Thứ sáu 01/05/2026 11:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn xét xử về kinh doanh, thương mại ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện pháp luật

Bài viết tập trung phân tích một số bất cập trong thực tiễn xét xử về kinh doanh, thương mại ở Việt Nam, từ đó, đưa ra một số định hướng hoàn thiện pháp luật liên quan đến lĩnh vực này.

1. Một số bất cập trong thực tiễn xét xử về kinh doanh, thương mại ở Việt Nam

Hiện nay, bên cạnh những kết quả đạt được thì thực tiễn xét xử về kinh doanh, thương mại ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, bất cập nhất định. Cụ thể:

Một là, chưa có sự thống nhất trong hướng xử lý giữa các Tòa án trong trường hợp thỏa thuận về mức phạt vi phạm vượt quá 8% nghĩa vụ bị vi phạm. Theo quy định tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này”. Dựa vào quy định trên, có thể hiểu, trường hợp các bên thỏa thuận phạt vi phạm mà vượt quá mức 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm sẽ không được Tòa án chấp nhận. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử của các Tòa án lại có các hướng giải quyết khác nhau trong trường hợp này: (i) Trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm lớn hơn 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm thì phần vượt quá không được tính. Điều này có nghĩa, mức phạt sẽ được xác định là 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. (ii) Trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm lớn hơn 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm thì điều khoản này bị xác định là vô hiệu và không được áp dụng[1].

Đơn cử: Bản án số 17/2017/KDTM-ST ngày 06/6/2017 của Tòa án nhân dân quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa[2], các bên thỏa thuận trong hợp đồng về mức phạt vi phạm là 8% giá trị hợp đồng. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả tiền phạt vi phạm với mức phạt vi phạm là 8% giá trị hợp đồng. Tòa án căn cứ vào Điều 301 Luật Thương mại năm 2005, ra quyết định là không chấp nhận với yêu cầu phạt của nguyên đơn vì vượt quá quy định của Luật Thương mại năm 2005. Tuy nhiên, điều khoản phạt vi phạm vẫn có hiệu lực và phần vượt quá sẽ không được tính, buộc bị đơn chịu phạt vi phạm với mức phạt sẽ được xác định là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Cũng cùng một vấn đề về thỏa thuận mức phạt vi phạm vượt quá quy định Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 nhưng tại Bản án số 01/2017/KDTM-ST ngày 20/7/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản[3], các bên thỏa thuận trong hợp đồng về mức tiền phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 20% giá trị hợp đồng. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả tiền phạt vi phạm với mức phạt 20% giá trị hợp đồng. Tòa án ra quyết định không chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm của nguyên đơn vì mức phạt vi phạm hợp đồng không được quá 8% giá trị hợp đồng và xác định điều khoản này bị vô hiệu. Qua thực tiễn xét xử của Tòa án, có thể thấy, hiện nay, hướng giải quyết trong trường hợp các bên thỏa thuận về mức phạt vi phạm vượt quá quy định tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 còn khác biệt, chưa có sự thống nhất với nhau.

Hai là, quy định về thỏa thuận mức lãi suất phạt của các bên trong hợp đồng trong Luật Thương mại năm 2005 chưa cụ thể. Căn cứ vào Điều 306 Luật Thương mại năm 2005, sẽ ưu tiên tôn trọng sự thỏa thuận của các bên về mức lãi suất chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác. Qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng, trong Bản án số 05/2021/KDTM-PT ngày 22/4/2021 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa[4], nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn Bê tông T (Công ty T) kiện Công ty cổ phần Xây dựng và Đầu tư V (Công ty V) vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Công ty T yêu cầu Công ty V thanh toán số tiền 325.646.300 đồng, trong đó, nợ gốc là 263.021.000 đồng và tiền lãi tính từ thời điểm 01/02/2020 đến ngày xét xử là 29/01/2021, mức lãi suất quá hạn là 0,0188%/tháng, tiền lãi là 62.625.300 đồng. Tòa sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Các đương sự không có kháng cáo, tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đà Nẵng có quyết định kháng nghị phúc thẩm theo hướng sửa một phần Bản án sơ thẩm đối với phần yêu cầu trả tiền lãi chậm thanh toán. Theo Viện kiểm sát mức lãi suất 0,188%/tháng (22,5%/năm) mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng mua bán đã vượt quá mức lãi suất 20%/năm theo quy định về lãi suất cho vay tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Sau đó, Tòa phúc thẩm đã tuyên bố không chấp nhận mức lãi suất 22,5%/năm mà các bên đã thỏa thuận, buộc các bên lùi về mức lãi 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Qua Bản án này, có thể thấy, việc Viện kiểm sát và Tòa phúc thẩm áp dụng Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về lãi suất cho vay vào xem xét thỏa thuận của các bên về phạt lãi do vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã gây nhiều băn khoăn, lúng túng cho các bên. Bởi vì, thỏa thuận của các bên về mức lãi suất phạt phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 và đây là hợp đồng mua bán giữa các bên, chứ không phải hợp đồng cho vay. Đồng thời, việc các bên tranh chấp thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại và Luật Thương mại năm 2005 có quy định cụ thể thì không nên xem xét quy định Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 về lãi suất trong hợp đồng cho vay. Bên cạnh đó, pháp luật cũng không có quy định rõ ràng về việc có đương nhiên được áp dụng giới hạn lãi suất trong hợp đồng cho vay để xem xét cho việc thỏa thuận về lãi suất chậm thanh toán trong các hợp đồng thương mại theo Điều 306 Luật Thương mại năm 2005. Hiện nay, có 02 quan điểm trái chiều nhau về việc thỏa thuận mức lãi phạt chậm thanh toán này của các bên trong hợp đồng. Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc các bên thỏa thuận mức lãi phạt chậm thanh toán là phù hợp với quy định của Luật Thương mại năm 2005 và cần được chấp nhận; quan điểm thứ hai lại cho rằng, dù các bên đã thỏa thuận nhưng mức lãi phạt chậm thanh toán cũng không được cao hơn 20%/năm theo quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ba là, chưa quy định rõ ràng, cụ thể về vấn đề cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư. Theo đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022): “Ngoài khoản bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Tòa án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư”. Như vậy, theo quy định này thì khi nguyên đơn khởi kiện, bên cạnh các khoản bồi thường thiệt hại thì nguyên đơn cũng có quyền yêu cầu Tòa án buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của mình phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư. Tuy nhiên, Luật này lại không có quy định hướng dẫn cụ thể là chi phí như thế nào là chi phí hợp lý, ai là người có nghĩa vụ chứng minh chi phí này, cũng như không giới hạn mức chi phí luật sư này. Do đó, dẫn đến trường hợp, dù Luật có quy định đây là một khoản chi phí nguyên đơn có quyền yêu cầu nhưng trên thực tế xét xử, rất ít trường hợp nguyên đơn được nhận khoản chi phí này. Đây có thể được coi là “lỗ hổng”, có quy định nhưng không thực hiện được, có thể gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của người bị xâm hại về quyền sở hữu trí tuệ.

2. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại ở Việt Nam

Một là, đề xuất đưa Bản án số 17/2017/KDTM-ST ngày 06/6/2017 của Tòa án nhân dân quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa phát triển thành án lệ về hướng xử lý cho trường hợp các bên thỏa thuận phạt vi phạm vượt quá 8% phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm - vấn đề mà pháp luật chưa quy định rõ ràng. Theo đó, dù các bên đương sự đã có thỏa thuận với nhau về mức phạt vi phạm vượt quá quy định so với Điều 301 Luật Thương mại năm 2005, tuy nhiên, Tòa án vẫn chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm của nguyên đơn và buộc bị đơn chịu phạt với mức phạt 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm, không tính phần vượt quá. Bởi vì, căn cứ theo Điều 301 Luật Thương mại năm 2005, chỉ quy định các bên được thỏa thuận phạt vi phạm nhưng không được vượt quá mức trần 8% phần nghĩa vụ bị vi phạm mà không quy định hướng giải quyết cho trường hợp nếu các bên thỏa thuận vượt quá mức trần trên sẽ xử lý như thế nào. Điều này tạo nên sự lúng túng cho Tòa án và gây ra tình trạng thiếu sự thống nhất trong quyết định của các Tòa án trong phạm vi lãnh thổ.

Hai là, cần quy định cụ thể về thỏa thuận lãi suất chậm thanh toán theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005. Theo quan điểm của tác giả về vụ án trong Bản án số 05/2021/KDTM-PT ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, do cả hai bên đã có thỏa thuận khác nên thỏa thuận về mức lãi phạt chậm thanh toán này hoàn toàn phù hợp với quy định của Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 và Tòa án cần chấp nhận nó. Như đã phân tích ở trên, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về lãi suất trong hợp đồng cho vay và pháp luật không quy định đương nhiên được áp dụng trong hợp đồng thương mại. Đồng thời, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 cho phép các bên thỏa thuận mức lãi suất phạt chậm thanh toán, do đó, không nên áp dụng Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, bởi bản chất của thỏa thuận phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong các hợp đồng thương mại là một chế tài để “răn đe” các chủ thể cố tình vi phạm nghĩa vụ, không thuộc phạm vi điều chỉnh về lãi suất cho vay để kiểm soát hoạt động cho vay, thực hiện chính sách về tiền tệ của Nhà nước[5]. Hơn nữa, quy định về lãi suất cho vay trong Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm kiểm soát hoạt động cho vay, với mục đích thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của Nhà nước, tạo sự ổn định và cân bằng trong quản lý tiền tệ. Bên cạnh đó, hợp đồng thương mại là “sân chơi” của các nhà đầu tư với nhau và cần tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, cũng như bảo đảm đủ tính “răn đe” cho các bên thực hiện đúng theo thỏa thuận hợp đồng. Do đó, không nên điều chỉnh hay giới hạn mức lãi suất phạt chậm thanh toán theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thương mại bởi lãi suất cho vay và việc thẩm phán vẫn áp dụng Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là không hợp lý. Chính vì vậy, tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 cần quy định rõ về việc có được áp dụng Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 vào trong thỏa thuận mức lãi suất phạt chậm thanh toán hay không. Theo quan điểm của tác giả, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 nên quy định theo hướng không áp dụng nhằm bảo đảm đúng bản chất của thỏa thuận trong hợp đồng thương mại.

Ba là, đề xuất đưa Bản án sơ thẩm số 364/2014/KDTM-ST ngày 10/4/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ” phát triển thành án lệ về chi phí hợp lý để thuê luật sư trong vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ. Quy định tại khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định người có quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Tòa án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư. Tuy nhiên, Luật này không quy định rõ về cách xác định như thế nào về chi phí hợp lý thuê luật sư. Qua bản án trên, Tòa án đã phần nào giải quyết được vấn đề xác định chi phí hợp lý để thuê luật sư. Cụ thể, Bản án sơ thẩm số 364/2014/KDTM-ST ngày 10/4/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ giữa nguyên đơn là Công ty cổ phần giám định V với bị đơn là Công ty cổ phần D. Nguyên đơn yêu cầu chi phí luật sư là 50 triệu đồng và đưa ra chứng cứ là hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký với Công ty Luật hợp danh P, đồng thời hóa đơn giá trị gia tăng về toàn bộ số tiền này là chi phí trả thù lao luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Tòa án căn cứ vào hợp đồng thuê luật sư giữa hai bên và Điều 55 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) quy định về thù lao theo giờ làm việc của luật sư, Tòa án xác định đây là chi phí chọn gói để thuê luật sư, trong đó bao gồm cả chi phí không hợp lý (nguyên đơn tự chịu là nộp đơn khởi kiện và thay mặt công ty tham gia tố tụng) và chi phí được Tòa xem xét là chi phí hợp lý (thuê luật sư tư vấn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn). Tòa án xác định phần chi phí không hợp lý chiếm ½ tổng chi phí. Do đó, chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán 50% chi phí hợp lý thuê luật sư, tức 25 triệu đồng.

Với hướng giải quyết này của Tòa án đã đưa ra được cách xác định chi phí nào là hợp lý bằng cách căn cứ vào hợp đồng thỏa thuận thuê luật sư của các bên. Bên cạnh đó, với bản án này, cũng có thể áp dụng tương tự với cách thức xác định chi phí hợp lý thuê luật sư trong trường hợp tổ chức, cá nhân là bị đơn trong vụ kiện, nếu Tòa án kết luận là không thực hiện hành vi xâm phạm hoặc trong trường hợp tổ chức, cá nhân bị gây thiệt hại do các cá nhân, tổ chức khác lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó, bản án này đã phần nào giúp cho các thẩm phán có được hướng giải quyết trong trường hợp xác định chi phí hợp lý thuê luật sư, cũng như bảo đảm được quyền lợi chính đáng của bên bị xâm phạm. Đồng thời, nếu bản án này được trở thành án lệ thì cũng giúp cho các bên khi tham gia quan hệ sở hữu trí tuệ có thể tham khảo để biết cách đưa ra các bằng chứng nhằm thực hiện hiệu quả quyền yêu cầu bồi thường của mình, bảo vệ được quyền lợi của chính mình.

ThS. Trịnh Tường Khiêm

Trường Đại học Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

[1]. Đinh Văn Cường, Thực trạng pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại và mối quan hệ giữa hai chế tài, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 03/2020, năm 2020, tr. 51.

[2]. Bản án số 17/2017/KDTM-ST ngày 06/6/2017 của Tòa án nhân dân quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-172017kdtmst-ngay-06062017-ve-tranh-chap-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-1666, truy cập ngày 08/9/2023.

[3]. Bản án số 01/2017/KDTM-ST ngày 20/7/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta7231t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 08/9/2023.

[4]. Bản án số 05/2021/KDTM-PT ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta693967t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 08/9/2023.

[5]. Văn phòng Luật sư Tô Đình Huy, Tranh chấp tiền lãi trong hợp đồng mua bán hàng hóa, http://www.luatsubaochua.org/tin-tuc/65/Tranh-Chap-Tien-Lai-Trong-Hop-Dong-Mua-Ban-Hang-Hoa.html, truy cập ngày 08/9/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: