bộ là những quy định nhằm bảo đảm an toàn giao thông vận tải, bảo đảm cho hoạt động vận tải đường bộ được thông suốt, tiến hành bình thường, bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của công dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của các tổ chức và tài sản của công dân[3].

1.3. Mặt khách quan của tội phạm

- Hành vi khách quan

Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác[4]. Việc xác định hành vi vi phạm ngoài căn cứ theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự phải căn cứ vào Luật Giao thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn pháp luật của cơ quan có thẩm quyền để xem xét đảm bảo tính chính xác khi giải quyết vụ án hình sự.

Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được thể hiện phổ biến ở hai dạng: Hành vi vi phạm về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và hành vi vi phạm khác không điều khiển phương tiện giao thông đường bộ[5].

Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định thế nào phương tiện giao thông đường bộ cần căn cứ vào Luật Giao thông đường bộ 2008 để xác định: Phương tiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ. Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự. Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (sau đây gọi là xe thô sơ) gồm xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự[6].

(i). Hành vi vi phạm về điều khiển phương tiện giao thông thường tập trung ở một số nhóm hành vi sau:

- Hành vi vi phạm về tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn của phương tiện giao thông: Điều khiển xe khi không có đầy đủ các loại đèn chiếu sáng, hệ thống hãm kém hiệu lực, hệ thống chuyển hướng, bánh lốp rơ mòn quá mức quy định hoặc không đúng kích cỡ, tiêu chuẩn kỹ thuật của từng loại xe… Trên thực tế không phải trường hợp nào người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ cũng nhận biết được những thiếu sót về mặt kỹ thuật của phương tiện và luật cũng không buộc họ phải nhận biết được lỗi kỹ thuật. Ví dụ, trường hợp phương tiện giao thông xuất xưởng không đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật theo quy định khi tham gia giao thông để xảy ra sự cố kỹ thuật dẫn đến tai nạn. Trường trường hợp này người điều kiển phương tiện không phải chịu TNHS.

- Hành vi phạm quy định về điều kiện người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ: Không đạt độ tuổi và sức khỏe theo quy định, không có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp…

- Hành vi vi phạm về quy tắc tham gia giao thông đường bộ: Không chấp hành báo hiệu đường bộ, vi phạm tốc độ và khoảng cách giữa các xe, vi phạm chuyển hướng xe, lùi xe, tránh xe đi ngược chiều, không nhường đường tại nơi đường giao nhau, đoạn đường bộ giao cắt với đường sắt, vi phạm quy định về dừng xe, đỗ xe, vi phạm quy định khi qua phà, qua cầu, vi phạm quy định về giao thông trên đường cao tốc, trong hầm đường bộ, vi phạm quy định về bảo đảm trọng tải và khổ giới hạn của đường bộ, vi phạm quy định về kéo xe, kéo rơ moóc, đội mũ bảo hiểm…

- Hành vi vi phạm quy định vận tải đường bộ: Chở hàng hóa, chở hành khánh quá tải trọng của xe, xếp hàng hóa trên xe cồng kềnh, hàng to quá khổ, chở hàng độc hại, dễ cháy nổ sai quy định…[7].

(ii) Hành vi vi phạm khác không điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ nhưng có tham gia giao thông đường bộ:

Hành vi vi phạm không điều khiển phương tiện giao thông nhưng có tham gia giao thông như hành vi điều khiển xe máy chuyên dùng (gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh có tham gia giao thông đường bộ)[8], người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ, chạy bộ trên đường bộ…

1.4. Hậu quả

Hậu quả của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông là những thiệt hại về vật chất (thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác) do hành vi phạm tội là nguyên nhân trực tiếp gây ra, hậu quả có mối quan hệ nhân quả chặt chẽ với hành vi phạm tội. Dấu hiệu hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc trong hầu hết các khoản của điều luật (trừ trường trường hợp quy định tại khoản 4). Cần phân biệt hậu quả của tội phạm là căn cứ định tội và hậu quả thực tế của tội phạm. Hậu quả tội phạm là căn cứ định tội là những thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra. Hậu quả thực tế của tội phạm ngoài những thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra còn có những thiệt hại gián tiếp khác do bị thương phải chi phí cho việc điều trị và các chi phí khác…

1.5. Mặt chủ quan

Người thực hiện hành vi phạm quy định về tham gia giao thông với lỗi vô ý có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả. Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. Vô ý vì cẩu thả là trường hợp người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó[9].

Đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử và trong khoa học pháp lý còn có quan điểm về “lỗi hỗn hợp”. Bộ luật Hình sự chỉ đưa ra khái niệm “lỗi cố ý”, “lỗi vô ý” không đề cấp đến “lỗi hỗn hợp”. Trong khoa học pháp lý chưa có khái niệm thống nhất về “lỗi hỗn hợp”. Có quan điểm đề cập “lỗi hỗn hợp” là lỗi cố ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và vô ý đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, cũng có quan điểm gọi trường hợp này là “hỗn hợp lỗi”[10]. Quan điểm này không đúng với bản chất của lỗi vì lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Không phải lỗi là chỉ thể hiện đối với hành vi hoặc chỉ đối với hậu quả.

Quan điểm khác “lỗi hỗn hợp” là trường hợp chỉ thái độ tâm lý của nhiều người đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà họ cùng đã gây ra. Ví dụ: Lỗi của cả hai bên gây ra hậu quả đối với người thứ ba trường hợp này được thừa nhận phổ biến trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử hiện nay[11].

Trên cơ sở nghiên lý luận về cấu thành tội phạm của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ giúp cho người làm công tác nghiên cứu pháp luật và người làm công tác áp dụng pháp luật nhận thức đúng và chính xác bản chất của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, giúp phân biệt các hành vi vi phạm pháp luật thuộc tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, phân biệt tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ với các tội phạm khác xâm phạm trật tự, an toàn giao thông như tội cản trở giao thông đường bộ…

2. Những vấn đề cần lưu ý trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Một là, định tội danh đối với trường hợp người điều khiện phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn ở những nơi không phải là đường giao thông như sân trường, bến bãi, công trường…

Trường hợp phương tiện giao thông đường bộ di chuyển, hoạt động nhưng không tham gia giao thông đường bộ (như di chuyển hoạt động trong trường học, công trường đang thi công hoặc đang khai thác) mà gây tai nạn thì hành vi của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không phải là hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nên không bị truy cứu TNHS về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tùy từng trường hợp mà bị truy cứu TNHS về tội phạm tương ứng khác nếu thỏa mãn dấu hiệu tội phạm đó như “Tội vô ý làm chết người” (Điều 128); “Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính” (Điều 129); “Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người” (Điều 295)… quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015[12].

Quy định trên hướng dẫn Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 là phù hợp nhưng chưa đầy đủ khi chỉ về quy định về “phương tiện giao thông đường bộ”. Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sự thay đổi về tên tội danh từ “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” thành “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên quy định cần áp dụng chung đối phương tiện tham gia giao thông[13], bao gồm cả “xe máy chuyên dùng” gây tai nạn khi không tham gia giao thông đường bộ như ủi xúc đất, san lấp, cày ruộng, cẩu hàng…

2. Xác định hậu quả là căn cứ để định tội

Xác định thiệt hại về tài sản là căn cứ định tội cần chú ý thiệt hại phải là thiệt hại về tài sản của người khác. Tuy nhiên, đối với trường hợp tài sản nhận được thông qua hợp đồng dân sự (ví dụ: Tài xế lái xe thuê, thuê xe qua hợp đồng) thì không phải chịu TNHS trong việc gây thiệt hại về tài sản cho chủ xe vì vấn đề này đã được điều chỉnh bởi quan hệ pháp luật dân sự. Hiện nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng chính thức quy định này, mà mới chỉ có văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Ngành Tư pháp[14].

3. Định tội trong trường hợp lỗi hỗn hợp

Vấn đề giải quyết vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp xác định hai bên cùng thực hiện hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là nguyên nhân trực tiếp gây hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe tài sản cho người thứ ba. Cả hai bên cùng có lỗi hay còn gọi là lỗi hỗn hợp. Trường hợp này khởi tố cả hai bên hay chỉ khởi tố một bên còn có những quan điểm khác nhau về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trường hợp hai bên cùng có lỗi gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho bên thứ ba thì không thể khởi tố cả hai bên liên quan mà chúng ta chỉ có thể khởi tố đối với một trong hai bên liên quan. Nếu khởi tố cả hai bên vô hình chung đã coi đây là đồng phạm trong vụ án, cả hai cùng là người thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, về mặt lý luận đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên, cố ý cùng thực hiện một tội phạm, có sự thống nhất về ý chí và phải là lỗi cố ý. Trong vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ chỉ là lỗi vô ý và không thể có đồng phạm.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Trường hợp hai bên cùng có lỗi gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho bên thứ ba cần phải khởi tố cả 02 bên vì cả hai bên cùng có lỗi vi phạm Luật Giao thông đường bộ là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn giao thông, có hậu quả xảy ra nên cả hai bên cùng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả đó[15].

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai vì trong trường hợp này cả hai bên cùng thực hiện hành vi vi phạm về tham gia giao đường bộ độc lập nhưng cả hai hành vi gây ra hậu quả chung. Xét về yếu tố lỗi hai bên cùng có lỗi trực tiếp gây ra thiệt hại nên không thể khởi tố một bên như quan điểm thứ nhất, nếu khởi tố một bên là bỏ lọt tội phạm, không thể đánh đồng mọi trường hợp cùng thực hiện tội phạm phải là đồng phạm. Tuy nhiên, cần xác định rõ mức độ lỗi của từng bên để làm căn cứ khởi tố.

4. Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ

Do tính phức tạp của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ các công tác điều tra ban đầu như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định về nồng đồ cồn, ma túy, trưng cầu giám định về thương tích, tài sản, thu thập tài liệu, chứng cứ là dữ liệu điện tử tại hiện trường (Nếu có), lấy lời khai người làm chứng… có ý nghĩa quan trọng trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ án. Vì vậy, công tác điều tra ban đầu phải căn cứ vào các quy định của pháp luật, không được vi phạm thủ tục tố tụng để đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án được chính xác và có căn cứ.

Trong thực tiễn điều tra, truy tố xét xử tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ bên cạnh việc nhận thức những vấn đề lý luận về cấu thành tội phạm của loại tội này cần nắm chắc các quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Giao thông đường bộ, các văn bản hướng dẫn pháp luật của cơ quan có thẩm quyền, văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Ngành Tòa án, Viện kiểm sát đặc biệt những vấn đề cần lưu ý trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như tác giả vừa trình bày ở trên là hết sức cần thiết tránh các trường hợp oan sai, sót lọt tội phạm./.

Hoàng Nguyên Thắng
Viện kiểm sát quân sự khu vực 11


[1] Điều 202 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Bộ luật Hình sự năm 1999.

[2] Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Đinh Văn Quế, “Bình luận về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, Tạp chí Kiểm sát 11/2020, tr 23.

[4] Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày ngày 28/08/2013 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông.

[5] Đinh Văn Quế, “Bình luận về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, Tạp chí Kiểm sát 11/2020, tr 23.

[6] Khoản 17, 18, 19 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

[7] Tài liệu tập huấn nghiệp vụ xét xử đợt II - năm 2014 của Tòa án Nhân dân tỉnh Bắc Ninh, tr.58 – tr.59.

[8] Khoản 20 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

[9] Khoản 1, 2 Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[10] Trường hợp hỗn hợp lỗi trong luật hình sự

[11] Giải quyết án tai nạn giao thông trong trường hợp lỗi hỗn hợp gây hậu quả cho người thứ ba,

[12] Thông tư số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC (theo trích dấn số 3).

[13] Khoản 22 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008.

[14] Mục 3 Công văn số 3129/VKSTC-V1A về việc hướng dẫn giải quyết án tai nạn giao thông, ngày 10/7/2009 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

[15] Giải quyết án tai nạn giao thông trong trường hợp lỗi hỗn hợp gây hậu quả cho người thứ ba (theo trích dẫn số 5).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: