Chủ nhật 13/09/2026 13:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại Điều 260 Bộ luật Hình sự

Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015)

Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015), so với Bộ luật Hình sự năm 1999[1] có sự thay đổi về tên tội danh theo hướng mở rộng chủ thể của tội phạm không chỉ áp dụng đối với người điều khiển phương tiện giao thông mà áp dụng đối với tất cả các chủ thể tham gia giao thông đường bộ bao gồm cả chủ thể không điều khiển phương tiện như người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ. Việc sửa đổi này hoàn toàn phù hợp Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và giải quyết triệt để các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đối với các trường hợp người không điều phương tiện tham gia giao thông thực hiện hành vi phạm.

1. Cấu thành tội phạm của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1.1. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này cũng phải đáp ứng đủ các điều kiện về chủ thể tội phạm nói chung đó là có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) và đạt độ tuổi chịu TNHS theo luật định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự người đủ 16 tuổi trở lên không ở trong tình trạng không có năng lực TNHS [2] tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác về tính mạng, sức khỏe và tài sản thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đều chủ thể của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Bộ luật Hình sự không đưa ra khái niệm thế nào là người gia giao thông đường bộ. Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 22 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Người tham gia giao thông bao gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ”.

Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải là chủ thể của tội phạm này trong mọi trường hợp những đối tượng này thực hiện hành vi phạm không bị truy cứu TNHS.

1.2. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là trật tự an toàn giao thông đường bộ do nhà nước quy định. Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định thế nào là trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tuy nhiên, căn cứ vào Luật Giao thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn pháp luật của cơ quan có thẩm quyền có thể xác định được trật tự an toàn giao thông đường bộ là những quy định nhằm bảo đảm an toàn giao thông vận tải, bảo đảm cho hoạt động vận tải đường bộ được thông suốt, tiến hành bình thường, bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của công dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của các tổ chức và tài sản của công dân[3].

1.3. Mặt khách quan của tội phạm

- Hành vi khách quan

Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác[4]. Việc xác định hành vi vi phạm ngoài căn cứ theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự phải căn cứ vào Luật Giao thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn pháp luật của cơ quan có thẩm quyền để xem xét đảm bảo tính chính xác khi giải quyết vụ án hình sự.

Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được thể hiện phổ biến ở hai dạng: Hành vi vi phạm về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và hành vi vi phạm khác không điều khiển phương tiện giao thông đường bộ[5].

Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định thế nào phương tiện giao thông đường bộ cần căn cứ vào Luật Giao thông đường bộ 2008 để xác định: Phương tiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ. Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự. Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (sau đây gọi là xe thô sơ) gồm xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự[6].

(i). Hành vi vi phạm về điều khiển phương tiện giao thông thường tập trung ở một số nhóm hành vi sau:

- Hành vi vi phạm về tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn của phương tiện giao thông: Điều khiển xe khi không có đầy đủ các loại đèn chiếu sáng, hệ thống hãm kém hiệu lực, hệ thống chuyển hướng, bánh lốp rơ mòn quá mức quy định hoặc không đúng kích cỡ, tiêu chuẩn kỹ thuật của từng loại xe… Trên thực tế không phải trường hợp nào người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ cũng nhận biết được những thiếu sót về mặt kỹ thuật của phương tiện và luật cũng không buộc họ phải nhận biết được lỗi kỹ thuật. Ví dụ, trường hợp phương tiện giao thông xuất xưởng không đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật theo quy định khi tham gia giao thông để xảy ra sự cố kỹ thuật dẫn đến tai nạn. Trường trường hợp này người điều kiển phương tiện không phải chịu TNHS.

- Hành vi phạm quy định về điều kiện người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ: Không đạt độ tuổi và sức khỏe theo quy định, không có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp…

- Hành vi vi phạm về quy tắc tham gia giao thông đường bộ: Không chấp hành báo hiệu đường bộ, vi phạm tốc độ và khoảng cách giữa các xe, vi phạm chuyển hướng xe, lùi xe, tránh xe đi ngược chiều, không nhường đường tại nơi đường giao nhau, đoạn đường bộ giao cắt với đường sắt, vi phạm quy định về dừng xe, đỗ xe, vi phạm quy định khi qua phà, qua cầu, vi phạm quy định về giao thông trên đường cao tốc, trong hầm đường bộ, vi phạm quy định về bảo đảm trọng tải và khổ giới hạn của đường bộ, vi phạm quy định về kéo xe, kéo rơ moóc, đội mũ bảo hiểm…

- Hành vi vi phạm quy định vận tải đường bộ: Chở hàng hóa, chở hành khánh quá tải trọng của xe, xếp hàng hóa trên xe cồng kềnh, hàng to quá khổ, chở hàng độc hại, dễ cháy nổ sai quy định…[7].

(ii) Hành vi vi phạm khác không điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ nhưng có tham gia giao thông đường bộ:

Hành vi vi phạm không điều khiển phương tiện giao thông nhưng có tham gia giao thông như hành vi điều khiển xe máy chuyên dùng (gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh có tham gia giao thông đường bộ)[8], người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ, chạy bộ trên đường bộ…

1.4. Hậu quả

Hậu quả của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông là những thiệt hại về vật chất (thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác) do hành vi phạm tội là nguyên nhân trực tiếp gây ra, hậu quả có mối quan hệ nhân quả chặt chẽ với hành vi phạm tội. Dấu hiệu hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc trong hầu hết các khoản của điều luật (trừ trường trường hợp quy định tại khoản 4). Cần phân biệt hậu quả của tội phạm là căn cứ định tội và hậu quả thực tế của tội phạm. Hậu quả tội phạm là căn cứ định tội là những thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra. Hậu quả thực tế của tội phạm ngoài những thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra còn có những thiệt hại gián tiếp khác do bị thương phải chi phí cho việc điều trị và các chi phí khác…

1.5. Mặt chủ quan

Người thực hiện hành vi phạm quy định về tham gia giao thông với lỗi vô ý có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả. Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. Vô ý vì cẩu thả là trường hợp người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó[9].

Đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử và trong khoa học pháp lý còn có quan điểm về “lỗi hỗn hợp”. Bộ luật Hình sự chỉ đưa ra khái niệm “lỗi cố ý”, “lỗi vô ý” không đề cấp đến “lỗi hỗn hợp”. Trong khoa học pháp lý chưa có khái niệm thống nhất về “lỗi hỗn hợp”. Có quan điểm đề cập “lỗi hỗn hợp” là lỗi cố ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và vô ý đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, cũng có quan điểm gọi trường hợp này là “hỗn hợp lỗi”[10]. Quan điểm này không đúng với bản chất của lỗi vì lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Không phải lỗi là chỉ thể hiện đối với hành vi hoặc chỉ đối với hậu quả.

Quan điểm khác “lỗi hỗn hợp” là trường hợp chỉ thái độ tâm lý của nhiều người đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà họ cùng đã gây ra. Ví dụ: Lỗi của cả hai bên gây ra hậu quả đối với người thứ ba trường hợp này được thừa nhận phổ biến trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử hiện nay[11].

Trên cơ sở nghiên lý luận về cấu thành tội phạm của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ giúp cho người làm công tác nghiên cứu pháp luật và người làm công tác áp dụng pháp luật nhận thức đúng và chính xác bản chất của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, giúp phân biệt các hành vi vi phạm pháp luật thuộc tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, phân biệt tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ với các tội phạm khác xâm phạm trật tự, an toàn giao thông như tội cản trở giao thông đường bộ…

2. Những vấn đề cần lưu ý trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Một là, định tội danh đối với trường hợp người điều khiện phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn ở những nơi không phải là đường giao thông như sân trường, bến bãi, công trường…

Trường hợp phương tiện giao thông đường bộ di chuyển, hoạt động nhưng không tham gia giao thông đường bộ (như di chuyển hoạt động trong trường học, công trường đang thi công hoặc đang khai thác) mà gây tai nạn thì hành vi của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không phải là hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nên không bị truy cứu TNHS về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tùy từng trường hợp mà bị truy cứu TNHS về tội phạm tương ứng khác nếu thỏa mãn dấu hiệu tội phạm đó như “Tội vô ý làm chết người” (Điều 128); “Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính” (Điều 129); “Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người” (Điều 295)… quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015[12].

Quy định trên hướng dẫn Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 là phù hợp nhưng chưa đầy đủ khi chỉ về quy định về “phương tiện giao thông đường bộ”. Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sự thay đổi về tên tội danh từ “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” thành “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên quy định cần áp dụng chung đối phương tiện tham gia giao thông[13], bao gồm cả “xe máy chuyên dùng” gây tai nạn khi không tham gia giao thông đường bộ như ủi xúc đất, san lấp, cày ruộng, cẩu hàng…

2. Xác định hậu quả là căn cứ để định tội

Xác định thiệt hại về tài sản là căn cứ định tội cần chú ý thiệt hại phải là thiệt hại về tài sản của người khác. Tuy nhiên, đối với trường hợp tài sản nhận được thông qua hợp đồng dân sự (ví dụ: Tài xế lái xe thuê, thuê xe qua hợp đồng) thì không phải chịu TNHS trong việc gây thiệt hại về tài sản cho chủ xe vì vấn đề này đã được điều chỉnh bởi quan hệ pháp luật dân sự. Hiện nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng chính thức quy định này, mà mới chỉ có văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Ngành Tư pháp[14].

3. Định tội trong trường hợp lỗi hỗn hợp

Vấn đề giải quyết vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp xác định hai bên cùng thực hiện hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là nguyên nhân trực tiếp gây hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe tài sản cho người thứ ba. Cả hai bên cùng có lỗi hay còn gọi là lỗi hỗn hợp. Trường hợp này khởi tố cả hai bên hay chỉ khởi tố một bên còn có những quan điểm khác nhau về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trường hợp hai bên cùng có lỗi gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho bên thứ ba thì không thể khởi tố cả hai bên liên quan mà chúng ta chỉ có thể khởi tố đối với một trong hai bên liên quan. Nếu khởi tố cả hai bên vô hình chung đã coi đây là đồng phạm trong vụ án, cả hai cùng là người thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, về mặt lý luận đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên, cố ý cùng thực hiện một tội phạm, có sự thống nhất về ý chí và phải là lỗi cố ý. Trong vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ chỉ là lỗi vô ý và không thể có đồng phạm.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Trường hợp hai bên cùng có lỗi gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho bên thứ ba cần phải khởi tố cả 02 bên vì cả hai bên cùng có lỗi vi phạm Luật Giao thông đường bộ là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn giao thông, có hậu quả xảy ra nên cả hai bên cùng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả đó[15].

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai vì trong trường hợp này cả hai bên cùng thực hiện hành vi vi phạm về tham gia giao đường bộ độc lập nhưng cả hai hành vi gây ra hậu quả chung. Xét về yếu tố lỗi hai bên cùng có lỗi trực tiếp gây ra thiệt hại nên không thể khởi tố một bên như quan điểm thứ nhất, nếu khởi tố một bên là bỏ lọt tội phạm, không thể đánh đồng mọi trường hợp cùng thực hiện tội phạm phải là đồng phạm. Tuy nhiên, cần xác định rõ mức độ lỗi của từng bên để làm căn cứ khởi tố.

4. Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ

Do tính phức tạp của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ các công tác điều tra ban đầu như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định về nồng đồ cồn, ma túy, trưng cầu giám định về thương tích, tài sản, thu thập tài liệu, chứng cứ là dữ liệu điện tử tại hiện trường (Nếu có), lấy lời khai người làm chứng… có ý nghĩa quan trọng trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ án. Vì vậy, công tác điều tra ban đầu phải căn cứ vào các quy định của pháp luật, không được vi phạm thủ tục tố tụng để đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án được chính xác và có căn cứ.

Trong thực tiễn điều tra, truy tố xét xử tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ bên cạnh việc nhận thức những vấn đề lý luận về cấu thành tội phạm của loại tội này cần nắm chắc các quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Giao thông đường bộ, các văn bản hướng dẫn pháp luật của cơ quan có thẩm quyền, văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Ngành Tòa án, Viện kiểm sát đặc biệt những vấn đề cần lưu ý trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như tác giả vừa trình bày ở trên là hết sức cần thiết tránh các trường hợp oan sai, sót lọt tội phạm./.

Hoàng Nguyên Thắng
Viện kiểm sát quân sự khu vực 11


[1] Điều 202 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Bộ luật Hình sự năm 1999.

[2] Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Đinh Văn Quế, “Bình luận về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, Tạp chí Kiểm sát 11/2020, tr 23.

[4] Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày ngày 28/08/2013 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông.

[5] Đinh Văn Quế, “Bình luận về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, Tạp chí Kiểm sát 11/2020, tr 23.

[6] Khoản 17, 18, 19 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

[7] Tài liệu tập huấn nghiệp vụ xét xử đợt II - năm 2014 của Tòa án Nhân dân tỉnh Bắc Ninh, tr.58 – tr.59.

[8] Khoản 20 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

[9] Khoản 1, 2 Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[10] Trường hợp hỗn hợp lỗi trong luật hình sự

[11] Giải quyết án tai nạn giao thông trong trường hợp lỗi hỗn hợp gây hậu quả cho người thứ ba,

[12] Thông tư số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC (theo trích dấn số 3).

[13] Khoản 22 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008.

[14] Mục 3 Công văn số 3129/VKSTC-V1A về việc hướng dẫn giải quyết án tai nạn giao thông, ngày 10/7/2009 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

[15] Giải quyết án tai nạn giao thông trong trường hợp lỗi hỗn hợp gây hậu quả cho người thứ ba (theo trích dẫn số 5).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: