Thứ tư 18/03/2026 03:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng công tác giám định tư pháp và giải pháp bảo đảm yêu cầu của hoạt động tố tụng và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

Thực hiện giám định tư pháp là để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu hoặc theo yêu cầu. Vì vậy, công tác giám định tư pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong những hoạt động kể trên. Thời gian qua, công tác này đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng cũng còn tồn tại những hạn chế nhất định cần có giải pháp khắc phục để bảo đảm yêu cầu của hoạt động tố tụng và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Bài viết này bao gồm những nội dung như: Kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc về thể chế; tổ chức, người giám định tư pháp; hoạt động giám định tư pháp; quản lý giám định tư pháp và một số giải pháp khắc phục.

Giám định tư pháp là hoạt động bổ trợ tư pháp, là công cụ quan trọng, phục vụ đắc lực cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật. Trước yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn và công cuộc cải cách tư pháp, đấu tranh chống tham nhũng, công tác giám định tư pháp cần phải kịp thời khắc phục những hạn chế, khó khăn, vướng mắc.


Bài viết này sẽ làm rõ một số kết quả đã đạt được trong công tác giám định tư pháp, những hạn chế, khó khăn và đề xuất một số giải pháp khắc phục, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động tố tụng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giám định tư pháp.

1. Những kết quả đã đạt được

1.1. Về thể chế

Trong thời gian qua, thể chế về giám định tư pháp không ngừng được củng cố, hoàn thiện, từ Pháp lệnh về giám định tư pháp năm 2004, Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” ban hành kèm theo Quyết định số 258/QĐ-TTg ngày 11/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ (Đề án 258), rồi đến Luật Giám định tư pháp năm 2012, các văn bản hướng dẫn và các văn bản khác có liên quan đã quy định tương đối đầy đủ, toàn diện về tổ chức, hoạt động và quản lý giám định tư pháp. Bộ Tư pháp và nhiều Bộ, ngành khác đã có nhiều cố gắng trong việc hoàn thiện thể chế liên quan đến công tác giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý của mình. Do đó, đến nay đã có 27 văn bản hướng dẫn Luật Giám định tư pháp năm 2012 được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành ban hành. Trong đó, quy trình, quy chuẩn giám định trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự và hướng dẫn áp dụng quy chuẩn chuyên môn cụ thể ở một số lĩnh vực khác như xây dựng, thông tin và truyền thông... đã được ban hành, tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện giám định, cũng như việc xem xét, đánh giá kết luận giám định tư pháp và quản lý nhà nước về giám định tư pháp. Các quy định về chế độ, chính sách đối với đội ngũ làm giám định tư pháp (chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp, phụ cấp trách nhiệm...) ngày càng được quan tâm, chăm lo và thường xuyên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế, góp phần quan trọng vào việc động viên, thu hút người làm giám định.

1.2. Về tổ chức, người giám định tư pháp

Thực hiện Luật Giám định tư pháp năm 2012, các tổ chức giám định tư pháp chuyên trách ở lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự tiếp tục được củng cố, kiện toàn, phát triển; tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc trong các lĩnh vực khác như tài chính, ngân hàng, xây dựng, tài nguyên và môi trường, văn hoá, thông tin và truyền thông... đã được lựa chọn và công bố danh sách 137 tổ chức, đồng thời, các Bộ chủ quản đều có đầu mối tiếp nhận trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành tố tụng, đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu giám định tư pháp phục vụ cho việc giải quyết các vụ án nói chung, án tham nhũng, kinh tế nói riêng.

Ở địa phương, Ủy ban nhân các tỉnh, thành phố đã quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức giám định tư pháp công lập. Đến nay đã có 58/63 Trung tâm Pháp y được thành lập theo quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012, Bộ Y tế đã thành lập và đưa vào hoạt động 5 Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực. Ủy ban nhân dân một số địa phương như Vĩnh Phúc, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Định, Nghệ An, Kiên Giang… đã quan tâm, đầu tư về nhân lực, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, có thể đáp ứng được các yêu cầu giám định phức tạp.

Đặc biệt, thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp theo Luật Giám định tư pháp năm 2012, hiện đã có một Văn phòng Giám định tư pháp[1] được Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cho phép thành lập, chuyên thực hiện giám định ở lĩnh vực tài chính kế toán phục vụ cho hoạt động tố tụng.

Bên cạnh đó, các Bộ, ngành, địa phương đã quan tâm củng cố, phát triển đội ngũ người giám định tư pháp cả về số lượng và chất lượng. Số lượng giám định viên thuộc các lĩnh vực không có tổ chức giám định tư pháp chuyên trách (như các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, văn hóa, tài nguyên, môi trường, giao thông vận tải, nông lâm ngư nghiệp, khoa học kỹ thuật và một số lĩnh vực khác) đã tăng lên. So với năm 2013[2], hiện số lượng giám định viên tư pháp đã tăng lên 611 người, nâng tổng số giám định viên lên 4.786 người; số người giám định tư pháp theo vụ việc được lựa chọn, công bố là 948 người trong các lĩnh vực xây dựng, tài chính, ngân hàng, tài nguyên môi trường, giao thông vận tải... Việc công bố và đăng tải danh sách tổ chức, cá nhân thực hiện giám định trên cổng thông tin điện tử, tạo điều kiện cho cơ quan tiến hành tố tụng tìm kiếm, lựa chọn và trưng cầu các tổ chức, cá nhân phù hợp thực hiện giám định.

Ngoài ra, để nâng cao chất lượng của đội ngũ người giám định tư pháp, các Bộ, ngành ngày càng chú trọng hơn đến việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giám định viên. Bộ Tư pháp đã xây dựng, ban hành chương trình khung về bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho người giám định tư pháp và hiện nay đang tổ chức biên soạn tài liệu, đồng thời đã chủ động, tích cực phối hợp, hỗ trợ các Bộ, ngành và địa phương trong việc bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho người giám định tư pháp, tổ chức được nhiều lớp bồi dưỡng, tập huấn cho các giám định viên tư pháp, nhất là trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, ngân hàng, xây dựng…

Về cơ bản, hoạt động giám định ngày càng đi vào nền nếp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động tố tụng, nhất là những lĩnh vực giám định có tổ chức giám định tư pháp chuyên trách như pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự. Hoạt động giám định ở các lĩnh vực khác như tài chính, ngân hàng, xây dựng, thông tin và truyền thông, đất đai, kế hoạch và đầu tư... không thường xuyên, nhưng ngày càng nhiều và tăng lên qua từng năm trong việc giải quyết các vụ án nói chung, nhất là án tham nhũng, kinh tế.

Đối với công tác quản lý, trong thời gian gần đây, nhiều Bộ, cơ quan ngang Bộ đã quan tâm hơn đến việc triển khai, thực hiện Luật Giám định tư pháp năm 2012, Đề án 258 như Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền Thông, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải... Về phía Bộ Tư pháp, với vai trò là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý về giám định tư pháp đã chủ động, tích cực nắm bắt tình hình, theo dõi, đôn đốc các Bộ, ngành và địa phương thực hiện các nhiệm vụ về giám định tư pháp; nghiên cứu, nhận diện các vướng mắc, khó khăn về giám định tư pháp trong giải quyết các vụ án nói chung, án tham nhũng nói riêng; đôn đốc, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan giải quyết thông qua việc thông tin, trao đổi, tổ chức họp liên ngành; đẩy mạnh công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp lý cho các giám định viên tư pháp ở các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đồng thời tiến hành kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện, tháo gỡ, chấn chỉnh những sai sót trong quá trình triển khai thực hiện; đôn đốc, báo cáo và kịp thời đề xuất với cơ quan có thẩm quyền về công tác giám định tư pháp nói chung, những khó khăn, vướng mắc về giám định tư pháp trong giải quyết án tham nhũng, kinh tế nói riêng.

2. Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc

2.1. Về thể chế

Cho đến nay, còn một số văn bản hướng dẫn Luật Giám định tư pháp năm 2012 của một số Bộ, ngành chưa chưa được ban hành kịp thời hoặc chưa cụ thể. Chẳng hạn như: Bộ Công an, Bộ Y tế chưa ban hành quy định về cơ sở vật chất (kinh phí, danh mục trang thiết bị, phương tiện tối thiểu...) của các tổ chức giám định tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự và một số lĩnh vực khác; Bộ Tài chính chưa ban hành hướng dẫn cách tính, thu, chi trả chi phí giám định trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng...; quy trình giám định chuẩn ở một số lĩnh vực chưa được ban hành; thực hiện dịch vụ giám định của các tổ chức giám định kỹ thuật hình sự...; chi phí giám định ở từng lĩnh vực; cơ chế thông tin, phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với tư cách là một bên trong hoạt động giám định tư pháp với các Bộ, ngành chủ quản, cơ quan quản lý nhà nước về giám định tư pháp và các cơ quan, tổ chức thực hiện giám định... trong tổ chức, hoạt động và quản lý giám định tư pháp.

Pháp luật tố tụng còn thiếu quy định cụ thể như về căn cứ, cách thức trưng cầu để bảo đảm sự độc lập, khách quan và hiệu quả của hoạt động tố tụng và hoạt động giám định; cơ chế xem xét, đánh giá và sử dụng kết luận giám định trong hoạt động tố tụng với tư cách là một loại chứng cứ đặc biệt trong hoạt động tố tụng; những trường hợp bắt buộc người giám định tư pháp phải tham dự phiên tòa để trình bày và bảo vệ kết quả giám định.

2.2. Về tổ chức, người giám định

Mặc dù Luật Giám định tư pháp năm 2012 đã có hiệu lực thi hành 3 năm, nhưng đến nay còn 5 địa phương chưa củng cố, thành lập Trung tâm Pháp y như An Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Kạn, Quảng Ngãi, mà vẫn là Phòng Giám định pháp y, thậm chí là Tổ chức Giám định pháp y (An Giang) theo mô hình của Nghị định số 117/HĐBT ngày 21/7/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về giám định tư pháp, cơ sở vật chất thì hoàn toàn “ăn nhờ ở đậu” vào bệnh viện đa khoa tỉnh. Nhiều Trung tâm Pháp y, Phòng Kỹ thuật hình sự ở địa phương còn rất thiếu thốn về kinh phí, trang thiết bị, phương tiện giám định và nhân lực. Ngay cả Viện Pháp y quốc gia đến nay cũng chưa được quan tâm đầu tư, tình trạng thiếu hụt người làm giám định trong các lĩnh vực giám định chuyên trách như pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, nhất là ở địa phương chưa được khắc phục.

Phần lớn đội ngũ người làm giám định tư pháp, nhất là ở những lĩnh vực xây dựng, tài chính, ngân hàng, văn hóa… vừa thiếu, vừa kiêm nghiệm, chưa được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu một cách bài bản và có kiến thức pháp lý cần thiết, mà chủ yếu chỉ dựa vào kiến thức chuyên môn thuần túy để làm giám định, nên nhiều trường hợp chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giám định.

Việc bổ nhiệm giám định viên tư pháp, lập và công bố danh sách tổ chức, người giám định tư pháp của nhiều Bộ, ngành và địa phương còn mang tính hình thức, chưa thực sự bảo đảm chất lượng, đặc biệt chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế của hoạt động tố tụng.

2.3. Về hoạt động giám định tư pháp

Việc trưng cầu giám định của các cơ quan tố tụng, nhất là các cơ quan điều tra còn có những hạn chế như: Nội dung trưng cầu giám định của nhiều cơ quan tiến hành tố tụng không sát với yêu cầu cần giám định, không phù hợp với tính chất chuyên môn; không cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu, thông tin cần thiết cho việc thực hiện giám định, nên phải kéo dài thời gian làm giám định; chưa chú trọng đến việc lựa chọn, trưng cầu tổ chức, cá nhân đủ năng lực trong trưng cầu giám định, chỉ tập trung trưng cầu trực tiếp các Bộ, sở quản lý chuyên ngành và hầu như chưa hướng đến trưng cầu các tổ chức chuyên môn có năng lực ngoài khu vực nhà nước trong trường hợp cần thiết. Không thực hiện đầy đủ, kịp thời trách nhiệm, nghĩa vụ về tạm ứng, thanh quyết toán tiền bồi dưỡng giám định, chi phí giám định cho cơ quan, tổ chức thực hiện giám định, nhất là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng...

Vấn đề trưng cầu giám định pháp y ở những địa phương có cả pháp y công an và pháp y y tế còn những tồn tại, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của tổ chức pháp y.

Việc tiếp nhận trưng cầu giám định và cử người làm giám định, tổ chức thực hiện việc giám định của nhiều cơ quan tổ chức còn chậm, chưa kịp thời, nhất là ở lĩnh vực tài chính (đặc biệt là về thuế), ngân hàng... được thực hiện qua nhiều cấp hành chính nên thường kéo dài trong nhiều tháng, thậm chí hàng năm, không đáp ứng yêu cầu về thời gian, làm chậm việc giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến thời hạn tố tụng; một số trường hợp cơ quan chủ quản cử người giám định không bảo đảm yêu cầu giám định hoặc từ chối tiếp nhận trưng cầu giám định với nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do về áp lực tâm lý, điều kiện bảo đảm thực hiện không đầy đủ...

Hoạt động giám định pháp y về thương tích có một số bất cập như: Không thống nhất trong việc xác định thời điểm giám định thương tích; người bị hại không đi giám định do bị đe dọa, mua chuộc, khống chế, gây khó khăn cho tổ chức giám định và cơ quan tố tụng; việc áp dụng và thực hiện quy trình giám định pháp y còn nhiều vướng mắc trên thực tế; hoạt động giám định pháp y ở địa phương gặp nhiều khó khăn, nhất là thiếu giám định viên và phương tiện đi lại phục vụ giám định.

Hoạt động giám định kỹ thuật hình sự, về cơ bản đã đáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động tố tụng, nhưng riêng giám định kỹ thuật số và điện tử thì chưa thực sự theo kịp với sự phát triển của khoa học công nghệ và phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm; giám định về xác định hàm lượng ma túy còn nhiều khó khăn, vướng mắc.

Hoạt động giám định xây dựng còn gặp nhiều khó khăn vì gồm nhiều vấn đề phức tạp, có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau (tài chính, xây dựng, kỹ thuật chuyên ngành...), cần phải có sự điều phối, hợp tác của nhiều ngành khác nhau, nhưng công tác phối hợp lại chưa tốt, chưa có cơ chế phối hợp; phải thuê mướn nhân công, thuê và vận chuyển máy móc, thiết bị chuyên dụng đến nơi giám định, nhưng do cơ quan trưng cầu không tạm ứng kinh phí, nên không bảo đảm yêu cầu về thời hạn giám định.

Về giám định tài chính, ngân hàng, đất đai… thường rất chậm, kéo dài do khó khăn trong việc lựa chọn phương pháp, cách thức tiến hành giám định, áp dụng các quy định về tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật của lĩnh vực chuyên môn cho việc thực hiện giám định hoặc nội dung yêu cầu giám định là nghiệp vụ chuyên môn mới phát sinh, rất phức tạp, khối lượng công việc lớn, vượt quá khả năng của một nhóm cá nhân hoặc của một tổ chức làm giám định, không đáp ứng được yêu cầu về thời hạn điều tra, nhiều vụ án phải tạm đình chỉ điều tra hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn, do chưa có kết luận giám định.

Chất lượng kết luận giám định trong một số trường hợp chưa bảo đảm, còn chung chung, không trả lời cụ thể câu hỏi mà cơ quan trưng cầu đặt ra, không khẳng định rõ đúng, sai, còn có dấu hiệu “né tránh” khiến cho các cơ quan tiến hành tố tụng khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án.

Người giám định trong nhiều trường hợp không hợp tác, “né tránh” việc tham gia tố tụng để giải thích, trình bày kết quả giám định tại phiên tòa trong trường hợp cần thiết ở một số vụ án lớn, nhất là án tham nhũng, kinh tế, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đánh giá kết luận giám định trong quá trình tranh tụng.

Về định giá tài sản, đối với trường hợp tài sản cần định giá mà bị thất lạc, hoặc không còn tài sản và không có vật cùng loại, tương tự để so sánh, đối chiếu, nên việc giải quyết vụ việc gặp khó khăn hoặc có tình trạng Hội đồng định giá tài sản (ở trung ương và địa phương) từ chối trực tiếp định giá, mà yêu cầu cơ quan điều tra thuê các công ty tư vấn định giá thẩm định giá tài sản theo cơ chế tài chính của doanh nghiệp, mọi chi phí đều được hạch toán vào giá thành nên chi phí định giá rất cao, dẫn đến thời hạn điều tra vụ án bị kéo dài, thậm chí phải tạm đình chỉ điều tra vụ án.

Về chi trả chi phí giám định, tiền bồi dưỡng giám định, định giá tài sản trong tố tụng hình sự và tham dự phiên tòa của người giám định, về cơ bản tình trạng nợ đọng tiền bồi dưỡng giám định tư pháp đã được khắc phục, tuy nhiên, một số cơ quan điều tra địa phương và trung ương vẫn chưa chi trả kịp thời, đầy đủ tiền bồi dưỡng giám định tư pháp. Việc chi trả chi phí giám định tư pháp và định giá tài sản trong tố tụng hình sự chưa được bảo đảm, chưa được hướng dẫn, gây khó khăn, vướng mắc cho cả bên trưng cầu và bên thực hiện giám định.

Mặc dù đã có quy định về chế độ bồi dưỡng tham dự phiên tòa và các chi phí cần thiết tham dự phiên tòa (đi lại, lưu trú…) cho người giám định tư pháp theo Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với người tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự, nhưng các Tòa án không thực hiện việc chi trả này, khiến cho các cơ quan, người thực hiện giám định gặp rất nhiều khó khăn.

Về việc đánh giá, sử dụng kết luận giám định, theo quy định của pháp luật tố tụng thì kết luận giám định chỉ là một nguồn chứng cứ được xem xét, đánh giá cùng với các chứng cứ khác để xác định sự thật trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, nhiều cơ quan tiến hành tố tụng còn lúng túng, thiếu những kiến thức cần thiết về lĩnh vực có yêu cầu giám định trong việc đánh giá, sử dụng kết luận giám định trong trường hợp có nhiều bản kết luận giám định khác nhau về cùng một vấn đề.

2.4. Về quản lý giám định tư pháp

Quản lý về giám định tư pháp thuộc trách nhiệm của nhiều Bộ, ngành, địa phương, trong đó, Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp giữ vai trò đầu mối, đã có nhiều tích cực, chủ động và đạt được kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, công tác này mới tập trung chủ yếu ở việc xây dựng chính sách và ban hành thể chế; đầu mối phối hợp, công tác theo dõi, nắm bắt tình hình còn hạn chế, cũng như còn thiếu sự quyết liệt trong đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý nhà nước về hoạt động giám định. Nhiều Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa thực sự quan tâm và thực hiện hết trách nhiệm của mình trong công tác quản lý nhà nước về giám định tư pháp trong phạm vi lĩnh vực mình phụ trách, chưa quan tâm, chăm lo đến công tác giám định tư pháp ở lĩnh vực thuộc thẩm quyền; nhiều vướng mắc, khó khăn tồn tại trong thời gian dài chưa được giải quyết...

Việc bổ nhiệm giám định viên tư pháp, lập danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc của các Bộ, ngành và địa phương còn mang tính thụ động, hình thức, chưa gắn kết và bắt nguồn từ nhu cầu của thực tiễn hoạt động tố tụng. Việc quản lý các giám định viên trong các lĩnh vực văn hóa, tài chính, xây dựng, ngân hàng... không thuộc tổ chức giám định tư pháp còn lỏng lẻo, chưa được quan tâm đầy đủ.

Các cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa thực sự quan tâm thực hiện trách nhiệm đối với công tác giám định tư pháp, nên vẫn chưa chú trọng, ban hành quy định về chế độ thống kê, đánh giá, dự báo nhu cầu giám định, đánh giá, sử dụng kết luận giám định để cung cấp các thông tin về hoạt động giám định cho các cơ quan quản lý, cũng như chưa chủ động đề xuất, phối hợp với các cơ quan quản lý giải quyết những vướng mắc, khó khăn về giám định trong hoạt động tố tụng.

Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động giám định tư pháp trong thời gian qua còn chưa được nhiều Bộ, ngành chủ quản và địa phương quan tâm, thực hiện thường xuyên và chất lượng. Nhiều vụ việc giám định có dấu hiệu sai phạm, có khiếu kiện nhưng chưa được các Bộ, ngành chuyên môn và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quan tâm, kiểm tra, thanh tra để chấn chỉnh, uốn nắn kịp thời.

3. Một số giải pháp

Để khắc phục tình trạng trên, theo tác giả cần thực hiện các biện pháp bảo đảm hiệu quả, chất lượng giám định tư pháp sau:

Chú trọng tăng cường công tác phổ biến, quán triệt về nhiệm vụ của các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan về giám định tư pháp.

Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra các Bộ, ngành chủ quản, cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan có liên quan thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nhiệm cụ được giao theo kế hoạch triển khai Luật Giám định tư pháp năm 2012, các kết luận của Ban Chỉ đạo Đề án 258 tại các phiên họp, đặc biệt về xử lý những vướng mắc, khó khăn đối với giám định tư pháp trong giải quyết án tham nhũng, kinh tế, nhất là các nội dung như:

- Củng cố, phát triển, bảo đảm số lượng và chất lượng đội ngũ tổ chức, người giám định tư pháp ở các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, tài nguyên và môi trường, kế hoạch và đầu tư...; cải cách việc lựa chọn, cử tổ chức, người làm giám định ở các lĩnh vực này bảo đảm đáp ứng kịp thời, chất lượng yêu cầu của hoạt động tố tụng.

- Xây dựng và ban hành quy trình giám định chuẩn ở từng lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, tài nguyên và môi trường… trong đó xác định rõ quy trình, phương pháp, phương tiện giám định và đặc biệt là thời gian giám định đối với từng loại việc giám định ở các lĩnh vực giám định; hướng dẫn về chi phí giám định ở các lĩnh vực này.

- Bảo đảm nguồn kinh phí chi trả chi phí giám định cũng như giải quyết vướng mắc về trình tự, thủ tục, hồ sơ thanh toán chi phí giám định tư pháp; rà soát, thống kê và có phương án cấp bổ sung kinh phí để thanh quyết toán, chi trả cho hết số nợ chi phí giám định, tiền bồi dưỡng giám định kéo dài nhiều năm nay; lập mục chi ngân sách riêng về kinh phí chi trả chi phí giám định tư pháp cho các cơ quan điều tra.

- Có hướng dẫn cụ thể căn cứ, cách thức trưng cầu các tổ chức, cá nhân có năng lực làm giám định và bảo đảm tính độc lập, khách quan của hoạt động giám định; hướng dẫn về việc xem xét, đánh giá và sử dụng kết luận giám định trong hoạt động tố tụng để bảo đảm việc giải quyết các vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật.

- Xác lập, duy trì cơ chế thông tin, phối hợp giữa các Bộ, ngành, nhất là quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trưng cầu và các cơ quan, tổ chức thực hiện giám định; giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành quản lý giám định tư pháp, trong đó xác định rõ nội dung, cách thức, cơ chế phối hợp cho phù hợp với tính chất đặc thù của giám định tư pháp.

- Tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương trong việc bồi dưỡng kiến thức pháp lý, nghiệp vụ giám định cho đội ngũ người làm giám định tư pháp để nâng cao năng lực giám định của những người này.

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra tình hình tổ chức, hoạt động và quản lý giám định tư pháp ở các Bộ, ngành và địa phương.

Nguyễn Thị Thụy

Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

1. Văn phòng Giám định tư pháp Sài Gòn.

2. Thời điểm Luật Giám định tư pháp năm 2012 thực hiện được 1 năm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: