Thứ ba 10/03/2026 01:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn và vướng mắc của Quản tài viên trong quá trình hoạt động hành nghề

Theo quy định tại khoản 7, Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 thì “Quản tài viên là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản”. Để đảm bảo Quản tài viên thực hiện tốt chức năng trên, Luật đã có nhiều quy định về điều kiện hành nghề, quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý của Quản tài viên.

Theo đó, đội ngũ này có nhiệm vụ xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ; lập bảng kê tài sản, danh sách chủ nợ; ngăn chặn việc bán, chuyển giao tài sản mà không được phép của thẩm phán... Quản tài viên bắt đầu tham gia vụ việc khi được thẩm phán chỉ định và kết thúc khi chấp hành viên thi hành xong quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Quy định về quản tài viên trong Luật Phá sản năm 2014 được kỳ vọng sẽ giúp quá trình thanh lý, xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản nhanh hơn. Vậy nhưng, trên thực tế, quá trình thực thi chức trách của quản tài viên đang gặp nhiều khó khăn. Bài viết dưới đây đã nêu ra thực tiễn và vướng mắc của quản tài viên trong quá trình hoạt động hành nghề qua đó đóng góp những ý kiến, phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản tài viên đối với chức năng, quyền và nghĩa vụ, cũng như trách nhiệm pháp lý nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện tốt hơn cho quản tài viên trong quá trình hoạt động hành nghề.

Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014, thì quản tài viên là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản. Để bảo đảm quản tài viên thực hiện tốt chức năng trên, pháp luật quy định về điều kiện hành nghề, quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của quản tài viên. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động hành nghề của quản tài viên trên thực tế còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần có cơ chế cụ thể để hoạt động đạt hiệu quả.

1. Giai đoạn tiếp nhận vụ việc phá sản

Theo quy định tại Điều 45 Luật Phá sản năm 2014, thì trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, thẩm phán có trách nhiệm chỉ định quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Trong văn bản chỉ định quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải có nội dung tạm ứng chi phí quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Về vấn đề này có một số khó khăn, vướng mắc sau:

1.1. Việc bán tài sản để bảo đảm chi phí phá sản

Theo khoản 3 Điều 23 Luật Phá sản năm 2014, thì: “Tòa án nhân dân giao cho quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bán một số tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán để bảo đảm chi phí phá sản. Việc định giá, định giá lại và bán tài sản được thực hiện theo quy định tại các điều 122, 123 và 124 của Luật này”.

Về vấn đề này cần làm rõ, Tòa án nhân dân giao cho quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bán một số tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán để bảo đảm chi phí phá sản kể từ thời điểm nào? Đồng thời, cần có văn bản hướng dẫn cách thức lựa chọn tài sản để bán, phương thức bán tài sản, chi phí định giá tài sản, cách thức quản lý tiền thu được từ việc bán tài sản trong trường hợp này.

1.2. Về quản lý tiền tạm ứng chi phí phá sản

Trong một số trường hợp, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp tiền tạm ứng chi phí phá sản hoặc Tòa án nhân dân giao cho quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bán một số tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán để bảo đảm chi phí phá sản. Tuy nhiên, hiện chưa có quy định hướng dẫn về việc quản lý số tiền tạm ứng chi phí phá sản này. Theo pháp luật hiện hành, thì Tòa án nhân dân sẽ mở tài khoản tại ngân hàng để nhận tiền tạm ứng chi phí. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định cụ thể Tòa án sẽ phải mở tài khoản riêng cho từng vụ việc phá sản hay mở tài khoản chung cho tất cả các vụ việc phá sản?

1.3. Về chỉ định quản tài viên

Chưa quy định rõ số lượng quản tài viên được chỉ định cho mỗi vụ việc. Vì vậy, cần làm rõ, trong trường hợp thẩm phán chỉ định quản tài viên thì số lượng quản tài viên được chỉ định là bao nhiêu? Trong trường hợp quản tài viên chỉ định doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản, thì doanh nghiệp này được cử bao nhiêu quản tài viên để thực hiện vụ việc?

Trong trường hợp thẩm phán chỉ định nhiều hơn một quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản tham gia vụ việc phá sản, thì nhiệm vụ, quyền hạn của các quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản được quy định như thế nào? Các quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản phối hợp thực hiện các công việc hay mỗi người được phân công một nhóm công việc cụ thể, riêng biệt và tự mình chịu trách nhiệm đối với việc mình được phân công?

2. Công việc của doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản sau khi nhận chỉ định tham gia vụ việc phá sản đến khi Tòa án tuyên bố doanh nghiệp phá sản

Sau khi được chỉ định là doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản của vụ việc phá sản, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản phải thực hiện một số công việc liên quan đến các biện pháp bảo toàn tài sản, hội nghị chủ nợ… cho đến khi Tòa án tuyên bố doanh nghiệp phá sản. Về các công việc này, có một số vướng mắc như:

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 65 Luật Phá sản năm 2014, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải tiến hành kiểm kê tài sản và xác định giá trị tài sản đó; trong trường hợp cần thiết thì phải có văn bản đề nghị thẩm phán gia hạn, nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Việc xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. Như vậy, tổng thời gian cho việc kiểm kê và xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp tối đa không quá 90 ngày. Với thời gian ngắn như trên, thì việc xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với doanh nghiệp có tài sản ở nhiều quốc gia khác nhau.

Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ tổ chức kiểm kê, xác định lại tài sản theo quyết định của Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định thời hạn cụ thể thực hiện việc kiểm kê, xác định lại tài sản của doanh nghiệp, dẫn đến khó khăn trong việc tổ chức hội nghị chủ nợ vì hội nghị chủ nợ được triệu tập trong vòng 20 ngày kể từ ngày kết thúc việc kiểm kê tài sản (theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Phá sản năm 2014). Như vậy, nếu việc kiểm kê, xác định lại giá trị tài sản này bị kéo dài nhiều ngày, nhiều tháng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức hội nghị chủ nợ.

- Trường hợp những chủ nợ tại nước ngoài của doanh nghiệp vì lý do địa lý xa xôi, khó khăn để tiếp cận thông tin và một số lý do khác không do lỗi của chủ nợ, dẫn đến việc chủ nợ không được biết về việc phá sản của doanh nghiệp để gửi giấy đòi nợ, thì pháp luật hiện tại chưa có quy định các biện pháp để bảo vệ quyền lợi cho những chủ nợ này.

- Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm xem xét giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, nếu phát hiện giao dịch quy định tại khoản 1 (các giao dịch trong vòng 06 tháng trước ngày quyết định mở thủ tục phá sản) và khoản 2 (các giao dịch trong vòng 18 tháng trước ngày quyết định mở thủ tục phá sản) Điều 59 Luật Phá sản, thì đề nghị Tòa án nhân dân xem xét tuyên bố giao dịch vô hiệu.

Đối với những doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có quy mô lớn, có giao dịch ở nhiều quốc gia, thì việc xem xét các giao dịch trong vòng 18 tháng là một khối lượng công việc vô cùng lớn, quản tài viên sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong khi thực hiện công việc này. Mặt khác, đối với những giao dịch có dấu hiệu vi phạm quy định tại Điều 59 Luật Phá sản, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ yêu cầu Tòa án nhân dân xem xét giao dịch vô hiệu. Một vụ án mà Tòa án nhân dân tuyên một giao dịch vô hiệu có thể mất nhiều thời gian, điều này ảnh hướng đến thời hiệu thực hiện các công việc khác được quy định tại Luật Phá sản.

- Theo quy định là ngay sau khi mở thủ tục phá sản, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề xuất thẩm phán về việc xử lý khoản nợ có bảo đảm đã được tạm đình chỉ theo quy định (Điều 53 Luật Phá sản năm 2014). Vấn đề này cần phải quy định rõ thời hạn đề xuất và xử lý khoản nợ có bảo đảm một cách cụ thể, vì có những tài sản sẽ bị giảm giá trị, tiêu hao theo thời gian ảnh hưởng đến giá trị tài sản của doanh nghiệp.

- Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã phải báo cáo quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trước khi thực hiện một số hoạt động. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của doanh nghiệp, hợp tác xã, thì quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm trả lời cho doanh nghiệp, hợp tác xã việc được thực hiện hoặc không được thực hiện các hoạt động này và phải chịu trách nhiệm về việc trả lời của mình. Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải báo cáo thẩm phán về nội dung trả lời của mình (Điều 49 Luật phá sản năm 2014).

Quản tài viên sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện việc xem xét các hoạt động và trả lời doanh nghiệp chỉ trong ba ngày làm việc kể từ ngày nhận báo cáo của doanh nghiệp, vì trên thực tế có rất nhiều hoạt động phức tạp, cần ý kiến của chuyên gia trước khi đưa ra quyết định, do đó ba ngày là một thời hạn quá ngắn để quản tài viên đưa ra một quyết định chính xác cho doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Cùng với đó, trách nhiệm của quản tài viên trong trường hợp này cần được xem xét lại là phối hợp với thẩm phán để việc trả lời về một số hoạt động của doanh nghiệp phải báo cáo được chính xác, hợp lý.

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, chúng tôi gặp những vấn đề liên quan đến việc làm thế nào để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp trong trường hợp hợp đồng thuê dịch vụ liên quan đến di dời, vận chuyển tài sản, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác không thuộc những hoạt động bị cấm của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và không thuộc những hoạt động phải báo cáo xin ý kiến quản tài viên, trong khi những hợp đồng này có giá trị không nhỏ?

3. Công việc của doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản sau khi Tòa án tuyên bố doanh nghiệp phá sản đến khi định giá, bán tài sản

Sau khi Tòa ra tuyên bố doanh nghiệp phá sản, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản cần thực hiện việc định giá tài sản và bán đấu giá tài sản. Về vấn đề này có một số vướng mắc như sau:

- Về việc định giá tài sản: Pháp luật hiện hành chưa có quy định về định giá lại tài sản khi tài sản bị hao mòn, giảm giá trị do tổ chức đấu giá nhiều lần nhưng chưa có người mua.

- Về việc bán đấu giá tài sản: Pháp luật hiện hành chưa quy định về việc tổ chức bán đấu giá không thành thì có tổ chức đấu giá lại đối với tài sản đó hay không? Tổ chức đấu giá lại bao nhiêu lần? Nếu đã quá nhiều lần tổ chức mà không bán được tài sản thì xử lý như thế nào? Ngoài ra, cần bổ sung quy định về giảm giá tài sản nếu tài sản đã tổ chức đấu giá nhưng chưa có người mua.

- Về việc định giá và bán đấu giá tài sản ở nước ngoài: Luật Phá sản năm 2014 chưa có quy định về việc định giá và bán đấu giá tài sản đang ở nước ngoài của doanh nghiệp. Điều này gây ra nhiều bất cập, vì thời hạn định giá tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Phá sản năm 2014 là: “Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải tổ chức định giá tài sản theo quy định của pháp luật” và thời hạn đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 124 Luật Phá sản năm 2014: “Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản”. Những thời hạn này chỉ hợp lý khi áp dụng đối với những tài sản đang ở Việt Nam, đối với những tài sản ở nước ngoài thì không còn hợp lý. Do vậy, cần có quy định về định giá và bán đấu giá tài sản đối với những tài sản của doanh nghiệp đang ở nước ngoài.

4. Về lệ phí phá sản và chi phí quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

- Chi phí quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được quy định cụ thể tại Điều 21 Nghị định 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Tuy nhiên, Điều 21 Nghị định 22/2015/NĐ-CP chưa có quy định cụ thể về mức thù lao của doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản đối với trường hợp doanh nghiệp phá sản theo quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản sau khi có nghị quyết của hội nghị chủ nợ đề nghị tuyên bố phá sản (Điều 107 Luật Phá sản năm 2014). Vì thế, việc tính chi phí quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ khó khăn trong thực tế áp dụng.

- Về việc phân chia tài sản sau khi bán đấu giá tài sản: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 120 Luật Phá sản năm 2014, thì sau khi nhận được báo cáo của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản về kết quả thanh lý tài sản, chấp hành viên thực hiện phương án phân chia tài sản theo quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản. Như vậy, việc phân chia tài sản sẽ được thực hiện sau khi có báo cáo về việc thanh lý tài sản. Trên thực tế, trong lần bán đấu giá tài sản thanh lý đầu tiên của doanh nghiệp phá sản, các tài sản bị thanh lý có thể không được bán hết, vì một số tài sản không tìm được người mua, như vậy thì báo cáo về kết quả thanh lý tài sản được lập khi đã bán hết tài sản hay đối với từng lần bán đấu giá tài sản? Sau mỗi lần bán, tiền thu được sẽ phân chia theo phương án nào? Đó là những vấn đề cần làm rõ để áp dụng một cách hiệu quả trong thực tế.

5. Việc thực thi thời hiệu trong Luật Phá sản năm 2014 của các chủ nợ, người mắc nợ và các bên liên quan có yếu tố nước ngoài

Theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, thì trong một số trường hợp cụ thể, Tòa án, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản phải gửi tài liệu cho cho các chủ nợ, người mắc nợ và người liên quan có yếu tố nước ngoài và ngược lại.

Điều 4 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự (Nghị định số 111/2011/NĐ-CP) quy định: Để được công nhận và sử dụng ở nước ngoài, các giấy tờ, tài liệu của Việt Nam phải được chứng nhận lãnh sự, trừ trường hợp quy định tại Điều 9 Nghị định này; để được công nhận và sử dụng tại Việt Nam, các giấy tờ, tài liệu của nước ngoài phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp quy định tại Điều 9 Nghị định này.

Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP, thì giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài liên quan đều là thành viên, hoặc theo nguyên tắc có đi có lại; giấy tờ, tài liệu được chuyển giao trực tiếp hoặc qua đường ngoại giao giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam; giấy tờ, tài liệu mà cơ quan tiếp nhận của Việt Nam hoặc của nước ngoài không yêu cầu phải hợp pháp hóa lãnh sự, chứng nhận lãnh sự phù hợp với quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam hoặc của nước ngoài.

Đối chiếu với các quy định nêu trên, các văn bản của Tòa án, công ty quản quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản gửi ra nước ngoài và ngược lại, phải được hợp pháp hóa lãnh sự (đối với trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài gửi về Việt Nam) và chứng nhận lãnh sự (đối với trường hợp Tòa án, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản gửi ra nước ngoài). Trừ một số trường hợp được miễn theo quy định.

Hiện nay, Việt Nam đã ký hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự song phương với 18 quốc gia trên thế giới. Theo đó, việc gửi văn bản cho các chủ nợ, người mắc nợ và người liên quan thuộc 18 quốc gia này và ngược lại, thì sẽ được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự. Tuy nhiên, trên thực tế thực hiện hoạt động của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản, có những trường hợp chủ nợ, người mắc nợ và người liên quan không thuộc 18 quốc gia có hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam, thì sẽ phải thực hiện thủ tục chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự đối với các văn bản gửi đi. Việc thực hiện các thủ tục này mất khá nhiều thời gian, từ đó ảnh hưởng đến các vấn đề liên quan đến các thời hiệu trong việc thực hiện thủ tục phá sản. Mặt khác, có trường hợp cá nhân, tổ chức tại nước ngoài không thực hiện thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự mà đã gửi văn bản về Việt Nam, khi đó những văn bản này không sử dụng được Việt Nam, nếu Tòa án, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản có công văn yêu cầu bổ sung việc hợp pháp hóa lãnh sự thì sẽ mất thêm thời gian vận chuyển, làm thủ tục.

Tất cả những vấn đề trên làm cho việc thực thi các thời hiệu trong Luật Phá sản là vô cùng khó khăn và nhiều trường hợp đối với các quốc gia có vị trí địa lý cách xa Việt Nam, thì việc thực thi các thời hiệu theo Luật Phá sản là không thể.

6. Về vấn đề cung cấp tài liệu, chứng cứ của người tham gia thủ tục phá sản và của cá nhân, tổ chức liên quan

Trên thực tế hoạt động của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản, có những tổ chức, cá nhân sau nhiều lần yêu cầu nhưng không cung cấp hoặc không cung cấp đầy đủ tài liệu chứng cứ, làm các công việc phải thực hiện theo Luật Phá sản gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù, Luật Phá sản đã quy định rõ về trách nhiệm phải cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan nhưng những người có tài liệu chứng cứ không giao nộp thì xử lý thế nào pháp luật chưa có quy định cụ thể.

ThS. Quản Văn Minh

Công ty Quản lý & Thanh lý tài sản số 5 - Quốc gia

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: