Thứ bảy 14/03/2026 16:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn xét xử về kinh doanh, thương mại ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện pháp luật

Bài viết tập trung phân tích một số bất cập trong thực tiễn xét xử về kinh doanh, thương mại ở Việt Nam, từ đó, đưa ra một số định hướng hoàn thiện pháp luật liên quan đến lĩnh vực này.

1. Một số bất cập trong thực tiễn xét xử về kinh doanh, thương mại ở Việt Nam

Hiện nay, bên cạnh những kết quả đạt được thì thực tiễn xét xử về kinh doanh, thương mại ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, bất cập nhất định. Cụ thể:

Một là, chưa có sự thống nhất trong hướng xử lý giữa các Tòa án trong trường hợp thỏa thuận về mức phạt vi phạm vượt quá 8% nghĩa vụ bị vi phạm. Theo quy định tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này”. Dựa vào quy định trên, có thể hiểu, trường hợp các bên thỏa thuận phạt vi phạm mà vượt quá mức 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm sẽ không được Tòa án chấp nhận. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử của các Tòa án lại có các hướng giải quyết khác nhau trong trường hợp này: (i) Trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm lớn hơn 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm thì phần vượt quá không được tính. Điều này có nghĩa, mức phạt sẽ được xác định là 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. (ii) Trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm lớn hơn 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm thì điều khoản này bị xác định là vô hiệu và không được áp dụng[1].

Đơn cử: Bản án số 17/2017/KDTM-ST ngày 06/6/2017 của Tòa án nhân dân quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa[2], các bên thỏa thuận trong hợp đồng về mức phạt vi phạm là 8% giá trị hợp đồng. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả tiền phạt vi phạm với mức phạt vi phạm là 8% giá trị hợp đồng. Tòa án căn cứ vào Điều 301 Luật Thương mại năm 2005, ra quyết định là không chấp nhận với yêu cầu phạt của nguyên đơn vì vượt quá quy định của Luật Thương mại năm 2005. Tuy nhiên, điều khoản phạt vi phạm vẫn có hiệu lực và phần vượt quá sẽ không được tính, buộc bị đơn chịu phạt vi phạm với mức phạt sẽ được xác định là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Cũng cùng một vấn đề về thỏa thuận mức phạt vi phạm vượt quá quy định Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 nhưng tại Bản án số 01/2017/KDTM-ST ngày 20/7/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản[3], các bên thỏa thuận trong hợp đồng về mức tiền phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 20% giá trị hợp đồng. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả tiền phạt vi phạm với mức phạt 20% giá trị hợp đồng. Tòa án ra quyết định không chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm của nguyên đơn vì mức phạt vi phạm hợp đồng không được quá 8% giá trị hợp đồng và xác định điều khoản này bị vô hiệu. Qua thực tiễn xét xử của Tòa án, có thể thấy, hiện nay, hướng giải quyết trong trường hợp các bên thỏa thuận về mức phạt vi phạm vượt quá quy định tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 còn khác biệt, chưa có sự thống nhất với nhau.

Hai là, quy định về thỏa thuận mức lãi suất phạt của các bên trong hợp đồng trong Luật Thương mại năm 2005 chưa cụ thể. Căn cứ vào Điều 306 Luật Thương mại năm 2005, sẽ ưu tiên tôn trọng sự thỏa thuận của các bên về mức lãi suất chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác. Qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng, trong Bản án số 05/2021/KDTM-PT ngày 22/4/2021 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa[4], nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn Bê tông T (Công ty T) kiện Công ty cổ phần Xây dựng và Đầu tư V (Công ty V) vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Công ty T yêu cầu Công ty V thanh toán số tiền 325.646.300 đồng, trong đó, nợ gốc là 263.021.000 đồng và tiền lãi tính từ thời điểm 01/02/2020 đến ngày xét xử là 29/01/2021, mức lãi suất quá hạn là 0,0188%/tháng, tiền lãi là 62.625.300 đồng. Tòa sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Các đương sự không có kháng cáo, tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đà Nẵng có quyết định kháng nghị phúc thẩm theo hướng sửa một phần Bản án sơ thẩm đối với phần yêu cầu trả tiền lãi chậm thanh toán. Theo Viện kiểm sát mức lãi suất 0,188%/tháng (22,5%/năm) mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng mua bán đã vượt quá mức lãi suất 20%/năm theo quy định về lãi suất cho vay tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Sau đó, Tòa phúc thẩm đã tuyên bố không chấp nhận mức lãi suất 22,5%/năm mà các bên đã thỏa thuận, buộc các bên lùi về mức lãi 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Qua Bản án này, có thể thấy, việc Viện kiểm sát và Tòa phúc thẩm áp dụng Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về lãi suất cho vay vào xem xét thỏa thuận của các bên về phạt lãi do vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã gây nhiều băn khoăn, lúng túng cho các bên. Bởi vì, thỏa thuận của các bên về mức lãi suất phạt phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 và đây là hợp đồng mua bán giữa các bên, chứ không phải hợp đồng cho vay. Đồng thời, việc các bên tranh chấp thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại và Luật Thương mại năm 2005 có quy định cụ thể thì không nên xem xét quy định Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 về lãi suất trong hợp đồng cho vay. Bên cạnh đó, pháp luật cũng không có quy định rõ ràng về việc có đương nhiên được áp dụng giới hạn lãi suất trong hợp đồng cho vay để xem xét cho việc thỏa thuận về lãi suất chậm thanh toán trong các hợp đồng thương mại theo Điều 306 Luật Thương mại năm 2005. Hiện nay, có 02 quan điểm trái chiều nhau về việc thỏa thuận mức lãi phạt chậm thanh toán này của các bên trong hợp đồng. Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc các bên thỏa thuận mức lãi phạt chậm thanh toán là phù hợp với quy định của Luật Thương mại năm 2005 và cần được chấp nhận; quan điểm thứ hai lại cho rằng, dù các bên đã thỏa thuận nhưng mức lãi phạt chậm thanh toán cũng không được cao hơn 20%/năm theo quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ba là, chưa quy định rõ ràng, cụ thể về vấn đề cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư. Theo đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022): “Ngoài khoản bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Tòa án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư”. Như vậy, theo quy định này thì khi nguyên đơn khởi kiện, bên cạnh các khoản bồi thường thiệt hại thì nguyên đơn cũng có quyền yêu cầu Tòa án buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của mình phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư. Tuy nhiên, Luật này lại không có quy định hướng dẫn cụ thể là chi phí như thế nào là chi phí hợp lý, ai là người có nghĩa vụ chứng minh chi phí này, cũng như không giới hạn mức chi phí luật sư này. Do đó, dẫn đến trường hợp, dù Luật có quy định đây là một khoản chi phí nguyên đơn có quyền yêu cầu nhưng trên thực tế xét xử, rất ít trường hợp nguyên đơn được nhận khoản chi phí này. Đây có thể được coi là “lỗ hổng”, có quy định nhưng không thực hiện được, có thể gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của người bị xâm hại về quyền sở hữu trí tuệ.

2. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại ở Việt Nam

Một là, đề xuất đưa Bản án số 17/2017/KDTM-ST ngày 06/6/2017 của Tòa án nhân dân quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa phát triển thành án lệ về hướng xử lý cho trường hợp các bên thỏa thuận phạt vi phạm vượt quá 8% phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm - vấn đề mà pháp luật chưa quy định rõ ràng. Theo đó, dù các bên đương sự đã có thỏa thuận với nhau về mức phạt vi phạm vượt quá quy định so với Điều 301 Luật Thương mại năm 2005, tuy nhiên, Tòa án vẫn chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm của nguyên đơn và buộc bị đơn chịu phạt với mức phạt 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm, không tính phần vượt quá. Bởi vì, căn cứ theo Điều 301 Luật Thương mại năm 2005, chỉ quy định các bên được thỏa thuận phạt vi phạm nhưng không được vượt quá mức trần 8% phần nghĩa vụ bị vi phạm mà không quy định hướng giải quyết cho trường hợp nếu các bên thỏa thuận vượt quá mức trần trên sẽ xử lý như thế nào. Điều này tạo nên sự lúng túng cho Tòa án và gây ra tình trạng thiếu sự thống nhất trong quyết định của các Tòa án trong phạm vi lãnh thổ.

Hai là, cần quy định cụ thể về thỏa thuận lãi suất chậm thanh toán theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005. Theo quan điểm của tác giả về vụ án trong Bản án số 05/2021/KDTM-PT ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, do cả hai bên đã có thỏa thuận khác nên thỏa thuận về mức lãi phạt chậm thanh toán này hoàn toàn phù hợp với quy định của Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 và Tòa án cần chấp nhận nó. Như đã phân tích ở trên, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về lãi suất trong hợp đồng cho vay và pháp luật không quy định đương nhiên được áp dụng trong hợp đồng thương mại. Đồng thời, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 cho phép các bên thỏa thuận mức lãi suất phạt chậm thanh toán, do đó, không nên áp dụng Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, bởi bản chất của thỏa thuận phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong các hợp đồng thương mại là một chế tài để “răn đe” các chủ thể cố tình vi phạm nghĩa vụ, không thuộc phạm vi điều chỉnh về lãi suất cho vay để kiểm soát hoạt động cho vay, thực hiện chính sách về tiền tệ của Nhà nước[5]. Hơn nữa, quy định về lãi suất cho vay trong Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm kiểm soát hoạt động cho vay, với mục đích thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của Nhà nước, tạo sự ổn định và cân bằng trong quản lý tiền tệ. Bên cạnh đó, hợp đồng thương mại là “sân chơi” của các nhà đầu tư với nhau và cần tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, cũng như bảo đảm đủ tính “răn đe” cho các bên thực hiện đúng theo thỏa thuận hợp đồng. Do đó, không nên điều chỉnh hay giới hạn mức lãi suất phạt chậm thanh toán theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thương mại bởi lãi suất cho vay và việc thẩm phán vẫn áp dụng Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là không hợp lý. Chính vì vậy, tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 cần quy định rõ về việc có được áp dụng Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 vào trong thỏa thuận mức lãi suất phạt chậm thanh toán hay không. Theo quan điểm của tác giả, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 nên quy định theo hướng không áp dụng nhằm bảo đảm đúng bản chất của thỏa thuận trong hợp đồng thương mại.

Ba là, đề xuất đưa Bản án sơ thẩm số 364/2014/KDTM-ST ngày 10/4/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ” phát triển thành án lệ về chi phí hợp lý để thuê luật sư trong vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ. Quy định tại khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định người có quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Tòa án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư. Tuy nhiên, Luật này không quy định rõ về cách xác định như thế nào về chi phí hợp lý thuê luật sư. Qua bản án trên, Tòa án đã phần nào giải quyết được vấn đề xác định chi phí hợp lý để thuê luật sư. Cụ thể, Bản án sơ thẩm số 364/2014/KDTM-ST ngày 10/4/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ giữa nguyên đơn là Công ty cổ phần giám định V với bị đơn là Công ty cổ phần D. Nguyên đơn yêu cầu chi phí luật sư là 50 triệu đồng và đưa ra chứng cứ là hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký với Công ty Luật hợp danh P, đồng thời hóa đơn giá trị gia tăng về toàn bộ số tiền này là chi phí trả thù lao luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Tòa án căn cứ vào hợp đồng thuê luật sư giữa hai bên và Điều 55 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) quy định về thù lao theo giờ làm việc của luật sư, Tòa án xác định đây là chi phí chọn gói để thuê luật sư, trong đó bao gồm cả chi phí không hợp lý (nguyên đơn tự chịu là nộp đơn khởi kiện và thay mặt công ty tham gia tố tụng) và chi phí được Tòa xem xét là chi phí hợp lý (thuê luật sư tư vấn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn). Tòa án xác định phần chi phí không hợp lý chiếm ½ tổng chi phí. Do đó, chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán 50% chi phí hợp lý thuê luật sư, tức 25 triệu đồng.

Với hướng giải quyết này của Tòa án đã đưa ra được cách xác định chi phí nào là hợp lý bằng cách căn cứ vào hợp đồng thỏa thuận thuê luật sư của các bên. Bên cạnh đó, với bản án này, cũng có thể áp dụng tương tự với cách thức xác định chi phí hợp lý thuê luật sư trong trường hợp tổ chức, cá nhân là bị đơn trong vụ kiện, nếu Tòa án kết luận là không thực hiện hành vi xâm phạm hoặc trong trường hợp tổ chức, cá nhân bị gây thiệt hại do các cá nhân, tổ chức khác lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó, bản án này đã phần nào giúp cho các thẩm phán có được hướng giải quyết trong trường hợp xác định chi phí hợp lý thuê luật sư, cũng như bảo đảm được quyền lợi chính đáng của bên bị xâm phạm. Đồng thời, nếu bản án này được trở thành án lệ thì cũng giúp cho các bên khi tham gia quan hệ sở hữu trí tuệ có thể tham khảo để biết cách đưa ra các bằng chứng nhằm thực hiện hiệu quả quyền yêu cầu bồi thường của mình, bảo vệ được quyền lợi của chính mình.

ThS. Trịnh Tường Khiêm

Trường Đại học Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

[1]. Đinh Văn Cường, Thực trạng pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại và mối quan hệ giữa hai chế tài, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 03/2020, năm 2020, tr. 51.

[2]. Bản án số 17/2017/KDTM-ST ngày 06/6/2017 của Tòa án nhân dân quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-172017kdtmst-ngay-06062017-ve-tranh-chap-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-1666, truy cập ngày 08/9/2023.

[3]. Bản án số 01/2017/KDTM-ST ngày 20/7/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta7231t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 08/9/2023.

[4]. Bản án số 05/2021/KDTM-PT ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta693967t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 08/9/2023.

[5]. Văn phòng Luật sư Tô Đình Huy, Tranh chấp tiền lãi trong hợp đồng mua bán hàng hóa, http://www.luatsubaochua.org/tin-tuc/65/Tranh-Chap-Tien-Lai-Trong-Hop-Dong-Mua-Ban-Hang-Hoa.html, truy cập ngày 08/9/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: